Bản án số 139/2026/DS-PT ngày 28/09/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 139/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 139/2026/DS-PT ngày 28/09/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 139/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 22 tháng 4 năm 2026 bị đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩmsố 105/2026/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10- Ninh Bình đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 139/2026/DS-PT Bản án số 139/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 139/2026/DS-PT Bản án số 139/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 139/2026/DS-PT
Ngày: 28 - 9 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,
huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Đinh Huy Lưỡng
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Văn Biền
Bà Trần Thị Sâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh
Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà
Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 58/2026/TLPT-DS ngày 22 tháng 7 năm
2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2026/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 108/2026/QĐ-PT ngày
22 tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2026/QĐ-PT ngày 16
tháng 9 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1932, số định danh cá nhân
************; địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình; (có mặt);
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm
1965; Số định danh cá nhân ************; địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình
là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 29/12/2025).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1975 số định danh cá nhân,
************ và bà Trần Thị H1, sinh năm 1985, số định danh cá nhân
2
************; đều địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình; (có mặt);
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1955, số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (có mặt);
2. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1956, số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);
3. Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1961; số định danh cá nhân
************; chết ngày 24/8/2026.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ1:
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1932 (bố đẻ ông Đ1): địa chỉ: Thôn T, xã G,
tỉnh Ninh Bình (có mặt);
- Bà Trần Thị T sinh năm 1962 (vợ ông Đ1) số định danh cá nhân
************; địa chỉ: Thôn N, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp của bà T: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965; số
định danh cá nhân ************; địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình là người
đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 15/9/2026).
- Các con ông Đ1 là chị Nguyễn Thị T1 sinh năm 1983, chị Nguyễn Thị T2
sinh năm 1986 và anh Nguyễn Văn Đ2 sinh năm 1989; cùng địa chỉ: Thôn N, xã
G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
4. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1962, số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (có mặt);
5. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965, số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình; (có mặt);
6. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1968, số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn T, xã M, thành phố Hải Phòng (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng
mặt);
7. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1970; số định danh cá nhân ************
địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình. ( mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
8. Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1972; số định danh cá nhân ************
địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình. ( mặt)
Người đại diện hợp pháp của ông H3: ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965;
Số định danh cá nhân ************; địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình là
3
người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 29/12/2025).
9. Ông Trần Văn H4, sinh năm 1982; địa chỉ; Thôn L, xã G, tỉnh Ninh Bình
(vắng mặt);
10. Các thành viên của từ đường N:
- Ông Nguyễn Xuân H5, sinh năm: 1948; số định danh cá nhân
************; địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn Y; sinh năm: 1953; số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn Y1; sinh năm: 1955; số định danh cá nhân
************; địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Đức Q; sinh năm: 1977; số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Chí T4; sinh năm: 1983; số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Trọng P; sinh năm: 1982; số định danh cá nhân
************; địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn T5; sinh năm: 1975; địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Hưng
Yên (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn T6; sinh năm: 1977; địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Hưng
Yên (vắng mặt);
-Ông Nguyễn Văn H6; sinh năm: 1972; địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Hưng
Yên (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thành Đ3, sinh năm 1989; số định danh cá nhân
************; địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Mạnh H7, sinh năm 1987; số định danh cá nhân
************; địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thế T7, sinh năm 1996; Số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1974; Số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn T8, sinh năm 1976; Số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
4
- Ông Nguyễn Văn T9, sinh năm 1998; Số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Viết H8, sinh năm 1945; Số định danh cá nhân
************; địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn H9, sinh năm 1979; Số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn H10, sinh năm 2007; Số định danh cá nhân
************; địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1954; Số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn T10, sinh năm 1977; Số định danh cá nhân
************; địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp của ông H5, ông Y, ông Y1, ông H6, ông Q, ông
T4, ông P, ông T5, ông T6, ông Đ3, ông H7, ông T7, ông C, ông T8, ông T9, ông
H8, ông H9, ông H10, ông N1, ông T10: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965; Số
định danh cá nhân ************; địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình là người
đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 29/12/2025) (có mặt).
11. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh N; Trụ sở: 02, Lê Hồng P1, phường
H, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện hợp pháp: Bà Tạ Hồng Đ4 - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp
và Môi trường tỉnh N là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày
08/9/2026) (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);
12. Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Ninh Bình; Trụ sở: Thôn G, xã G, tỉnh Ninh
Bình.
Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Văn C1 - Chủ tịch UBND xã G, tỉnh Ninh
Bình là người đại diện theo pháp luật. ( mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người kháng cáo: bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, người đại
diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Văn N và bà Đinh Thị M là vợ chồng. Bà Đinh Thị M, đã chết
năm 2023. Ông N và bà M có 09 người con đẻ là: Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị H2,
Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Thị X, Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị T3,
5
Nguyễn Văn H3 và Nguyễn Văn H. Ông N và bà M không có con nuôi hay con
riêng nào khác.
Ngày 01/7/1998, ông N và bà M được UBND huyện G, tỉnh Nam Định (nay
thuộc tỉnh Ninh Bình) cấp GCNQSDĐ tại thửa số 74 và thửa số 103, cùng tờ bản
đồ số 22 có địa chỉ tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã G, tỉnh Ninh
Bình). Thửa 74 có diện tích 420m
2
(đất ở 300m
2
, đất vườn tạp 120 m
2
); thửa 103
có diện tích 430m
2
(đất ở 35m
2
, đất vườn tạp 260m
2
, đất ao nuôi cá 135m
2
) đứng
tên chủ sử dụng là hộ ông Nguyễn Văn N. Nguồn gốc thửa đất 74 là do ông cha
để lại. Nguồn gốc thửa đất 103 là do ông N và bà M tạo lập lên từ những năm
1953 - 1954, sau đó thì có các con gái là Đ, H2, X cùng góp công sức để lấn dần
vì trước đó là mương, rãnh thoát nước.
Năm 2009, ông N và bà M có tặng cho quyền sử dụng cho con trai là Nguyễn
Văn H3 257m
2
trong thửa đất số 103, tờ bản đồ số 22 (đất ở 35m
2
, đất vườn tạp
172m
2
, đất ao nuôi cá 50m
2
).
Năm 2018, ông N và bà M có cho vợ chồng con trai út là Nguyễn Văn H và
Trần Thị Hà M1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng làm
ăn kinh tế. Ông N và bà M có xuống UBND xã G (nay thuộc xã G) để ký hợp
đồng ủy quyền, thế chấp để cho vợ chồng anh H vay vốn. Ông N và bà M chỉ biết
ký, điểm chỉ vào biên bản chứ không đọc cụ thể nội dung thế nào.
Sau khi bà M chết, cuối năm 2023, ông N đã tháo dỡ nhà cũ để làm nhà mới
ở lúc tuổi già và làm nơi thờ cúng thì vợ chồng anh H có nói là toàn bộ đất của
ông N và bà M đều đã đứng tên vợ chồng anh H chị H1, nếu ông N và các con cứ
xây thì khi ông N chết con anh H sẽ đập đi.
Ông N có hỏi anh H để lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì anh H có
nói là đã làm hồ sơ chuyển quyền hết cả 02 thửa đất nói trên đứng tên quyền sử
dụng đất là Nguyễn Văn H và Trần Thị H1.
Ông N không nhất trí với ý kiến của anh H và đã làm đơn đề nghị UBND xã
giải quyết. Tại hai phiên hòa giải tại xã ông N có đề nghị vợ chồng anh H trả lại
cho ông một nửa diện tích đất (210m
2
) tại thửa 74, tờ bản đồ số 22 thì vợ chồng
anh H nhất trí và hứa sẽ lấy sổ đỏ về để tách thửa 210m
2
đất theo mong muốn của
ông N nhưng sau đó thì không có động thái gì.
Ông N khởi kiện đề nghị Tòa án hủy Hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa vợ
chồng ông và anh H, chị H1 đối với thửa đất số 74, tờ bản đồ số 22. Hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng anh H, chị H1 đối với thửa
đất số 74. Buộc anh H, chị H1 trả lại ông N phần diện tích đất 210m
2
(phần đất có
6
từ đường họ N2 và căn nhà nơi ông đang ở tại thửa đất số 74). Còn phần 210m
2
còn lại của thửa đất số 74 vị trí vợ chồng anh H, chị H1 đã xây nhà và đang sinh
sống, cũng như diện tích đất ở thửa 103 thì ông N đồng ý cho anh H, chị H1.
Bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị H1 trình bày:
Bố mẹ ông H là ông Nguyễn Văn N và bà Đinh Thị M, sinh năm 1931 (mất
năm 2023). Bố mẹ ông H có 09 người con là: Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị H2,
Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Văn K,
Nguyễn Văn H3 và ông H. Ngoài ra không có con nuôi hay con riêng nào khác.
Hiện nay vợ chồng ông H đang sử dụng 02 thửa đất là thửa số 74 và thửa số
103, cùng tờ bản đồ số 22 có địa chỉ tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định (nay thuộc
xã G, tỉnh Ninh Bình). Thửa 74 có diện tích 420m
2
; thửa 103 có diện tích 173m
2
.
Hai thửa đất đều đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
18/12/2018 đứng tên chủ sử dụng là Nguyễn Văn H và Trần Thị H1. Nguồn gốc
02 thửa đất là được bố mẹ ông Hoạt tặng cho quyền sử dụng cho hai vợ chồng.
Quá trình cấp Giấy chứng nhận không xảy ra tranh chấp hay đơn từ khiếu nại gì.
Khi bố mẹ ông H làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông H,
anh chị em trong gia đình đều biết.
Các anh, các chị đều đi lấy chồng và có đất ở riêng, còn lại là vợ chồng ông
H ở cùng với bố mẹ. Khi bố mẹ ông H nói cho toàn bộ thửa đất nhưng khi cán bộ
địa chính xã G nói nếu để một thửa đất như theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thì không thể làm thủ tục tặng cho được mà phải tách làm hai thửa thì mới làm
thủ tục được (diện tích hai thửa là 593m
2
). Ông H không nhớ chỉ biết năm 2018,
khi bố mẹ ông H làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất hôm đó có cả bố mẹ ông
H và vợ chồng ông H có mặt tại trụ sở UBND xã G, cán bộ địa chính xã ông K2,
chủ tịch xã là ông R, ông R có hỏi hai cụ cho hết đất vợ chồng ông H thì sau này
không lấy được đâu, bố mẹ ông H có trình bày là già rồi chết, cán bộ địa chính xã
làm thủ tục, bố mẹ ông H và vợ chồng anh ký trực tiếp vào hợp tặng cho quyền
sử dụng đất. Khi bố mẹ ông H ký vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho
vợ chồng ông H, bố mẹ ông H khoẻ mạnh, minh mẫn. Trước khi làm hợp đồng
tặng cho thì ông N là người giữ sổ đỏ và chính ông N là người đưa sổ đỏ cho địa
chính xã; trước đó ông H có hỏi thủ tục tặng cho chỗ anh rể là Phan Văn T11
(chồng bà T3), công tác tại UBND xã G trước đây, hiện đã nghỉ hưu. Sau khi làm
thủ tục khoảng 2 tháng, cán bộ địa chính xã G báo vợ chồng ông H xuống lấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, có hai sổ: 01 sổ diện tích đất 420m
2
(đất ở 300m
2
,
đất vườn 120m
2
) thửa đất số 74, tờ bản đồ số 22; 01 sổ diện tích đất 173m
2
(đất
trồng cây lâu năm 88m
2
, đất nuôi trồng thuỷ sản 85m
2
) thửa đất số 103, tờ bản đồ
7
số 22, đều mang tên Nguyễn Văn H, Trần Thị H1 do Sở nguyên và Môi trường
tỉnh Nam Định cấp ngày 18/12/2018.
Khi vợ chồng ông H cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến trước
thời điểm xảy ra tranh chấp bố mẹ ông H vui vẻ không có ý kiến. Mẹ ông H mất
24/6/2023 (âm lịch), khi đến 49 ngày mẹ anh, bố ông H tự nhiên đòi Giấy chứng
nhận quyền sử dụng mà bố mẹ ông H đã làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất,
nguyên nhân do chị gái là Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị X xúi giục
bố ông H đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng.
Từ khi được cấp giấy chứng nhận cho đến thời điểm mẹ ông H mất thì vợ
chồng ông H sử dụng đất ổn định, gia đình cũng không ai có ý kiến gì. Sau khi
mẹ ông H mất vào tháng 6 năm 2023 thì chị gái ông H là bà Đ có nói vợ chồng
ông H cắt cho 01 xuất đất 5m nhưng ông H không nhất trí nên sau đó xảy ra mâu
thuẫn gia đình. Sau đó không hiểu lý do gì bố anh lại làm đơn ra xã đòi đất. Xã đã
tiến hành hòa giải nhưng không thành. Nay bố ông H làm đơn khởi kiện đề nghị
vợ chồng ông H hủy 01 hợp đồng tặng cho, Giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa
đất số 74 và trả lại bố anh phần diện tích đất 210m
2
(phần đất có từ đường họ N2
và căn nhà nơi ông H đang ở) thì ông H không nhất trí.
Quan điểm của ông H như sau: Phần diện tích đất đã xây từ đường họ Nguyễn
từ năm 2000, sửa chữa lại năm 2020 (có diện tích khoảng (7 x12) m
2
thì vợ chồng
ông H nhất trí để sử dụng chung làm nơi thờ cúng; Phần diện tích nhà đất bố ông
H xây nhà đang ở thì bố ông H tiếp tục sử dụng cho đến khi qua đời.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
+ Bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Năm 2018, ông H có xuống nhờ bà Đ nói với
bố bà Đ cho mượn sổ đỏ để vay vốn làm ăn. Đến năm 2020 sửa lại từ đường có
tranh chấp đất với nhà bên cạnh thì ông H mới đưa sổ đỏ ra thì mọi người mới
biết sự việc. Khi ông H lấy sổ đỏ có khoe là đã được cấp. Bà Đ có nói nếu bố bà
Đ đã cho ông H thì ông H cứ nhận, còn thửa đất ông cha thì để cho bố bà Đ. Bà
Đ cũng chỉ nghĩ là chỉ được cấp thửa đất bên ngoài.
Nay ông N khởi kiện đòi đất thì đề nghị vợ chồng ông H trả lại ông N thửa
đất số 74, còn thửa đất số 103, ông N đã cho vợ chồng ông H thì bà Đ không có ý
kiến gì.
+ Ông Nguyễn Văn Đ1 trình bày: ông Đ1 mong muốn ông N và ông H hoà
giải để giải quyết trong gia đình; ông Đ1 cũng đã trao đổi với ông H để trả lại đất
cho ông N. Còn nếu không hoà giải được thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy
định của pháp luật.
8
+ Bà Nguyễn Thị V trình bày: Đối với thửa đất số 103 đã cho vợ chồng ông
H thì bà V không có ý kiến gì. Còn thửa số 74 thì đề nghị trả lại cho ông N.
+ Bà Nguyễn Thị T3 trình bày: Khi ông H mang 02 sổ đỏ ra nhà bà T3 thì có
chồng bà T3 ở nhà chứ bà T3 không ở nhà. Khi về thì chồng bà T3 có nói là sao
ông N, bà M còn khoẻ mà đã sang tên hết vợ chồng ông H. Bà T3 có gọi điện
thoại cho ông N thì ông N có nói là chỉ ký cho mượn sổ đỏ để vay tiền. Bà T3 gọi
cho bà Đ thì bà Đ cũng nói ông N chỉ cho vợ chồng ông H mượn sổ để vay vốn
làm ăn chứ không chuyển nhượng gì. Quan điểm của bà T3 đề nghị ông H trả lại
thửa đất số 74, diện tích 420m
2
cho ông N; còn thửa số 103 diện tích 173m
2
đã
cấp cho vợ chồng ông H thì bà T3 không có ý kiến gì.
+ Ông Nguyễn Văn H3 trình bày: Quan điểm của ông H3 đề nghị ông H trả
lại thửa đất số 74, diện tích 420m
2
cho ông N; còn thửa số 103 diện tích 173m
2
đã
cấp cho vợ chồng ông H thì ông không có ý kiến gì.
+ Ông Nguyễn Văn K trình bày: Ông K nhất trí với ý kiến của ông N. Trên
thửa đất số 74 hiện nay có từ đường của dòng họ 04 ngành, có nhà của ông N đang
ở và phần đất chú H đang sử dụng. Đối với thửa đất này thì ông N cắt cho vợ
chồng ông H bao nhiêu thì tuỳ ông N, còn phần từ đường thì tiếp tục để làm từ
đường, phần đất ông N sử dụng khi mất đi thì để anh em trong gia đình làm nơi
thờ cúng chung.
Ông K được các thành viên của từ đường Họ Nguyễn uỷ quyền thay mặt
cho các thành viên của từ đường là để đảm bảo quyền lợi cho các thành viên từ
đường sau này tránh xảy ra tranh chấp nếu như công nhận cho vợ chồng ông H
được sử dụng thửa đất số 74 diện tích 420m
2
trong đó liên quan đến đất từ đường
thì hậu quả sau này không thể lường hết được. Bản thân vợ chồng ông N đã hiến
đất để làm từ đường do vậy các con, cháu của Họ N2 đã góp tiền vào xây dựng từ
đường và từ đường đã có khuôn viên rõ ràng nhưng lại nằm trong thửa đất của
ông N. Vì vậy, đề nghị Toà án căn cứ vào quy định của pháp luật để xem xét.
- Ý kiến của UBND xã G:
Thời điểm ông Nguyễn Văn N làm thủ tục Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất đối với ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị H1 là ở xã G, khi sự việc xảy ra
UBND xã G đã tiến hành hòa giải giữa ông N và ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị
H1 nhưng các bên không thành (biên bản hòa giải ngày 09/01/2025). Do các bên
không thống nhất thỏa thuận được nên ông Nguyễn Văn N đã làm đơn khởi kiện
đối với vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị H1 ra Tòa án để giải quyết.
Về thủ tục Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất: Khi vợ chồng ông Nguyễn
9
Văn N đến UBND xã G nay là xã UBND xã G đề nghị sang tên sổ đỏ cho vợ
chồng con trai là Nguyễn Văn H, Trần Thị H1. Anh Vũ Văn K1 - chuyên viên
Phòng kinh tế hiện nay chính là người trực tiếp làm hồ sơ, giấy tờ tặng cho giúp
bố con ông N. Bản thân ông Trần Xuân R là chủ tịch UBND xã G thời kỳ đó còn
nói chuyện với ông N về việc tặng cho hết cả 02 thửa đất cho vợ chồng ông H, bà
H1 nhưng vợ chồng ông N không có ý kiến gì mà vẫn tiến hành làm thủ tục tặng
cho 02 thửa đất cho anh H, chị H1. Ông R là người ký chứng thực cả 02 Hợp đồng
tặng cho.
Nay ông N khởi kiện quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn H và bà
Trần Thị H1 cũng như đề nghị Tòa án huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất,
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H,
bà Trần Thị H1. Để đảm bảo quyền lợi của đôi bên đương sự, đề nghị Tòa án căn
cứ vào quy định của pháp luật để xem xét giải quyết.
* Ý kiến của của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh N.
- Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số CL 277875, CL 277876 ngày 18/12/2018 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh N đã cấp cho ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị H1.
Hồ sơ đăng ký biến động đất đai trường hợp tặng cho của ông Nguyễn Văn
H và bà Trần Thị H1 gồm có:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M755286 do UBND huyện G cấp
ngày 01/7/1998 mang tên hộ ông Nguyễn Văn N trong đó có thửa đất số 74, tờ
bản đồ 22, diện tích 420m
2
(trong đó đất ở 300m
2
, đất vườn 120m
2
) và thửa đất
số 103, tờ bản đồ số 22, diện tích 430m
2
(trong đó đất ở 35m
2
, đất vườn tạp 26m
2
,
đất ao nuôi cá 135 m
2
). Thửa đất số 103, tờ bản đồ số 22 đã chuyển nhượng 257m
2
(trong đó đất ở 35m
2
, đất vườn 172m
2
, đất ao 50m
2
) năm 200), diện tích còn lại
173m
2
(trong đó đất trồng cây lâu năm 88 m
2
, đất nuôi trồng thuỷ sản 85m
2
).
- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn N, bà Đinh
Thị M, ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị H1 được UBND xã G, huyện G, tỉnh
Nam Định chứng thực số 157, 158 quyển số 01 - SCT/HĐGD ngày 07/11/2018.
- Đơn đề nghị đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất, mẫu số 09/ĐK; đơn đề nghị cấp lại đổi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, Mẫu số
10/ĐK.
- Ngày 13/11/2018 Chi nhánh phòng Đ5 có Phiếu chuyển thông tin địa chính
số 2911/PCTTĐC đến Chi cục G.
10
- Ngày 13/11/2018, Chi cục G có thông báo nộp lệ phí trước bạ, đất (chủ tài
sản thuộc diện không phải nộp lệ phí trước bạ theo quy định tại điểm 10, Điều 9
Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính Phủ), khai thu nhập
cá nhân (số tiền thuế thu nhập cá nhân phải nộp là không đồng).
- Ngày 18/12/2018, Sở nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định ký Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền đất số CL
277876; CL 277875 mang tên ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị H1.
Căn cứ vào hồ sơ, tài liệu, Điều 95, khoản 3 Điều 105 Điều 188 của Luật đất
đai năm 2013, khoản 1 Điều 37 và khoản 2 Điều 79 Nghị định 43/201/NĐ-CP
của Chính phủ quy đinh chi tiết một số điều của Luật Đất đai thì việc Sở nguyên
và Môi trường tỉnh Nam Định ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 277876, CL 277875 mang tên
ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị H1 là đúng quy định của pháp luật.
Việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số CL 277875, CL 277876 ngày 18/12/2018 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh N đã cấp cho ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị H1 chỉ
được thực hiện sau khi có bản án hoặc quyết định của Toà án đã được thi án hoặc
văn bản kiến nghị của cơ quan thi hành án về việc thi hành bản án, quyết định
theo quy định của pháp luật, trong đó có nội dung yêu cầu thu hồi giấy chứng
nhận đã cấp.
* Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản (ngày 21/11/2025):
- Giá đất ở theo giá nhà nước quy định tại vị trí đất tranh chấp là
4.500.000đ/m
2
. Giá đất ở theo giá trị thị trường là 12.000.000đ/m
2
- Đất nông nghiệp theo quy định của nhà nước là 75.000đ/m
2
, sau khi chuyển
đổi mục đích sang đất ở là 4.500.000đ/m
2
* Đối với giá trị công trình tại vị trí đất tranh chấp:
- Nhà ông H xây dựng 2009 đã hết giá trị khấu hao.
- Bếp quây tôn do ông H xây dựng có giá 22.000.000 đồng.
bộ mái tôn do ông H xây dựng có giá là 67.500.000 đồng.
- 01 nhà mái bằng do ông N xây dựng có giá trị còn lại 230.000.000 đồng.
- Từ đường họ Nguyễn có giá trị còn lại là 270.000.000 đồng.
Diện tích đo đạc thực thực tế thửa đất đang tranh chấp: 549,8m
2
;
* Kết quả thu thập tài liệu chứng cứ tại UBND xã G.
11
- Về mối quan hệ: Ông Nguyễn Văn N và anh Nguyễn Văn H là quan hệ bố
con với nhau.
- Về nguồn gốc đất đang tranh chấp:
Theo bản đồ địa chính lập năm 1987 thì thửa đất đang tranh chấp là thửa số
651, tờ bản đồ số 3b, diện tích 504m
2
(đất ở 316m
2
và đất ao là 188m
2
), đứng tên
chủ sử dụng là Nghị.
Theo Sổ địa chính lập năm 1998 thửa đất số 74, tờ bản đồ số 22 thể hiện diện
tích đất là 420m
2
, còn Bản đồ địa chính xã G nay thuộc xã G, lập năm 1998 thì
thửa đất tranh chấp là thửa số 74, tờ bản đồ số 22, diện tích 560 m
2
(đất ở 300m
2
,
đất trồng cây lâu năm 120m
2
, trong đó có 140m
2
(LNK) là đất của Uỷ ban, đứng
tên chủ sử dụng là Nghị.
Việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ ông N là cấp đại trà, căn cứ vào số
liệu Sổ địa chính năm 1998.
Theo kết quả đo đạc thực tế ngày 21/11/2025: Diện tích thửa đất tranh chấp
là 549,8m
2
.
Diện tích hiện trạng tăng lên là do các hộ sử dụng đất lấn ra đất Ủy ban
(140m
2
).
So sánh với số liệu trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (420m
2
) thì sau
khi trừ 140m
2
đất Ủy ban (549,8 – 140) m
2
thì hiện trạng sử dụng đất giảm 10,2m
2
,
(420 – 409,8) m
2
.
Lý do diện tích tăng giảm diện tích là do sai số qua các lần đo đạc và do các
hộ tự chỉ nhận mốc giới.
* Về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông N và vợ chồng
anh H: Theo địa phương cung cấp thì bản thân vợ chồng ông N tự xuống UBND
xã G nay là xã G đề nghị sang tên sổ đỏ cho vợ chồng con trai là anh Nguyễn Văn
H và chị Trần Thị H1. Anh Vũ Văn K2 - chuyên viên phòng Kinh tế hiện nay
chính là người trực tiếp làm hồ sơ, giấy tờ tặng cho giúp bố con ông N. Bản thân
ông Trần Xuân R là chủ tịch UBND xã G thời kỳ đó còn nói chuyện với ông N về
việc tặng cho hết cả 02 thửa đất cho vợ chồng anh H, chị H1 nhưng vợ chồng ông
N không có ý kiến gì mà vẫn tiến hành làm thủ tục tặng cho 02 thửa đất cho anh
H, chị H1. Ông R là người ký chứng thực cả 02 hợp đồng tặng cho.
* Lý do xảy ra tranh chấp: Năm 2020, thửa đất 74 được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị H1 vào ngày
18/12/2018 theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Nguyễn
12
Văn H và bà Đinh Thị M (đã chết năm 2023) tặng cho vợ chồng anh H, chị H1.
Tuy nhiên, vừa qua ông N cho rằng năm 2018 chỉ ký cho anh H, chị H1 mượn sổ
đỏ để vay vốn ngân hàng chứ không phải ký tặng cho đất vợ chồng anh H, chị H1.
UBND xã đã tiến hành hòa giải, anh H đã nhất trí trả lại một nửa diện tích đất là
210m
2
cho ông N (phần có nhà ông N đang ở và từ đường đã xây trước đó). Tuy
nhiên, anh H đang cầm sổ đỏ bên ngoài để lấy vốn làm ăn nên chưa tách đất cho
ông N được, ông N không nhất trí nên đã khởi kiện ra Tòa án.
Quan điểm của địa phương: Để đảm bảo tình cảm của các thành viên trong
gia đình đề nghị Tòa án tiếp tục tiến hành hòa giải để các bên đi đến thoả thuận,
trường hợp các bên không thống nhất được với nhau thì căn cứ vào quy định của
pháp luật giải quyết.
Bản án sơ thẩm số 105/2026/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình đã quyết định:
1. Căn cứ vào Điều 117, Điều 130, Điều 218 của Bộ luật dân sự; Điều 98
Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N đối với ông
Nguyễn Văn H và bà Trần Thị H1.
- Hủy một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông
Nguyễn Văn N, bà Đinh Thị M với ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị H1 đối với
thửa đất số 74, tờ bản đồ số 22, diện tích 420m
2
ở xóm A, xã G, huyện G, tỉnh
Nam Định nay là Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình lập ngày 01/11/2018 mà UBND
xã G đã chứng thực.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 277875, ngày 18/12/2018
của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N nay là Sở Nông nghiệp và trường tỉnh
N đã cấp cho ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị H1 đối với thửa đất số 74, tờ bản
đồ số 22 diện tích 420m
2.
.
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm trả lại diện tích đất
210m
2
cho ông Nguyễn Văn N (trong diện tích đất này có cả diện tích của các
thành viên từ đường họ Nguyễn, khi ông N làm thủ tục đất đai theo quy định của
pháp luật thì ông N và các thành viên từ đường thực hiện theo quy định của pháp
luật)
13
Đương sự có trách nhiệm liên hệ đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo quyết định của bản án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị H1 phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn N được miễn án phí.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 22 tháng 4 năm 2026 bị đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm
số 105/2026/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10
- Ninh Bình đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã
phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thư ký, Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết
vụ án ở cấp phúc thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm đã thực hiện đúng quy
định của pháp luật. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Kiểm sát viên tham gia phiên toà đã phân tích các tình tiết vụ
án và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử: không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2026/DS-ST
ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật nên
được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về đảm bảo quyền tham gia phiên tòa phúc thẩm: những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
Tòa án xét xử vắng mặt những người này.
14
[1.3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm. Do đó, căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc
thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm theo nội dung đơn kháng cáo của bị đơn.
[2] Nội dung vụ án và kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Về tài sản tranh chấp
Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét công khai tại phiên toà đã xác
định được: đối tượng tranh chấp theo nội dung khởi kiện của nguyên đơn là quyền
sử dụng thửa đất số 74, tờ bản đồ số 22, diện tích 420m
2
ở xóm A, xã G, huyện
G, tỉnh Nam Định nay là Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CL 277875, ngày 18/12/2018 của Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh N nay là Sở Nông nghiệp và trường tỉnh N đã cấp cho ông Nguyễn
Văn H, bà Trần Thị H1. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản
(ngày 21/11/2025) đã xác định tại vị trí đất tranh chấp có các tài sản: nhà ông H
xây dựng năm 2009 đã hết giá trị khấu hao; Bếp quây tôn do ông H xây dựng có
giá 22.000.000 đồng; Toàn bộ mái tôn do ông H xây dựng có giá là 67.500.000
đồng; 01 nhà mái bằng do ông N xây dựng có giá trị còn lại 230.000.000 đồng;
Từ đường họ Nguyễn có giá trị còn lại là 270.000.000 đồng.
[2.2] Về nguồn gốc, quyền sử dụng, diện tích đất tranh chấp:
Theo bản đồ địa chính lập năm 1987 thì thửa đất đang tranh chấp là thửa số
651, tờ bản đồ số 3b, diện tích 504m
2
(đất ở 316m
2
và đất ao là 188m
2
), đứng tên
chủ sử dụng là Nghị.
Theo Sổ địa chính lập năm 1998 thửa đất số 74, tờ bản đồ số 22 thể hiện diện
tích đất là 420m
2
, còn Bản đồ địa chính xã G nay thuộc xã G, lập năm 1998 thì
thửa đất tranh chấp là thửa số 74, tờ bản đồ số 22, diện tích 560m
2
(đất ở 300m
2
,
đất trồng cây lâu năm 120m
2
, trong đó có 140m
2
(LNK) là đất của Uỷ ban, đứng
tên chủ sử dụng là Nghị. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
M755286 do UBND huyện G cấp ngày 01/7/1998 mang tên hộ ông Nguyễn Văn
N là cấp đại trà, căn cứ vào số liệu Sổ địa chính năm 1998.
Theo kết quả đo đạc thực tế ngày 21/11/2025: Diện tích thửa đất tranh chấp
là 549,8m
2
. Diện tích hiện trạng tăng lên là do các hộ sử dụng đất lấn ra đất Ủy
ban (140m
2
). So sánh với số liệu trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (420
m
2
) thì sau khi trừ 140m
2
đất Ủy ban (549,8 – 140) m
2
thì hiện trạng sử dụng đất
giảm 10,2 m
2
, (420 – 409,8) m
2
. Lý do diện tích tăng giảm diện tích là do sai số
qua các lần đo đạc và do các hộ tự chỉ nhận mốc giới.
15
[2.3] Xét, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn N,
bà Đinh Thị M, ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị H1 được UBND xã G, huyện G,
tỉnh Nam Định chứng thực số 157, quyển số 01 - SCT/HĐGD ngày 07/11/2018;
thửa đất số 74, tờ bản đồ 22, diện tích 420m
2
(trong đó đất ở 300m
2
, đất vườn
120m
2
) chỉ có chữ ký của ông Nguyễn Văn N, ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị
H1 và điểm chỉ của bà Đinh Thị M, không có sự đồng ý của các thành viên họ
Nguyễn trong khi đó trên thửa đất còn tồn tại từ đường của các thành viên họ
Nguyễn đã được các đương sự thừa nhận là vi phạm quy định về định đoạt tài sản
chung theo Điều 218 BLDS 2015. Vì vậy Hợp đồng tặng cho nêu trên đã vi phạm
điều cấm của luật nên vô hiệu một phần đối với diện tích từ đường họ N2 đang sử
dụng. Do đó, bản án sơ thẩm đã xác định Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
giữa vợ chồng ông N, bà M và vợ chồng ông H, bà H1 vô hiệu một phần đối với
phần diện tích từ đường họ Nguyễn nên ông H, bà H1 phải trả lại diện tích đó còn
những phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực pháp luật là đúng quy định của
pháp luật.
[2.4] Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 277875, ngày 18/12/2018
của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N nay là Sở Nông nghiệp và trường tỉnh
N căn cứ vào: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn N, bà
Đinh Thị M và vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị H1 được UBND xã G,
huyện G, tỉnh Nam Định chứng thực số 157, quyển số 01 - SCT/HĐGD ngày
07/11/2018; Đơn đề nghị đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, mẫu số 09/ĐK; đơn đề nghị cấp lại đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất,
Mẫu số 10/ĐK, không có tài liệu xác minh hiện trạng sử dụng đất. Trong khi đó,
tại thời điểm tặng cho quyền sử dụng đất trên thửa đất số 74, tờ bản đồ 22 đã tồn
tại nhà thờ họ Nguyễn do các thành viên dòng họ xây dựng, quản lý, sử dụng vào
mục đích tâm linh tín ngưỡng. Việc không xác minh hiện trạng, không lấy ý kiến
dòng họ mà cấp quyền sử dụng đất toàn bộ thửa đất số 74, tờ bản đồ 22 cho vợ
chồng ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị H1 là cấp sai đối tượng, vi phạm nguyên
tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất theo quy định tại Điều 98 Luật Đất đai năm 2013. Bản án sơ thẩm
đã hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 277875, ngày 18/12/2018 của
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N nay là Sở Nông nghiệp và trường tỉnh N đã
cấp cho ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị H1 đối với thửa đất số 74, tờ bản đồ số
22 và tuyên các đương sự có trách nhiệm liên hệ đăng ký quyền sử dụng đất với
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở.
16
[2.5] Tại Biên bản hoà giải ngày 09/01/2025 của UBND xã G (BL24) giữa
ông N và vợ chồng ông H, vợ chồng ông H đã cam kết đến hết tháng 6 năm 2025
sẽ tách diện tích 210m
2
cho ông N. Phần diện tích đất mà vợ chồng ông H đã cam
kết trả cho ông N tồn tại căn nhà ông N đang ở và từ đường Nguyễn, không liên
quan đến các công trình của vợ chồng ông H. Ông N hiện tuổi cao, sức yếu, không
còn nơi nào khác để ở nên bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông N buộc ông H, bà H1 trả lại phần diện tích đất có căn nhà ông N đang ở và từ
đường họ Nguyễn là phù hợp.
[2.6] Tại phiên toà phúc thẩm: người kháng cáo không xuất trình thêm chứng
cứ mới nên không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn.
[2.7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo không được chấp
nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148, Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Trần
Thị H1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2026/DS-ST ngày 16 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị H1 phải chịu
án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm
ứng án phí kí hiệu BLTU/26E số 0001489 ngày 23/4/2026 của Thi hành án dân
sự tỉnh Ninh Bình.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- TAND Khu vực 10 - Ninh Bình;
- Phòng GĐ, Ktr,TTr-THA;
- Các đương sự;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHC THM
17
- Lưu: Hồ sơ vụ án; VT.
THM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Huy Lưỡng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 139/2026/DS-PT Bản án số 139/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 139/2026/DS-PT Bản án số 139/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất