Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 18/09/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 18/09/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 16/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc Công ty J phải trả cho Công ty M1 số tiền là 3.848.501,24 USD (Ba triệu, tám trăm bốn mươi tám nghìn, năm trăm lẻ một Đô la Mỹ và hai mươi tư cent) phát sinh từ các giao dịch, hợp đồng giữa hai bên, tương đương 101.511.917.207đ (một trăm lẻ một tỷ, năm trăm mười một triệu, chín trăm mười bảy nghìn, hai trăm lẻ bảy Việt Nam đồng); Buộc Công ty J thanh toán tiền lãi chậm thanh toán tạm tính từ ngày 13/03/2025 (ngày đơn hàng cuối) đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất theo quy định tại các Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự và Điều 306 Luật thương mại (mức lãi suất nợ lãi là 10%/năm) và còn phải tiếp tục chịu lãi tới thời điểm thanh toán hết toàn bộ số tiền nợ gốc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 16/2026/KDTM-PT Bản án số 16/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 16/2026/KDTM-PT Bản án số 16/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 16/2026/KDTM-PT
Ngày 18 - 9 - 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Huy Lưỡng.
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Quốc Trưởng
Ông Nguyễn Thành Công
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh
Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thu Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2026/TLPT-KDTM ngày 15 tháng 7
năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2026/KDTM-ST ngày 15
tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2026/QĐ-PT ngày 19 tháng 8
năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2026/QĐ-PT ngày 08 tháng 9 năm
2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH M1 (sau đây viết tắt là Công ty M1); trụ sở
chính: Tòa nhà số C (4-1) (4-2) C104, số A, đường T, quận N, thành phố N, tỉnh
Chiết Giang, Trung Quốc.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Lê Đức K sinh năm 1991; số
định danh cá nhân: ************81 và ông Lê Huy C sinh năm 1995; số định
danh cá nhân: ************; địa chỉ liên hệ: số H ngõ G, phường H, thành phố
Hà Nội là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền được hợp pháp hóa
lãnh sự 609/HPHS 2025 ngày 05/9/2025 của T tại Hồ N, văn bản ủy quyền số
10/UQ/2025 ngày 20 - 8 - 2025 và văn bản uỷ quyền lại ngày 28-10-2025):
2. Bị đơn: Công ty TNHH J (sau đây viết tắt là Công ty J); trụ sở: Khu công
nghiệp Đ, phường Đ, tỉnh Ninh Bình.
2
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: bà Trần Thị Thanh B, sinh năm 1981;
số định danh cá nhân ************; địa chỉ; số A, đường T, phường P, tỉnh Ninh
Bình là người đại diện theo ủy quyền (văn bản uỷ quyền số 02/UQ-JYVN ngày
27 - 11 - 2025).
3. Người tham gia tố tụng khác:
- Người đại diện theo pháp luật Công ty M1: ông HU SHAO PENG, số hộ
chiếu (PASSPORT) E********. Người phiên dịch cho người đại diện theo pháp
luật của nguyên đơn ông HU SHAO PENG: Bà Nguyễn Thị Thanh H sinh năm
1982; số định danh cá nhân: ************ - Cử nhân ngôn ngữ Trung Quốc -
Công ty TNHH T1; địa chỉ: Số H đường C, phường C, thành phố Hà Nội;
- Người đại diện theo pháp luật Công ty L: ông Nguyễn Tiến Q - Giám
đốcCông ty Luật TNHH L.
4. Người kháng cáo: bị đơn, Công ty TNHH J.
Tại phiên toà có mặt: Ông HU SHAO PENG; bà Nguyễn Thị Thanh H; ông
Lê Huy C; ông Lê Đức K; bà Trần Thị Thanh B; ông Nguyễn Tiến Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người đại
diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn trình bày:
Công ty M1 và Công ty J đã thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa là các
linh kiện điện tử để sản xuất sản phẩm điện tử. Do đã là đối tác lâu năm, các bên
không ký kết hợp đồng mà thực hiện theo quy trình sau:
Công CUSTOM NAM gửi đơn đặt hàng qua email, điện thoại, các mạng
xã hội, ứng dụng liên hệ trực tuyến (không đặt hàng bằng hình thức văn bản có
ký đóng dấu);
Khi nhận được đơn đặt hàng, Công ty M1 sẽ xác nhận đơn hàng qua các
phương thức trao đổi giữa các bên, thực hiện chuẩn bị, đóng gói hàng hóa, giao
hàng bằng phương thức CIF cho Công ty J tại cảng đến;
Công ty M1 sẽ chuẩn bị các giấy tờ bao gồm tờ khai hải quan hàng hóa xuất
khẩu, vận đơn đường biển, hóa đơn thương mại của từng đơn hàng.
Công CUSTOM NAM nhận hàng tại cảng đến, lấy vận đơn và các chứng
từ liên quan đến tiền hàng. Việc Công CUSTOM NAM nhận hàng tại cảng đến
được xác định là Công ty M1 đã hoàn thành đơn hàng tương ứng. C2 có nghĩa vụ
thanh toán cho Công ty M1 với đơn hàng giao thành công.
Trong suốt quá trình thực hiện các giao dịch mua bán, hai bên không có khiếu
nại về số lượng, chất lượng hàng hóa.
Ngày 20/08/2025, Công ty J xác nhận công nợ với Công ty M1 cụ thể:
3
Từ ngày 05/05/2022 đến ngày 13/03/2025, Công ty M1 đã cung cấp hàng
hóa cho Công ty J với tổng giá trị là 6.915.063,72 USD (Sáu triệu, chín trăm mười
lăm nghìn, không trăm sáu mươi ba Đô la Mỹ và bảy mươi hai cent);
Trong giai đoạn trên, Công ty J đã nhiều lần thanh toán cho Công ty M1 với
tổng giá trị là 3.066.562,48 USD (Ba triệu, không trăm sáu mươi sáu nghìn, năm
trăm sáu mươi hai Đô la M và bốn mươi tám cent);
Lần thanh toán cuối cùng của Công ty J vào ngày 03/01/2025.
Tổng số nợ mà C2 còn phải thanh toán cho Công ty M1 là 3.848.501,24 USD
(Ba triệu, tám trăm bốn mươi tám nghìn, năm trăm lẻ một Đô la Mỹ và hai mươi
tư cent).
(Biên bản đối chiếu công nợ trên được người đại diện ký, đóng dấu của Công
ty J ngày 14/10/2025).
Mặc dù đã nhiều lần yêu cầu đòi nợ nhưng C1 CUSTOM NAM không thanh
toán, gây thiệt hại về tài chính cho Công ty M1, vì thế nguyên đơn đề nghị Toà án
giải quyết:
Buộc Công ty J phải thanh toán Công ty M1 số tiền là 3.848.501,24 USD
(Ba triệu, tám trăm bốn mươi tám nghìn, năm trăm lẻ một Đô la Mỹ và hai mươi
tư cent) phát sinh từ các giao dịch, hợp đồng giữa hai bên, tương đương
101.511.917.207đ (Một trăm lẻ một tỷ, năm trăm mười một triệu, chín trăm mười
bảy nghìn, hai trăm lẻ bảy Việt Nam đồng);
Buộc Công ty J thanh toán tiền lãi chậm thanh toán tạm tính từ ngày
13/03/2025 (Ngày đơn hàng cuối) đến ngày xét xử 15/5/2026 với lãi suất theo quy
định tại các Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự và Điều 306 Luật thương mại (mức
lãi suất nợ lãi là 10%/năm) và còn phải tiếp tục chịu lãi tới thời điểm thanh toán
hết toàn bộ số tiền nợ gốc.
Tại phiên tòa sơ thẩm: người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn là ông
HU SHAO PENG có quan điểm thừa nhận Công ty M1 đã uỷ quyền cho Công ty
L thực hiện quyền khởi kiện vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng với Công
CUSTOM NAM; tại phiên toà Công ty M1 giữ nguyên việc uỷ quyền cho ty
Luật TNHH L. Nguyên đơn và người đại diện thay đổi một phần yêu cầu khởi
kiện về việc tính lãi, cụ thể: Buộc Công ty J NAM thanh toán tiền lãi chậm thanh
toán tính từ ngày 14/03/2025 (ngày đơn hàng cuối) đến ngày xét xử sơ thẩm
15/5/2026 với lãi suất theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại (mức lãi suất
vay USD (đô la Mỹ) và còn phải tiếp tục chịu lãi theo quy định của pháp luật tới
thời điểm thanh toán hết toàn bộ số tiền nợ gốc.
Ý kiến của bị đơn về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về việc mua bán hàng hóa: Do có quan hệ bạn hàng lâu năm, để có nguyên
liệu sản xuất linh kiện điện tử, Công ty J đã gửi đơn đặt hàng đến Công ty M1.
Các bên không có ký hợp đồng bằng văn bản mà thỏa thuận đặt hàng thông qua
nhiều phương thức khác nhau như gửi email, điện thoại, ứng dụng liên hệ trực
4
tuyến. Khi nhận được đơn đặt hàng, Công ty M1 sẽ xác nhận đơn đặt hàng thông
qua các phương thức đặt hàng trao đổi giữa hai bên, thực hiện chuẩn bị đóng gói
hàng hóa và gửi hàng cho Công ty J bằng nhiều phương thức khác nhau như CIF,
ExW, FCA, FOB tại cảng đến. Công ty M1 sẽ xuất hóa đơn thương mại bằng cách
gửi file excel hoặc file pdf chứ không gửi bản cứng cho Công ty J theo địa chỉ
Khu Công nghiệp Đ, phường Đ, Thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là phường Đ, tỉnh
Ninh Bình). Khi hàng hóa về tới cảng H, cửa khẩu H1 - Lạng Sơn hoặc sân bay
N, Công ty J tiến hành khai hải quan và nhận hàng. Nguyên liệu sản xuất linh
kiện điện tử là các móc/quai/vòng kẹp hình chữ U, cầu đầu dây, khung màn chắn,
đĩa phủ, nam châm, nắp chống bụi... Các bên không có thỏa thuận cụ thể về thời
gian thanh toán. Công ty J thực hiện thanh toán dần cho các đơn hàng trước, thông
thường là sau khoảng thời gian 90 ngày kể từ ngày nhận được hàng hoá, Công ty
J bán được sản phẩm, được thanh toán thì Công ty J mới có thể thanh toán lại cho
Công ty M1. Việc thanh toán được thực hiện bằng tiền ngoại tệ (đô la Mỹ) thông
qua chuyển khoản. Các bên cũng không có bất cứ thỏa thuận nào về trả lãi cho
việc thanh toán chậm. Các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng đối với quan
hệ mua bán giao dịch giữa hai bên cũng như cơ quan có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp. Quá trình đặt hàng giao dịch diễn ra từ nhiều năm nay và hai bên đều
thực hiện rất nghiêm túc, thiện chí đối với các đơn hàng đã giao dịch. Tuy nhiên,
từ giữa năm 2023 đến nay, việc sản xuất kinh doanh của Công ty J gặp nhiều khó
khăn, thua lỗ nhiều. Công ty mẹ của Công ty J ở Hàn Quốc cũng đang gặp khó
khăn phải yêu cầu Tòa án cho phép tái cơ cấu nợ, hoạt động dưới sự giám sát để
bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm phục hồi khả năng thanh toán,
không có tiền để tiếp tục đầu tư vào sản xuất cho Công ty J. Do vậy, việc thanh
toán các khoản công nợ của Công ty J cho Công ty M1 gặp nhiều khó khăn. Công
ty J và Công ty M1 đã nhiều lần trao đổi, bàn bạc về phương án thanh toán khoản
công nợ giữa hai bên thông qua việc chuyển nhượng dự án của Công ty J cho
Công ty M1 nhưng chưa đạt được sự đồng thuận.
Ngày 14/10/2025, ty L cử người đến Công ty J gửi văn bản và đề nghị ký
xác nhận công nợ. Trên cơ sở văn bản này, Công ty J đã ký vào Biên bản xác nhận
công nợ. Theo biên bản này, tính đến ngày 20/8/2025, tổng giá trị hàng hóa mà
nguyên đơn bán cho bị đơn trong giai đoạn từ ngày 05/05/2022 đến ngày
20/8/2025 là 6.915.063,72 USD (Sáu triệu chín trăm mười năm nghìn không trăm
sáu ba đô la Mỹ và bảy mươi hai cent). Tổng giá trị mà bị đơn đã thanh toán cho
nguyên đơn là 3.066.562,48 USD (Ba triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn năm
trăm sáu mươi hai đô la Mỹ và bốn mươi tám cent). Bị đơn còn phải thanh toán
cho nguyên đơn số tiền 3.848.501,24 USD (Ba triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn
năm trăm lẻ một đô la Mỹ và hai mươi tư cent).
Nay nguyên đơn khởi kiện thì bị đơn có quan điểm như sau:
Công CUSTOM NAM xác định đến thời điểm hiện nay còn nợ khoản tiền
chưa thanh toán cho Công ty M1 TANCY trong giai đoạn từ ngày 05/05/2022 đến
ngày 20/8/2025 là 3.848.501,24 USD (Ba triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn năm
trăm lẻ một đô la Mỹ và hai mươi tư cent) như trong Biên bản xác nhận công nợ
5
mà hai bên đã ký ngày 14/10/2025. Tuy nhiên, tình hình sản xuất kinh doanh của
Công CUSTOM NAM đang gặp rất nhiều khó khăn. Từ tháng 4/2025 đến nay,
Công CUSTOM NAM đã phải dừng sản xuất. Vì vậy, Công CUSTOM NAM
đề nghị được thanh toán chậm, làm nhiều đợt khoản nợ gốc tiền hàng này. Công
CUSTOM NAM đang nỗ lực, cố gắng tìm kiếm giải pháp để có nguồn tiền thanh
toán cho các đơn hàng còn nợ.
Về khoản tiền lãi, Công CUSTOM NAM không đồng ý với yêu cầu của
nguyên đơn về việc thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán tính từ ngày
13/03/2025. Bởi lẽ, giữa Công ty J và Công ty M1 không có thỏa thuận về thời
điểm thanh toán mua hàng cụ thể. Hơn nữa, ngày 14/10/2025, Công ty J và Công
ty M1 mới ký biên bản xác nhận công nợ. Đây là biên bản công nợ duy nhất từ
khi giao dịch mua bán đến nay mà hai công ty ký xác nhận với nhau. Quá trình
nợ tiền hàng, Công ty M1 chưa bao giờ có văn bản chính thức gửi Công CUSTOM
NAM yêu cầu đòi thanh toán tiền hàng.
Về những nội dung khác: Giao dịch mua bán giữa Công ty J và Công ty M1
đã diễn ra trong một thời gian rất dài. Đây là việc mua bán hàng quốc tế. Giữa các
bên không có hợp đồng bằng văn bản cụ thể mà chỉ giao dịch thông qua các đơn
đặt hàng. Trong suốt thời gian giao dịch giữa hai bên, Công ty J chưa bao giờ
nhận được bất cứ văn bản chính thức nào từ phía Công ty M1 yêu cầu Công ty J
thanh toán tiền hàng. Theo quy định pháp luật, thời hiệu yêu cầu khởi kiện đối với
nhiều đợt thanh toán tiền hàng đã hết. Vì vậy, Công CUSTOM NAM đề nghị
Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với những đơn hàng đã hết thời hiệu khởi
kiện. Đây là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các bên không có thỏa thuận
chọn luật áp dụng. Các tài liệu về hợp pháp hóa lãnh sự có trong hồ sơ vụ án chưa
đảm bảo độ tin cậy và hợp pháp theo quy định.
Bị đơn không có yêu cầu phản tố gì và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy
định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm: người đại diện của bị đơn cho rằng thủ tục uỷ quyền
của Công ty M1 cho ty L là chưa đảm bảo vì vậy bị đơn đề nghị HĐXX đình chỉ
giải quyết vụ án; về lãi suất nguyên đơn yêu cầu là không đúng, đề nghị giải quyết
theo pháp luật.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2026/KDTM-ST ngày 15
tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đã quyết định:
Áp dụng:
- Điều 30; 35; 39; 147; 244; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 5, Điều 24; Điều 50; Điều 55; Điều 306; Điều 319 Luật thương mại;
- Điều 7 Pháp lệnh ngoại hối;
- Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có hiệu
lực tại Trung Quốc từ năm 1988 và có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/01/2017.
6
- Nghị quyết 01/2025/NQ - HĐTP ngày 27/6/2025 hướng dẫn áp dụng một
số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân
dân
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty TNHH
M1 đối với Bị đơn Công ty TNHH J về việc thanh toán số tiền còn nợ theo các
Đơn hàng mua bán giữa hai bên. Theo đó:
1.1. Buộc Công ty TNHH J phải thanh toán cho Công ty TNHH M1 TANCY
toàn bộ số tiền nợ gốc chưa thanh toán tính đến ngày 15/5/2026 là: 3.848.501,24
USD (Ba triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn năm trăm lẻ một đô la Mỹ và hai
mươi tư cent) tương đương với quy đổi VNĐ (ngày 15/5/2026) là
100.665.246.934đ.
1.2. Buộc Công ty TNHH J phải thanh toán cho Công ty TNHH M1 số tiền
nợ lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán (là 3.848.501,24 USD) tính từ ngày
14/3/2025 đến ngày 15/5/2026 là: 370.307,53USD, quy đổi tương đương với VNĐ
tại ngày 15/5/2026 là 9.686.134.167VNĐ.
2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường
tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn Công ty TNHH J phải nộp:
218.351.000đ.
Trả lại cho Nguyên đơn Công ty TNHH M1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là
107.000.000đ (Một trăm linh bảy triệu đồng) theo biên lai số 0002384 ngày
29/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
4. Bác các yêu cầu khác của các đương sự.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành
án cho các đương sự.
Ngày 25-5-2026, Công ty J là bị đơn trong vụ án kháng cáo toàn bộ Bản án
kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2026/KDTM-ST ngày 15 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét
xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
7
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án; nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vẫn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến: Về tố tụng Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết
vụ án ở cấp phúc thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm đã thực hiện đúng quy
định của pháp luật. Về nội dung kháng cáo: Kiểm sát viên tham gia phiên toà đã
phân tích các tình tiết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, Điều 308
Bộ luật Tố tụng dân sự xử, sửa bản án sơ thẩm 02/2026/KDTM-ST ngày 15 tháng
5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình theo hướng: Xác định lại
thời điểm tính lãi chậm trả từ 15/10/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm 15/5/2026; xác
định lại mức lãi suất nợ quá hạn bằng đồng USD tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo
quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự. Về án phí kinh doanh thương
mại phúc thẩm, đương sự không phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của Công ty J làm trong thời hạn luật định phù hợp với
quy định tại khoản 1 Điều 272; khoản 1 Điều 273; Điều 276 Bộ luật Tố tụng Dân
sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết.
[2] Các đương sự đều thống nhất thừa nhận:
Công ty J và Công ty M1 có quan hệ bạn hàng lâu năm, để có nguyên liệu
sản xuất linh kiện điện tử, Công ty J sản xuất linh kiện điện tử là các
móc/quai/vòng kẹp hình chữ U, cầu đầu dây, khung màn chắn, đĩa phủ, nam châm,
nắp chống bụi... của Công ty M1. Các bên không ký hợp đồng bằng văn bản mà
thỏa thuận đặt hàng thông qua nhiều phương thức khác nhau như gửi email, điện
thoại, ứng dụng liên hệ trực tuyến. Khi nhận được đơn đặt hàng, Công ty M1 sẽ
xác nhận đơn đặt hàng thông qua các phương thức đặt hàng trao đổi giữa hai bên,
thực hiện chuẩn bị đóng gói hàng hóa và gửi hàng cho Công ty J bằng nhiều
phương thức khác nhau như CIF, , FCA, FOB tại cảng đến ở Việt Nam. Công ty
M1 sẽ xuất hóa đơn thương mại bằng cách gửi file excel hoặc file pdf chứ không
gửi bản cứng cho Công ty J theo địa chỉ Khu Công nghiệp Đ, phường Đ, Thị xã
D, tỉnh Hà Nam (nay là phường Đ, tỉnh Ninh Bình). Khi hàng hóa về tới cảng H,
cửa khẩu H1 - Lạng Sơn hoặc sân bay N, Công ty J tiến hành khai hải quan và
nhận hàng. Các bên không có thỏa thuận cụ thể về thời gian thanh toán. Trong
suốt quá trình thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa, hai bên không có khiếu
nại về số lượng, chất lượng hàng hóa.
Từ ngày 05/05/2022 đến ngày 20/8/2025, Công ty M1 đã cung cấp hàng hóa
cho Công ty J với tổng giá trị là 6.915.063,72 USD (Sáu triệu, chín trăm mười
lăm nghìn, không trăm sáu mươi ba Đô la Mỹ và bảy mươi hai cent). C2 đã nhiều
lần thanh toán cho Công ty M1 với tổng giá trị là 3.066.562,48 USD (Ba triệu,
không trăm sáu mươi sáu nghìn, năm trăm sáu mươi hai Đô la Mỹ và bốn mươi
tám cent). Lần thanh toán cuối cùng của Công ty J vào ngày 03/01/2025.
8
[3] Theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 14/10/2025 được người đại diện
của Công ty J ký, đóng dấu đã xác nhận tổng số nợ mà Công ty J còn phải thanh
toán cho Công ty M1 là 3.848.501,24 USD (Ba triệu, tám trăm bốn mươi tám
nghìn, năm trăm lẻ một Đô la Mỹ và hai mươi tư cent).
[4] Như vậy, đến ngày 20/8/2025 các bên đã chấm dứt việc thực hiện hợp
đồng. Ngày 14/10/2025 Công ty J đã xác định nghĩa vụ phải trả cho Công ty M1
theo các hóa đơn thương mại là 3.848.501,24 USD (Ba triệu, tám trăm bốn mươi
tám nghìn, năm trăm lẻ một Đô la Mỹ và hai mươi tư cent), tức là các bên không
tranh chấp hợp đồng nữa.
[5] Theo đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung ngày 23/9/2025 và tại phiên tòa sơ
thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc Công ty J phải trả cho Công ty M1 số tiền
là 3.848.501,24 USD (Ba triệu, tám trăm bốn mươi tám nghìn, năm trăm lẻ một
Đô la Mỹ và hai mươi tư cent) phát sinh từ các giao dịch, hợp đồng giữa hai bên,
tương đương 101.511.917.207đ (một trăm lẻ một tỷ, năm trăm mười một triệu,
chín trăm mười bảy nghìn, hai trăm lẻ bảy Việt Nam đồng); Buộc Công ty J thanh
toán tiền lãi chậm thanh toán tạm tính từ ngày 13/03/2025 (ngày đơn hàng cuối)
đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất theo quy định tại các Điều 357, Điều 468 Bộ
luật dân sự và Điều 306 Luật thương mại (mức lãi suất nợ lãi là 10%/năm) và còn
phải tiếp tục chịu lãi tới thời điểm thanh toán hết toàn bộ số tiền nợ gốc. Tòa án
cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về kinh doanh thương mại
“Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” là không đúng. Tình tiết này tương tự
tình huống án lệ số 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản
được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 24 tháng 12
năm 2025 và được công bố theo Quyết định số 339a/QĐ-CA ngày 25 tháng 12
năm 2025 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác
định lại quan hệ pháp luật là tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản theo Điều 26 Bộ
luật Tố tụng dân sự và áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự để giải quyết
quyền và nghĩa vụ của các bên theo đúng bản chất của giao dịch là phù hợp với
các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[6] Sau khi xác định lại quan hệ pháp luật thì quan hệ pháp luật mới không
làm thay đổi thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, đúng với bản chất của
tranh chấp thuộc quan hệ pháp luật về nghĩa vụ dân sự. Việc Hội đồng xét xử phúc
thẩm xác định lại quan hệ pháp luật không làm ảnh hưởng đến việc thu thập chứng
cứ, không làm hạn chế quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự.
[7] Mặt khác, Công CUSTOM NAM đã xác định khoản tiền chưa thanh
toán cho Công ty M1 là 3.848.501,24 USD (Ba triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn
năm trăm lẻ một đô la Mỹ và hai mươi tư cent) như trong Biên bản xác nhận công
nợ mà hai bên đã ký ngày 14/10/2025. Từ tháng 4/2025 đến nay, Công CUSTOM
NAM đã phải dừng sản xuất. C2 đề nghị được thanh toán chậm, làm nhiều đợt
khoản nợ gốc tiền hàng này. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu nguyên
đơn buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 3.848.501,24 USD (Ba
triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn năm trăm lẻ một đô la Mỹ và hai mươi tư cent)
là có cơ sở.
9
[8] Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn về việc xác định thời điểm tính
lãi chậm thanh toán.
Biên bản đối chiếu công nợ ngày 14/10/2025 các bên không thoả thuận về
thời hạn thanh toán cũng như lãi suất chậm trả. Do đó, cần xác định thời gian tính
lãi chậm trả bắt đầu từ ngày 15/10/2025 (ngày tiếp theo của ngày ký biên bản) đến
ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ
luật Dân sự và điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày
11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy,
cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn sửa bản án sơ thẩm về phần lãi suất
chậm trả và thời gian tính lãi chậm trả để đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Cụ thể: Thời gian chậm thanh toán là từ ngày 15/10/2025 đến ngày tuyên án sơ
thẩm là 15/5/2026 là 213 ngày. Khoản tiền lãi chậm trả được xác định:
3.848.501,24 USD x 10%/năm x (213/365) ngày = 224.583,77 USD.
[9] Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn nội dung ủy quyền của nguyên
đơn trong quá trình giải quyết vụ án:
Công ty M1 đã uỷ quyền cho ty L, văn bản uỷ quyền được người đại diện
theo pháp luật của nguyên đơn lập bằng hai ngôn ngữ, tiếng Anh và tiếng Việt;
nội dung uỷ quyền được lập bằng tiếng Việt đã được đóng dấu giáp lai của Công
ty M1, được người đại diện theo pháp luật của Công ty M1 ký, đóng dấu; được
hợp pháp hoá lãnh sự theo đúng quy định. Sau khi có ý kiến của bị đơn thì nguyên
đơn đã có văn bản giải trình, được hợp pháp hoá lãnh sự. Tại văn bản giải trình
người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn khẳng định nguyên đơn đã uỷ quyền
cho ty L. Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn
ông HU SHAO PENG đã xác nhận nội dung uỷ quyền cho Công ty L và giữ
nguyên việc uỷ quyền cho ty L như nội dung văn bản ủy quyền được hợp pháp
hóa lãnh sự 609/HPHS 2025 ngày 05/9/2025 của T tại Hồ N.
Như vậy, việc uỷ quyền của Công ty M1 TANCY cho ty Luật TNHH Phú
Quý là đúng quy định của pháp luật và có hiệu lực. Nội dung kháng cáo của bị
đơn cho rằng việc uỷ quyền của Công ty M1 cho ty L là không đúng quy định và
đề nghị đình chỉ giải quyết vụ án là không có cơ sở nên không được chấp nhận.
[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp
nhận một phần nên người kháng cáo không phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Án lệ số
81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản được Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 24 tháng 12 năm 2025 và được công
bố theo Quyết định số 339a/QĐ-CA ngày 25 tháng 12 năm 2025 của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao: Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn
10
Công ty J. Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2026/KDTM-ST
ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.
2. Căn cứ: các Điều 53, 54, 58, 78 Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế có hiệu lực tại Trung Quốc từ năm 1988 và có hiệu
lực tại Việt Nam từ ngày 01/01/2017; các Điều 357, 468, 663, 664, 665 Bộ luật
Dân sự của N; các Điều 464, 465, 467, 468, 469 Bộ luật Tố tụng dân sự của N;
điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01
năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 7 Pháp lệnh Ngoại hối của N; Nghị quyết
01/2025/NQ - HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hướng dẫn áp dụng một số
quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
2.1. Buộc Công ty TNHH J phải trả cho Công ty TNHH M1 số tiền:
3.848.501,24 USD (Ba triệu tám trăm bốn mươi nghìn năm trăm lẻ một đô la Mỹ
và hai mươi tư cent) tương đương với quy đổi VNĐ (ngày xét xử sơ thẩm
15/5/2026 Ngân hàng N1 công bố tỷ giá trung tâm giữa đồng Việt Nam và Đô
la Mỹ là 25.131 đồng/USD) là 96.716.684.662 đ chín mươi sáu tỷ bảy trăm mười
sáu triệu sáu trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm sáu mươi hai đồng).
2.2. Buộc Công ty TNHH J phải trả cho Công ty TNHH M1 số tiền chậm
trả trên số tiền phải trả (là 3.848.501,24 USD) tính từ ngày 15/10/2025 đến ngày
15/5/2026 là: 224.583,77 USD, quy đổi tương đương với VNĐ (ngày xét xử sơ
thẩm 15/5/2026 Ngân hàng N1 công bố tỷ giá trung tâm giữa đồng Việt Nam và
Đô la Mỹ là 25.131 đồng/USD) là 5.644.014.725 đ Năm tỷ sáu trăm bốn mươi
bốn triệu không trăm mười bốn nghìn bảy trăm hai mươi lăm đồng).
2.3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án
cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, Điều
468 Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Về án kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn Công ty TNHH J phải
nộp 210.360.699 đ Hai trăm mười triệu ba trăm sáu mươi nghìn sáu trăm chín
mươi chín đồng).
Trả lại cho nguyên đơn Công ty TNHH M1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp
là 107.000.000đ (Một trăm linh bảy triệu Việt Nam đồng) theo biên lai số
0002384 ngày 29/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
4. Về án phí phúc thẩm: Công ty TNHH J không phải chịu án phí kinh doanh
thương mại phúc thẩm.
11
Trả lại khoản tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000 đ (hai triệu Việt
Nam đồng) mà Công ty TNHH J đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Toà án số 0001582 ngày 02/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được
thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành
án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền
yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy
định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 34, Điều 36, Điều 71 và Điều 72 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo khoản 2 Điều 34
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao (1);
- Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình (1);
- Viện kiểm sát tỉnh Ninh Bình (2);
- THADS tỉnh Ninh Bình (1);
- Các đương sự (2);
- Phòng GĐ, KTr, TTr-THA (1);
- Phòng TCCB (1);
- Lưu VT, TDS, hồ sơ vụ án (3).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Huy Lưỡng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 16/2026/KDTM-PT Bản án số 16/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 16/2026/KDTM-PT Bản án số 16/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất