Bản án số 836/2026/DS-PT ngày 18/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 836/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 836/2026/DS-PT ngày 18/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 836/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Cụ T yêu cầu bà V trả đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 836/2026/DS-PT Bản án số 836/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 836/2026/DS-PT Bản án số 836/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH L Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 836/2026/DS-PT
Ngày: 18/9/2026
V/v Tranh chấp hợp đồng tặng cho,
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
hợp đồng đặt cọc và quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Triệu Hữu
Các Thẩm phán: Bà Đặng Thị Ánh Bình
Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thảo – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân
dân tỉnh Vĩnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn
Thị Minh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh L xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 440/2026/TLPT – DS ngày 08/7/2026 về việc
“Tranh chấp hợp đồng tặng cho, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp
đồng đặt cọc và quyền sử dụng đất” .
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2026/ DS -ST ngày 05 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh L bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 724/2026/QĐ-PT ngày 27
tháng 7 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 876/2026/QĐ-PT ngày 14 tháng 8
năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 931/2026/QĐ-PT ngày 04 tháng 9 năm
2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1934, CCCD số ************, cấp
ngày 02/7/2021; Địa chỉ: ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh L; có mặt
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
1. Ông Trần Văn C, sinh năm 1967; có mặt
2. Ông Trần Văn T, sinh năm 1976; có mặt
Cùng địa chỉ: ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh L.
3. Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1963; Địa chỉ: ấp T, xã A, tỉnh Đồng Tháp; có
mặt
Bị đơn:
1. Bà Trần Thu V, sinh năm: 1965, CCCD số ************, cấp ngày
13/02/2025; Địa chỉ: C T, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quyết Q, sinh năm 1991; Địa chỉ: số B, P,
phường P, tỉnh Vĩnh L (văn bản ủy quyền ngày 11/9/2026); có mặt
2. Ông Huỳnh Hoàng G, sinh năm 1991, CCCD số ************, cấp ngày
16/9/2022; Địa chỉ: số B, ấp B, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị Kiều O, sinh năm 1999; Địa chỉ: số B, ấp B, xã T, Thành phố Hồ
Chí Minh; vắng mặt
2. Ông Trần Văn C, sinh năm 1967; có mặt
3. Ông Trần Văn T, sinh năm 1976; có mặt
4. Bà Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1974; có mặt
5. Ông Trần Quốc T, sinh năm 2010; vắng mặt
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Văn T.
Cùng địa chỉ: ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh L.
6. Ông Trần Văn H, sinh năm 1960; Địa chỉ: ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh L; có mặt
7. Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1963; Địa chỉ: ấp T, xã A, tỉnh Đồng Tháp; có
mặt
8. Ông Cao Minh T, sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp P, xã L, tỉnh Vĩnh L; có mặt
9. Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1968; Địa chỉ: ấp Đ, xã N, tỉnh Vĩnh L; vắng
mặt
Người kháng cáo: Bị đơn Trần Thu V, Huỳnh Hoàng G và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Cao Minh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị T do ông Trần
Văn C, ông Trần Văn T và bà Trần Thị Thu H làm đại diện trình bày:
Bà T có phần đất diện tích 3.177,7m
2
thuộc thửa số 365, tờ bản đồ số 7, loại đất
ở và trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh L (nay là ấp G, xã
T, tỉnh Vĩnh L). Nguồn gốc đất là của ông bà để lại cho bà T vào khoảng năm 1950.
Theo chương trình đất thì bà T đã đăng ký kê khai và được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa 344 diện tích 5.370m
2
loại đất thổ quả tọa lạc tại ấp G, xã T,
huyện V, tỉnh Vĩnh L. Đến năm 2008 thì bà T đăng ký tách thửa 344 thành 03 thửa
gồm: thửa 690 diện tích 4.733,3m
2
loại đất thổ quả, thửa 691 diện tích 248,4m
2
loại
đất trồng cây lâu năm và thửa đất số 692 diện tích 482,3m
2
loại đất trồng cây lâu năm.
Đến khi đo đạc VLAP thì thửa đất số 690 đổi thành thửa 328 diện tích 4.850,5m
2
loại
đất ở và trồng cây lâu năm. Bà T có 06 người con gồm: ông Trần Văn B (là liệt sĩ,
không có vợ con), ông Trần Văn H, ông Trần Văn C, bà Trần Thị Thu H, bà Trần
Thu V và ông Trần Văn T.
Trước đây vào năm 2008 thì bà V hỏi mượn bà T phần đất thửa 365, bà T đã
chuyển cho bà V đứng tên thửa đất số 365 vào năm 2008 để thế chấp vay Ngân hàng.
Việc bà V hỏi mượn đất của bà T thì không có lập thành văn bản hay giấy tờ gì. Sau
khi chuyển tên thì bà V có thế chấp thửa đất 365 để vay tiền hay không thì bà T không
biết. Phần đất thửa 365 trước đây là thửa 328, tờ bản đồ số 7, diện tích 4.850,5m
2
, do
bà Nguyễn Thị T đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất. Sau đó, bà T đã chuyển sang cho bà V đứng tên thửa
đất số 328, sau khi bà V đứng tên đã tách thửa 328 ra thành 02 thửa là thửa 366 diện
tích 1.672,7m
2
và thửa 365 diện tích 3.177,7m
2
(là thửa đất đang tranh chấp), gia đình
đã thống nhất tặng cho ông Trần Văn T thửa 366 nên bà V đã làm thủ tục tặng, cho
thửa đất 366 cho ông T, còn lại thửa đất 365 là của bà T. Phần đất thửa 365 từ trước
3
đến nay thì do bà T quản lý, sử dụng; bà V không có quản lý, sử dụng. Năm 2018 bà
V đã tự ý tặng, cho lại phần đất thửa 365 cho con của bà là anh Huỳnh Hoàng G, gia
đình bà T không đồng ý nên đứng ra tranh chấp. Trên phần đất tranh chấp có nhà của
bà T xây dựng từ thời chiến tranh, đến năm 2005 thì bà T được nhà nước hỗ trợ xây
dựng căn nhà tình nghĩa, hiện căn nhà của bà T do bà T và ông T đang quản lý, sử
dụng. Ngoài ra, trên đất còn có 01 căn nhà của ông Trần Văn T cất vào năm 2001,
hiện tại do gia đình ông T đang sinh sống gồm: ông T, bà Nguyễn Thị Thanh X (vợ
ông T) và cháu Trần Quốc T (con ông T). Ngoài ra, trước đây bà T còn có cho các
con của bà là ông C 2.000m
2
đất ruộng, ông Trần Văn H 2.000m
2
đất ruộng.
Phần đất thửa 344 trước đây là cấp cho cá nhân bà T, từ năm 1991 đến năm 1993
thì bà T sống chung với con bà là ông T.
Nay bà T khởi kiện yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng tặng, cho quyền sử dụng
đất ngày 15/07/2014 giữa bà T với bà V tại phần đất có diện tích 3.177,7m
2
, thuộc
một phần của thửa 328 (nay là thửa 365) và vô hiệu hợp đồng tặng, cho quyền sử
dụng đất ngày 03/02/2018 giữa bà V và anh G tại thửa 365, tờ bản đồ số 7, diện tích
3.177,7m
2
(đo đạc thực tế diện tích 3.125,8m
2
) loại đất ở và trồng cây lâu năm, tọa
lạc tại ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh L (nay là ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh L). Đồng thời,
bà T yêu cầu công nhận cho bà thửa đất số 365, tờ bản đồ số 7, diện tích 3.125,8m
2
.
Trước đây bà T có hứa cho bà V và bà H mỗi người 01 phần đất ngang 5m, dài
hết đất, vị trí đất cho bà H cặp với phần đất của ông T và kế bên phần đất cho bà H
là cho bà V, phần đất bà T cho bà H có diện tích theo đo đạc 484,8m
2
(365-3) (trong
đó có 50m
2
đất ở tại nông thôn và 434,8m
2
đất trồng cây lâu năm), phần đất bà T cho
bà V có diện tích đo đạc 424,8m
2
(365-2) (trong đó có 50m
2
đất ở tại nông thôn và
374,8m
2
đất trồng cây lâu năm). Nay bà T đồng ý cắt phần đất diện tích 484,8m
2
(365-
3) cho bà H đứng tên và đồng ý cắt phần đất diện tích 424,8m
2
(365-2) cho bà V đứng
tên, bà T đồng ý cho bà H và bà V luôn cây trồng trên đất mà không phải trả giá trị,
phần đất còn lại có diện tích 2.216,2m
2
(365-1) là của bà T.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Trần Thu V trình bày:
Vào năm 2014 bà T có tặng cho bà V phần đất thửa 328, diện tích 4.850,5m
2
, tọa
lạc tại ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh L (nay là ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh L). Lý do bà V
đứng tên phần đất này là do vào năm 2014 bà T cho ông T mượn phần đất này để vay
tiền Ngân hàng. Bà V, ông C, bà H không đồng ý cho ông T mượn đất để vay Ngân
hàng nên yêu cầu bà T ký tên hợp đồng tặng cho bà V đất để bà V đứng tên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc bà V đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thửa 328 là đại diện cho gia đình đứng tên. Sau khi đứng tên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì mẹ bà V là bà T và ông C, bà H có bàn bạc với bà V và thống
nhất yêu cầu bà V ký tặng cho đất lại cho ông T phần đất diện tích 1.672,7m
2
thuộc
thửa 366, sau khi tách đất cho ông T thì còn lại phần đất diện tích 3.177,7m
2
thuộc
thửa 365 bà T tặng cho bà V; Việc bàn bạc này chỉ nói miệng, không có lập thành
văn bản. Việc bà V ký hợp đồng tặng cho đất ông T thì bà V không có ý kiến hay
tranh chấp gì. Trước đây bà V có trình bày bà T có cho bà V phần đất ngang cặp lộ
Phú Hữu là 10m, dài khoảng hơn 100m là trình bày chưa đúng, thực tế bà T cho bà
V toàn bộ diện tích 3.177,7m
2
. Năm 2017 bà V đã tặng cho lại cho con bà là anh
Huỳnh Hoàng G toàn bộ phần đất diện tích 3.177,7m
2
, lý do bà V chuyển cho anh G
4
đứng tên đất là do bà V đã được tặng cho và đã đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Toàn bộ phần đất này từ trước đến nay đều do bà T quản lý, sử dụng; bà V
và anh G chưa nhận đất để quản lý, sử dụng.
Phần đất thửa 344 trước đây là cấp cho cá nhân bà T, từ năm 1991 đến năm 1993
thì bà T sống chung với ông T, bà V.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà T thì bà V không đồng ý. Bà T đã cho bà V
toàn bộ phần đất thửa 365 và bà V cng đã tặng, cho lại phần đất này cho anh Huỳnh
Hoàng G, việc tặng cho đất là đúng theo quy định của pháp luật, anh G đã đứng tên
đất nên anh G toàn quyền quyết định trong vụ án này.
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T thì bà V yêu cầu được
công nhận phần đất theo đo đạc diện tích 484,8m
2
(365-3) và diện tích 424,8m
2
(365-
2) vì trước đây bà T có hứa cho bà V phần đất ngang 10m, dài hết đất.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Huỳnh Hoàng G trình bày:
Anh G thống nhất theo lời trình bày của bà V. Hiện tại anh G đang đứng tên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
tại thửa đất 365 và anh G đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Phần đất này anh G được bà V tặng cho vào cuối năm 2017. Vào năm 2018 anh G có
dự định vay tiền thế chấp thửa đất 365 nhưng khi ngân hàng xuống thẩm định thì bà
T ngăn cản nên không vay được. Phần đất này từ khi nhận tặng cho đến nay anh G
vn chưa sử dụng đất mà vn do bà T quản lý, sử dụng.
Trước đây khi Nhà nước mở rộng đường P thì anh G đã ký hiến tặng cho nhà
nước phần đất diện tích 51,9m
2
thuộc một phần của thửa 365 để làm đường. Như vậy,
diện tích còn lại của thửa 365 là 3.125,8m
2
.
Phần đất thửa 344 trước đây là cấp cho cá nhân bà T, từ năm 1991 đến năm 1993
bà T sống chung với ông T và bà V.
Vào tháng 05/2023 anh G có chuyển nhượng cho anh T phần đất diện tích 600m
2
(trong đó có 100m
2
đất thổ và lại 500m
2
là đất trồng cây lâu năm), thuộc một phần
của thửa số 365 với giá chuyển nhượng là 1.700.000.000đ. Anh Tâm G1 cho anh G
số tiền cọc là 500.000.000đ, khi đặt cọc 02 bên có làm hợp đồng đặt cọc ngày
02/05/2023, thời gian đặt cọc là 60 ngày từ ngày 02/05/2023 đến ngày 02/07/2023.
Tuy nhiên, đến nay anh G vn chưa thực hiện chuyển tên phần đất chuyển nhượng
cho anh T đứng tên.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà T thì anh G không đồng ý vì việc bà T tặng
cho thửa đất 365 cho bà V và việc bà V tặng cho thửa đất 365 cho anh G được thực
hiện theo đúng quy định của pháp luật nên phần đất này là của anh G. Nay anh G yêu
cầu công nhận phần đất thửa 365 diện tích 3.125,8m
2
, đất tọa lạc tại ấp G, xã T, tỉnh
Vĩnh L là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của anh; Anh G yêu cầu ông T cùng với vợ
ông T là bà X và con ông T là anh T phải di dời nhà và toàn bộ đồ đạc bên trong nhà
đến nơi ở khác để trả đất cho anh G, anh G không bồi thường hoặc hỗ trợ di dời và
cng không đồng ý để gia đình ông T lưu cư. Ngoài ra, anh G yêu cầu bà T phải giao
lại thửa đất 365 cho anh. Riêng đối với căn nhà của bà T thì anh G đồng ý giữ nguyên
để bà T ở đến hết đời. Đồng thời, anh G đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng cho anh T đối với phần đất có diện tích 600m
2
thuộc một phần của thửa đất
số 365 (trong đó có 100m
2
là đất ở, 500m
2
đất trồng cây lâu năm) anh T tiếp tục giao
5
cho anh G số tiền là 1.200.000.000đ thì anh G đồng ý. Trường hợp anh G không thể
thực hiện được hợp đồng đặt cọc cho anh T thì anh G đồng ý trả lại cho anh T số tiền
cọc là 500.000.000đ. Nay anh T không yêu cầu phạt cọc và cng không yêu cầu tính
lãi thì anh G cng thống nhất.
Đối với phần đất bà T trình bày đồng ý cắt lại cho bà H và bà H có yêu cầu công
nhận đối với phần đất bà T cho thì anh G không đồng ý vì toàn bộ thửa đất 365 là của
anh G.
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T và bà V (mẹ anh G)
yêu cầu được công nhận phần đất mà bà T đồng ý cho bà V thì anh G cng thống
nhất.
* Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Trần Văn C và ông Trần Văn T trình bày:
Ông C, ông T thống nhất theo lời trình bày do ông T, ông C và bà H đại diện cho
bà T vừa trình bày ở trên.
Phần đất thửa 344 trước đây là cấp cho cá nhân bà T. Vào khoảng năm 1991 đến
năm 1993 thì bà T sống chung với ông T, bà V.
Đối với phần đất bà V đã ký hợp đồng tặng cho ông T thì ông C, ông T thống
nhất không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Trong vụ án này ông C, ông T để bà T toàn quyền quyết định, ông C, ông T
không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ kiện này.
Riêng đối với căn nhà của gia đình ông T xây dựng trên phần đất bà T tặng, cho
bà H và bà V thì gia đình ông T s tự di dời nhà đến nơi ở mới để trả đất lại cho bà
V, bà H và bà T, không yêu cầu bồi thường hoặc hỗ trợ di dời và cng không yêu cầu
thời gian lưu cư.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Trần Thị Thu H trình bày:
Bà H thống nhất theo lời trình bày do bà, ông T và ông C đại diện cho bà T vừa
trình bày ở trên.
Đối với phần đất bà V đã ký hợp đồng tặng cho ông T thì bà H thống nhất không
có ý kiến hay yêu cầu gì.
Bà T đồng ý cho bà H phần đất theo đo đạc có diện tích 484,8m
2
(thửa 365-3)
thì bà H yêu cầu được công nhận phần đất này. Ngoài ra, bà H không có ý kiến hay
yêu cầu gì khác.
* Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh
Cao Minh T trình bày:
Anh T thống nhất theo biên bản định giá ngày 26/01/2026, kết quả đo đạc hiện
trạng khu đất ngày 26/02/2026 của Chi nhánh Văn phòng Đ – Vĩnh L.
Vào tháng 05/2023 anh T có thỏa thuận nhận chuyển nhượng của anh G phần
đất diện tích 600m
2
(trong đó có 100m
2
đất thổ và 500m
2
đất trồng cây lâu năm),
thuộc một phần của thửa 365, diện tích chung 3.177,7m
2
loại đất thổ vườn, đất tọa
lạc tại ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh L do anh Huỳnh Hoàng G đứng tên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Giá chuyển
nhượng là 1.700.000.000đ. Anh T đã đặt cọc cho anh G số tiền cọc là 500.000.000đ,
khi đặt cọc 02 bên có làm hợp đồng đặt cọc ngày 02/05/2023, thời gian đặt cọc là 60
6
ngày từ ngày 02/05/2023 đến ngày 02/07/2023. Tuy nhiên, từ khi đặt cọc đến hết thời
gian đặt cọc thì anh G không làm thủ tục chuyển nhượng tách thửa sang tên đất cho
anh T. Anh T có nhiều lần liên hệ với anh G để làm thủ tục tách thửa sang tên đối với
phần đất này nhưng đến nay vn chưa thực hiện được.
Theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 26/02/2026 thì diện tích anh T chỉ
ranh có diện tích 724,6m
2
, nhưng nay anh T đề nghị điều chỉnh phần diện tích như
sau: Từ cột mốc số 3 sang cột mốc số 2 trên trích đo điều chỉnh là 10m và từ cột mốc
số 5 sang cột mốc số 14 điều chỉnh 10m, sao cho sau khi điều chỉnh diện tích là
600m
2
.
Nay anh T yêu cầu anh G phải tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất theo hợp đồng đặt cọc ngày 02/05/2023 đối với phần đất có diện tích theo
đo đạc là 600m
2
tại thửa đất số 365 (trong đó có 100m
2
đất ở và 500m
2
đất trồng cây
lâu năm), anh T s tiếp tục giao cho anh G số tiền là 1.200.000.000đ. Trường hợp anh
G không thực hiện được việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì anh T yêu cầu
anh G phải trả lại cho anh T số tiền cọc là 500.000.000đ. Trước đây anh T có yêu cầu
phạt cọc số tiền là 500.000.000đ nhưng nay anh T xin rút yêu cầu phạt cọc và cng
không yêu cầu tính lãi, anh T chỉ yêu cầu một mình anh G phải trả lại số tiền cọc đã
nhận là 500.000.000đ, không yêu cầu chị O cùng có trách nhiệm trả nợ với anh G.
Ngoài ra, anh T không còn ý kiến hay yêu cầu nào khác.
* Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị
Lê Thị Kiều O trình bày:
Chị O là vợ của anh G, đối với thửa đất 365 là của bà Thu V (mẹ anh G) đã tặng
cho riêng anh G. Việc anh G có chuyển nhượng đất cho anh Cao Minh T thì chị O
cng biết và thống nhất việc chuyển nhượng này. Trường hợp anh G không thực hiện
được việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T thì anh G phải trả lại cho anh
T số tiền cọc là 500.000.000đ, anh T không có yêu cầu chị O có nghĩa vụ liên đới trả
tiền thì chị O cng thống nhất theo ý kiến của anh T. Nay trong vụ án này chị O để
anh G toàn quyền quyết định. Ngoài ra, chị O không có ý kiến hay yêu cầu gì.
* Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Trần Văn H trình bày: Ông H là con ruột của bà T thửa đất số 365 có nguồn gốc là
tách ra từ thửa đất số 344, thửa đất 344 trước đây là cấp cho cá nhân bà T. Việc tặng
cho thửa đất 365 giữa bà T, bà V với anh G như thế nào thì ông H không biết. Nay
trong vụ này ông H không có ý kiến hay yêu cầu gì.
* Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn Thị Thanh X trình bày: Bà X hiện đang sống chung với ông T trong căn nhà
xây dựng trên thửa đất 365. Căn nhà trên đất thì bà X để ông T toàn quyền quyết định.
Trong vụ án này bà X không có ý kiến hay yêu cầu gì.
* Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh
Trần Quốc T do bà Nguyễn Thị Thanh X và ông Trần Văn T làm đại diện trình
bày: Anh T là con của ông T, bà X hiện đang sống chung với ông T trong căn nhà
xây dựng trên thửa đất số 365. Căn nhà trên đất thì anh T để ông T toàn quyền quyết
định.
* Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Huỳnh Văn B trình bày: Ông B là chồng của bà V, việc tặng cho quyền sử dụng đất
7
giữa bà T, bà V, anh G tại thửa đất số 365 thì ông B hoàn toàn không biết. Nay trong
vụ án này ông B không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Vào năm 2024 khi Nhà nước mở rộng đường P thì anh G đã ký tặng cho Nhà
nước phần đất diện tích 51,9m
2
thuộc một phần của thửa 365 để làm đường, việc hiến
tặng đất này thì tất cả đương sự trong vụ án cng thống nhất. Như vậy, diện tích còn
lại của thửa 365 là 3.125,8m
2
.
Tại Bn án dân sự sơ số 49/2026/DS-ST ngày 05/5/2026, Toà án nhân dân khu
vực 4 – Vĩnh L, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T do ông Trần
Văn C, ông Trần Văn T, bà Trần Thị Thu H làm đại diện; Chấp nhận một phần yêu
cầu phản tố của bà Trần Thu V; Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Huỳnh
Hoàng G; Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Thu H; Chấp nhận một phần
yêu cầu độc lập của anh Cao Minh T.
2. Vô hiệu một phần hợp đồng tặng, cho quyền sử dụng đất ngày 15/07/2014
giữa bà Nguyễn Thị T với bà Trần Thu V tại phần đất có diện tích 3.177,7m
2
, thuộc
một phần của thửa 328 (nay là thửa đất 365 diện tích theo đo đạc thực tế là 3.125,8m
2
)
loại đất ở và trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh L (nay là
ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh L).
3. Vô hiệu hợp đồng tặng, cho quyền sử dụng đất ngày 03/02/2018 giữa bà Trần
Thu V và anh Huỳnh Hoàng G tại thửa đất số 365, tờ bản đồ số 7, diện tích 3.177,7m
2
(diện tích theo đo đạc thực tế là 3.125,8m
2
) loại đất ở và trồng cây lâu năm, tọa lạc
tại ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh L (nay là ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh L).
4. Công nhận cho bà Nguyễn Thị T được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện
tích 2.216,2m
2
(365-1) (theo các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 14, 15, 10, 11, 12, 13, 1) loại đất
ONT – CLN, trong đó có 100m
2
đất ở tại nông thôn và 2.116,2m
2
đất trồng cây lâu
năm.
5. Công nhận cho bà Trần Thu V được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện
tích 424,8m
2
(tách 365-2) (theo các mốc 6, 7, 15, 14, 6) loại đất ONT – CLN trong
đó có 50m
2
đất ở tại nông thôn và 374,8m
2
đất trồng cây lâu năm. Bà Trần Thu V
được sở hữu toàn bộ cây trồng trên đất.
6. Công nhận cho bà Trần Thị Thu H được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện
tích 484,8m
2
(tách 365-3) (theo các mốc 7, 8, 9, 10, 15, 7) loại đất ONT – CLN, trong
đó có 50m
2
đất ở tại nông thôn và 434,8m
2
đất trồng cây lâu năm. Bà Trần Thị Thu
H được sở hữu toàn bộ cây trồng trên đất.
Vị trí, kích thước, giáp cận của các phần đất theo kết quả đo đạc hiện trạng khu
đất của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực 4 kèm theo bản án.
Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký
quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
7. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Trần Thu V về việc yêu
cầu công nhận phần đất diện tích 484,8m
2
(365-3).
8. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Huỳnh Hoàng G về việc yêu cầu
công nhận phần đất thửa 365 diện tích 3.125,8m
2
, đất tọa lạc tại ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh
L là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của anh; yêu cầu ông Trần Văn T cùng với bà
8
Nguyễn Thị Thanh X và anh Trần Quốc T phải di dời nhà và toàn bộ đồ đạc bên trong
nhà đến nơi ở khác để trả đất cho anh Huỳnh Hoàng G, anh Huỳnh Hoàng G không
bồi thường hoặc hỗ trợ di dời và cng không đồng ý để gia đình ông Trần Văn T lưu
cư; yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải giao lại thửa đất 365 cho anh.
9. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Cao Minh T về việc yêu cầu anh
Huỳnh Hoàng G phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo hợp đồng đặt cọc ngày 02/05/2023 đối với phần đất có diện tích là 600m
2
thuộc
một phần của thửa 365 (trong đó có 100m
2
đất ở và 500m
2
đất trồng cây lâu năm),
anh Cao Minh T s tiếp tục giao cho anh Huỳnh Hoàng G số tiền là 1.200.000.000đ
(Một tỉ hai trăm triệu đồng).
10. Vô hiệu hợp đồng đặt cọc ngày 02/05/2023 giữa anh Huỳnh Hoàng G và anh
Cao Minh T. Anh Huỳnh Hoàng G phải có nghĩa vụ trả lại cho anh Cao Minh T số
tiền cọc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải
thi hành án chưa thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả
lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
11. Đình chỉ đối với yêu cầu anh Cao Minh T về việc yêu cầu anh Huỳnh Hoàng
G phải trả số tiền phạt cọc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng).
12. Buộc ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị Thanh X và anh Trần Quốc T do ông
Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thanh X làm đại diện phải có nghĩa vụ di dời nhà và
toàn bộ đồ đạc trong nhà đến nơi ở mới để giao đất lại cho bà Trần Thu V, bà Trần
Thị Thu H và bà Nguyễn Thị T
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/5/2026, bị đơn bà Trần Thu V kháng cáo bn
án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc
tuyên vô hiệu hợp đồng tặng cho giữa bà Nguyễn Thị T với bà Trần Thu V vào ngày
15/7/2014; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên vô hiệu
hợp đồng tặng cho giữa Trần Thu V và Huỳnh Hoàng G vào ngày 03/8/2018.
Ngày 18/5/2026, bị đơn ông Huỳnh Hoàng G kháng cáo bn án sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên vô hiệu hợp
đồng tặng cho giữa bà Trần Thu V và Huỳnh Hoàng G vào ngày 03/02/2018; chấp
nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông.
Ngày 18/5/2026, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Minh T kháng
cáo bn án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông và ông
Huỳnh Hoàng G phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyên nhượng quyền sử dụng đất
theo hợp đồng đặt cọc ngày 02/5/2023 đối với phần đất là 600m
2
thuộc một phần thửa
365 (trong đó có 100m
2
đất ở và 500m
2
đất trồng cây lâu năm) tạo lạc tị xã T, tỉnh
Vĩnh L. Ông đồng ý trả cho ông Huỳnh Hoàng G số tiền còn lại là 1.200.000.000
đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn do người đại diện trình bày: Nguyên đơn
vn giữ yêu cầu khởi kiện, không đồng ý yêu cầu kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
Bị đơn do người đại diện trình bày: Bị đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn và bà V đã được bà T tặng cho hợp pháp, bà V cng đã
9
tặng cho ông G.
Anh G trình bày: Vn giữ yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa án sơ thẩm, không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Anh T trình bày: Vn giữ yêu cầu kháng cáo.
Người có quyển lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Văn H trình bày: Bà T hứa cho bà V chiều ngang 10m nên đề nghị
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà V.
Bà X trình bày: Không có yêu cầu gì trong vụ án.
Trong phần tranh tụng, các đương sự thống nhất: Quan hệ nhân thân, nguồn
gốc, quá trình sử dụng đất, tư liệu địa chính, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo
đạc định giá như án sơ thẩm.
Vấn đề không thống nhất: Bị đơn yêu cầu được công nhận phần đất ngang 10m
gồm thửa 365-2 + 365-3, nhưng nguyên đơn chỉ đồng ý tách thửa 365-2.
Ông H yêu cầu chia cho bà V phần đất ngang 8m, còn lại diện tích tự thỏa thuận.
Đại diện ủy quyền của bà V cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng về tư cách đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông T, bà H. Tòa án cấp
sơ thẩm sử dụng kết quả đo đạc ngày 05/5/2026 cùng thời điểm diễn ra phiên tòa là
không phù hợp. Ngoài ra, hồ sơ vụ án có các bút lục bị tẩy xóa.
Về nội dung: Đề nghị sửa án sơ thẩm, vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho năm
2014, giao cho bà V thửa 365-2 và 365-3. Giao cho bà T 365-1, trường hợp không
công nhận thỏa thuận thì đề nghị hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ về Tòa án sơ thẩm
giải quyết lại.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng là đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi
xét xử phúc thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật
tố tụng dân sự
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thu V, ông Huỳnh Hoàng G, ông Cao
Minh T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 49/2026/DS-ST ngày 05/5/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4- Vĩnh L.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn phát biểu về án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa;
trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương sự; căn cứ
vào kết quả tranh luận và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Trần Thu V, Huỳnh Hoàng G và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Minh T là hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục
phúc thẩm.
Đương sự vắng mặt nhưng có người đại diện, có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc
đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Tòa án vn tiến hành xét xử vụ án.
10
Anh G yêu cầu giám định sức khỏe của bà T nhưng tại phiên tòa các đương sự
đều xác định bà T chỉ bị lãng tai, vn minh mn nên yêu cầu giám định là không có
căn cứ.
Về việc người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thu V yêu cầu xem xét lại tư
cách ủy quyền của nguyên đơn là bà H, ông T và cho rằng cấp sơ thẩm có vi phạm tố
tụng:
Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm lời trình bày của ông T, bà H phù hợp ý chí của
bà T đã được cụ T trực tiếp trình bày yêu cầu tại phiên tòa phúc thẩm.
Về trích đo cùng ngày xét xử sơ thẩm, các đương sự thống nhất kết quả đo đạc,
việc cấp sơ thẩm buộc ông T, bà X, anh T di dời nhà trên đất, công nhận cho bà V,
bà H đã được ông T, bà X trình bày đây là tự nguyện. Do vậy, việc đại diện theo ủy
quyền của bà V cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm nguyên trọng thủ tục tố tụng để yêu
cầu hủy án là không có cơ sở.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo bị đơn Trần Thu V, Huỳnh Hoàng G và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Minh T. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Xét kháng cáo của bị đơn Trần Thu V
Quá trình giải quyết vụ án, bà V thừa nhận quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc
cá nhân bà T, bà V chỉ đại diện đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì bà V,
bà H, ông C không muốn cho ông T mượn quyền sử dụng đất của bà T vay ngân
hàng. Sau khi ký hợp đồng tặng cho ngày 15/7/2014, bà T vn trực tiếp quản lý, sử
dụng đất và thực hiện quyền chủ sử dụng đất (BL44-45; 52-53; 110-111). Tài sản trên
đất thuộc quyền sở hữu của bà T, ngoài ra còn có căn nhà và tài sản của ông T. Thực
tế, Bà V và anh G đều không quản lý, sử dụng đất. Bà T chỉ hứa miệng cho bà V phần
đất ngang 10m (BL44). Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét ý chí của các bên và mục
đích xác lập tuyên vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho ngày 15/7/2014 là có căn cứ.
Kháng cáo của bà V là không có cơ sở để được chấp nhận.
[2.2] Xét kháng cáo bị đơn Huỳnh Hoàng G về việc yêu cầu công nhận hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất ngày 03/02/3028, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Anh G xác lập quyền sử dụng đất theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày
03/02/3018 từ bà V nhưng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15/7/2014
giữa bà T và bà V bị vô hiệu như nhận định trên nên Hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất ngày 03/02/2018 giữa bà V và anh G cng vô hiệu. Đồng thời, khi xác lập
hợp đồng tặng cho giữa bà V và anh G, trên đất có căn nhà, tài sản của bà T, ông T
nhưng không có chứng cứ thể hiện bà T, ông T biết, đồng ý. Do vậy, anh G không
được xem là người thứ ba ngay tình nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu
cầu độc lập của anh G là có căn cứ. Kháng cáo của anh G là không có cơ sở để được
chấp nhận.
[2.3] Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Minh T về
việc yêu cầu buộc anh Huỳnh Hoàng G chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hợp
đồng đặt cọc ngày 02/5/2023. Do anh G không được công nhận là chủ sử dụng đất
hợp pháp thửa số 365 nên hợp đồng đặt cọc ngày 02/5/2023 giữa anh G và anh T là
11
vô hiệu. Đồng thời, tại hợp đồng đặt cọc ngày 02/5/2023 (BL339) có nội dung anh G
là bên A đồng ý bán cho anh T là bên B nhà đất tại thửa 365, trong khi trên đất có 02
căn nhà và tài sản trên đất thuộc sở hữu của bà T và ông T. Quá trình giải quyết vụ
án tại cấp sơ thẩm, anh T chỉ yêu cầu anh G trả lại 500.000.000 đồng tiền cọc và
không yêu cầu phạt cọc nên Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận một phần yêu
cầu độc lập của anh T về việc vô hiệu hợp đồng đặt cọc và buộc anh G trả lại cho anh
T tiền cọc đã nhận là có căn cứ.
[3] Từ cơ sở pháp lý và đánh giá chứng cứ như đã nhận định trên, kháng cáo của
bị đơn Trần Thu V, Huỳnh Hoàng G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao
Minh T là không có cơ sở để chấp nhận.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn Trần Thu V, Huỳnh Hoàng G
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Minh T phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Bị đơn Trần Thu V là người cao tuổi nên được miễn.
Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên
được chấp nhận toàn bộ.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng
nghị nên Hội đồng xét xử không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng
cáo của bị đơn Trần Thu V, Huỳnh Hoàng G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Cao Minh T4. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 49/2026/ DS -ST ngày 05
tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh L
Căn cứ Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 117, Điều 122, Điều 131 của
Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 2 của
Luật người cao tuổi; Điều 3, khoản 1 Điều 4 của Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH5
ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp khu vực; Điều 12, Điều 14, Điều 26 và
Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH4 ngày 30/12/2016 Quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T do ông Trần
Văn C, ông Trần Văn T, bà Trần Thị Thu H làm đại diện; Chấp nhận một phần yêu
cầu phản tố của bà Trần Thu V; Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Huỳnh
Hoàng G; Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Thu H; Chấp nhận một phần
yêu cầu độc lập của anh Cao Minh T.
2. Vô hiệu một phần hợp đồng tặng, cho quyền sử dụng đất ngày 15/07/2014
12
giữa bà Nguyễn Thị T với bà Trần Thu V tại phần đất có diện tích 3.177,7m
2
, thuộc
một phần của thửa 328 (nay là thửa đất 365 diện tích theo đo đạc thực tế là 3.125,8m
2
)
loại đất ở và trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh L (nay là
ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh L).
3. Vô hiệu hợp đồng tặng, cho quyền sử dụng đất ngày 03/02/2018 giữa bà Trần
Thu V và anh Huỳnh Hoàng G tại thửa đất số 365, tờ bản đồ số 7, diện tích 3.177,7m
2
(diện tích theo đo đạc thực tế là 3.125,8m
2
) loại đất ở và trồng cây lâu năm, tọa lạc
tại ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh L (nay là ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh L).
4. Công nhận cho bà Nguyễn Thị T được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện
tích 2.216,2m
2
(365-1) (theo các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 14, 15, 10, 11, 12, 13, 1) loại đất
ONT – CLN, trong đó có 100m
2
đất ở tại nông thôn và 2.116,2m
2
đất trồng cây lâu
năm.
5. Công nhận cho bà Trần Thu V được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện
tích 424,8m
2
(tách 365-2) (theo các mốc 6, 7, 15, 14, 6) loại đất ONT – CLN trong
đó có 50m
2
đất ở tại nông thôn và 374,8m
2
đất trồng cây lâu năm. Bà Trần Thu V
được sở hữu toàn bộ cây trồng trên đất.
6. Công nhận cho bà Trần Thị Thu H được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện
tích 484,8m
2
(tách 365-3) (theo các mốc 7, 8, 9, 10, 15, 7) loại đất ONT – CLN, trong
đó có 50m
2
đất ở tại nông thôn và 434,8m
2
đất trồng cây lâu năm. Bà Trần Thị Thu
H được sở hữu toàn bộ cây trồng trên đất.
Vị trí, kích thước, giáp cận của các phần đất theo kết quả đo đạc hiện trạng khu
đất của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực 4 kèm theo bản án.
Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký
quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
8. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Trần Thu V về việc yêu
cầu công nhận phần đất diện tích 484,8m
2
(365-3).
9. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Huỳnh Hoàng G về việc yêu cầu
công nhận phần đất thửa 365 diện tích 3.125,8m
2
, đất tọa lạc tại ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh
L là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của anh; yêu cầu ông Trần Văn T cùng với bà
Nguyễn Thị Thanh X và anh Trần Quốc T phải di dời nhà và toàn bộ đồ đạc bên trong
nhà đến nơi ở khác để trả đất cho anh Huỳnh Hoàng G, anh Huỳnh Hoàng G không
bồi thường hoặc hỗ trợ di dời và cng không đồng ý để gia đình ông Trần Văn T lưu
cư; yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải giao lại thửa đất 365 cho anh.
10. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Cao Minh T về việc yêu cầu anh
Huỳnh Hoàng G phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo hợp đồng đặt cọc ngày 02/05/2023 đối với phần đất có diện tích là 600m
2
thuộc
một phần của thửa 365 (trong đó có 100m
2
đất ở và 500m
2
đất trồng cây lâu năm),
anh Cao Minh T s tiếp tục giao cho anh Huỳnh Hoàng G số tiền là 1.200.000.000đ
(Một tỉ hai trăm triệu đồng).
11. Vô hiệu hợp đồng đặt cọc ngày 02/05/2023 giữa anh Huỳnh Hoàng G và anh
13
Cao Minh T. Anh Huỳnh Hoàng G phải có nghĩa vụ trả lại cho anh Cao Minh T số
tiền cọc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải
thi hành án chưa thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả
lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
12. Đình chỉ đối với yêu cầu anh Cao Minh T về việc yêu cầu anh Huỳnh Hoàng
G phải trả số tiền phạt cọc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng).
13. Buộc ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị Thanh X và anh Trần Quốc T do ông
Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thanh X làm đại diện phải có nghĩa vụ di dời nhà và
toàn bộ đồ đạc trong nhà đến nơi ở mới để giao đất lại cho bà Trần Thu V, bà Trần
Thị Thu H và bà Nguyễn Thị T.
14. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Huỳnh Hoàng G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Khấu
trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai số
0010871 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh L, ông G đã nộp xong án phí dân sự phúc
thẩm.
Ông Cao Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số
tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai số 0011076
của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh L, ông T đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
Miễn án phí cho bà Trần Thu V do là người cao tuổi.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành
án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Chánh án;
- VKSND tỉnh Vĩnh L;
- TAND khu vực 4 -Vĩnh L;
- VKSND khu vực 4 - Vĩnh L;
- THADS tỉnh Vĩnh L;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Triệu Hữu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 836/2026/DS-PT Bản án số 836/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 836/2026/DS-PT Bản án số 836/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất