Bản án số 83/2026/HS-PT ngày 11/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 83/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 83/2026/HS-PT ngày 11/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 83/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ 00 phút đến 22 giờ 50 phút tối ngày 04/10/2025 tại quán bán hàng của bị cáo Nguyễn Xuân T, thuộc địa phận thôn X, xã V, tỉnh Phú Thọ các bị cáo Nguyễn Xuân T, Nguyễn Xuân T2, Lê Duy N, Ngô Văn C1, Lê Thành C2 và Lê Tiến T5 đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc ăn tiền trái phép, bằng hình thức chơi bài tây 03 cây với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 12.500.000 đồng, thì bị Công an xã V, tỉnh Phú Thọ tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 83/2026/HS-PT Bản án số 83/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 83/2026/HS-PT Bản án số 83/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 83/2026/HS-PT
Ngày 11 - 6 - 2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thnh phn Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn, bà Bùi Thị Đoan Trang
- Thư phiên a: Nguyễn Thị Hà - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Ông Nguyn Cao Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, t
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 35/2026/TLPT-HS ngày 03
tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Xuân T, do kháng cáo ca b cáo,
đối với Bản án hình sự thẩm số: 35/2026/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2026
ca Tòa án nhân dân Khu vc 10, tnh Phú Th.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Xuân T, sinh ngày 01 tháng 7 năm 1976;
tại T, tỉnh Phú Thọ; nơi trú: thôn Đ, T, tỉnh Phú Thọ; CCCD số:
************; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn
Xuân Đ Nguyễn Thị T1; vợ Thị H 03 con, tiền án, tiền sự:
không; nhân thân: Ngày 02/4/2010 bị Công an huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc xử
phạt nh chính số tiền 5.000.000 đồng về hành vi sản xuất hàng giả; ngày
05/4/2010 đã nộp phạt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2025 đến ngày 10/10/2025 được thay thế
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú. Hiện tại ngoại tại địa phương,
mặt”.
Ngoài ra trong vụ án còn các bị o không kháng cáo, kháng nghị
nên Tòa án không triệu tập.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 04/10/2025, Nguyễn
Xuân T đang quán B1 của mình thôn X, V, tỉnh Phú Thọ thì Nguyễn
Xuân T2 Duy N đến quán bia của T chơi. Tại đây T, N T2 cùng rủ
nhau đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi ba cây ăn tiền, thì cả ba đều đồng ý
và thống nhất cách thức chơi và tính thắng thua như sau: S dng b bài tulokho
36 quân t quân A (Át) đến quân 9 đ s dng làm công c đánh bạc. Trong s
người chơi sẽ chn ra một người cầm chương trước. Người cầm chương có trách
nhim chia i cho những người chơi và trực tiếp nhận đặt cược tin vi nhng
người chơi còn lại, mỗi người chơi đặt cược với người cầm chương s tin thp
nhất 100.000đ/người/ván (T3 gọi “Chống cửa”), còn ai muốn đặt cược cao
hơn thì tuỳ tho thun với người cầm chương. Người cầm chương chia cho mỗi
người tham gia đánh bạc 03 quân bài, sau đó người chơi sẽ cng tổng điểm 03
quân bài ca mình li, b đi số đim hàng chc, ch ly s đim hàng đơn v để
đối chiếu điểm ca mình với điểm ca người cầm chương. Ai điểm cao hơn
đim của chương thì người đó thắng được chương trả cho s tiền tương ng
vi s tiền mình đặt cược cho ván bài đó. Ngược li, nếu ai đim thấp hơn
đim của chương thì người đó thua mất s tiền đặt cược của ván bài đó cho
chương. Ai được 9 điểm hoặc 10 điểm (T3 gi "Tới") cao hơn đim ca
chương thì người đó thắng và được chương trả cho s tin gp 02 ln s tiền đặt
ợc cho ván bài đó ngược li. Nếu người cầm chương được 10 đim ttt
c người chơi phải tr cho người cầm chương gấp đôi số tiền mình đã đặt. Ai có
đim bằng điểm của chương thì tính thắng thua theo hoa văn trên các quân bài
vi th t t cao xung thp là: Rô, C, T4, B. Trong đó, quân "Át rô" được coi
là quân cao nht, ri tính theo th t thp dn t quân 9 đến quân 2. Đối vi các
quân hoa văn C, T4, B thì quân 9 được tính cao nht, ri tính theo th t
thp dn t quân 8 đến quân A (Át). Nếu ai 03 quân bài lin k nhau đồng
chất tđược gi "Dây" s được chương trả cho s tin gp 03 ln s tin
đặt cược cho ván bài đó và ngưc li. Nếu ai 03 quân bài trong mt b t thì
đưc gi "Sáp" s được chương trả cho s tin gp 04 ln s tiền đặt cược
cho ván bài đó và ngược lại. Khi lên bài xét điểm vi nhau thì b "Sáp" được coi
là cao nht rồi đến "Dây" và cui cùng mới là tính điểm. Nếu ai có s đim chn
chục (10 đim hoặc 20 điểm) thắng điểm chương thì sẽ giành đưc quyn
cầm chương.
Sau khi thng nht tho thuận như trên, T lấy 01 chiếc chiếu nhựa màu
vàng trải ra nền và 01 bộ bài tulokhơ gồm 36 quân bài có sẵn ở quán, rồi các đối
tượng ngồi xuống chiếu để đánh bạc với nhau, vị trí ngồi lần lượt, cụ thể: Ngồi
3
bên tay phải T là N, bên tay trái T là Tạm.
Khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, khi T, T2 N đang đánh bạc thì
Ngô Văn C1, đi bộ đến quán và ngồi xem các đối tượng đánh bạc với nhau. Đến
khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, lần lượt Thành C2, Tiến T5 đi bộ
đến và ngồi xuống tham gia đánh bạc cùng T, N, T2. Trong quá trình ngồi xem
đánh bạc, Ngô Văn C1 đã sử dụng kết quả bài của Lê Thành C2 để đánh bạc với
Tiến T5. Khi C1 T5 đánh bạc với nhau, các bị cáo T, T2, N C2 đều
biết, đều đồng ý cho C1 sử dụng kết quả bài của C2 để so với bài của T5 làm
căn cứ xác định thắng thua. Sau đó C1 T5 đã đánh bạc với nhau 03 ván, cụ
thể: Ván thứ 01 đặt cược 200.000đ thì C1 thắng, ván thứ 2 đặt cược 500.000đ và
ván thứ 3 đặt cược 200.000đ thì C1 đều thua.
Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 22 giờ 50 phút ngày 04/10/2025,
Công an xã V, tỉnh Phú Thọ tiến hành kiểm tra tại quán B1 phát hiện bắt quả
tang 06 đối tượng đang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi bài ba
cây ăn tiền với nhau. Công an xã V đã lập biên bản quả tang.
* Vật chứng thu giữ:
- T6 tại chiếu bạc: Số tiền 12.500.000đ, 01 bộ bài khơ 36 quân, 01
chiếc chiếu nhựa màu vàng đã cũ và đã qua sử dụng.
- Kiểm tra, thu giữ trên người của các bị cáo:
+ Thu giữ của Nguyễn Xuân T: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Apple, loại Iphone 7 plus, màu hồng, số IMEI: 359475080240832, bên trong
gắn 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0985.671.633.
+ Thu giữ của Tiến T5: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo,
loại A31, màu đen, số IMEI 1: 869319040967733, số IMEI 2:
869319040967725, bên trong gắn 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao
0355.675.540; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13Pro, màu
đen, số IMEI 1: 8611140602465460, số IMEI 2: 861114062465478 bên trong
gắn 02 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0986.215.781 và 0983.363.113.
+ Thu giữ của Nguyễn Xuân T2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Vivo, loại 2015, màu xanh, số IMEI 1: 864739049361098, số IMEI 2:
86473904936180, bên trong gắn 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao
0339.920.642.
+ Thu giữ của Duy N: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple,
loại Iphone XS Max, màu vàng đồng, số IMEI 1: 353106102482260, số IMEI 2:
353106102499512, bên trong gắn 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao
0889.655.560.
4
+ Thu giữ của Thành C2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo,
màu xanh, số IMEI 1: 865732059114977, số IMEI 2: 865732059114969, bên
trong gắn 01 thẻ sim điện thoại, mang số thuê bao 0393.063.191.
+ Thu giữ của Ngô Văn C1: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple,
loại Iphone 12 Pro Max, màu đen, số IMEI: 359015636347960, bên trong gắn
01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0822.318.666.
Sau khi thụ xác minh, ngày 05/10/2025, Công an V đã báo cáo,
chuyển hồ vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P để giải quyết theo thẩm
quyền. Tại quan điều tra Nguyn Xuân T, Nguyn Xuân T2, Duy N, Ngô
Văn C1, Thành C2 Tiến T5 đã khai nhận nh vi vi phm ca bn
thân và đồng bn vi vai trò c th như sau:
- Nguyn Xuân T ch nhà, tạo điều kin v địa điểm cho các b cáo
đánh bạc ti quán bia ca nmình, người đồng khởi xướng, chuẩn bị dụng
cụ đánh bạc gồm: 01 chiếc chiếu nhựa và 01 bộ bài khơ 36 quân. Bản thân
T trực tiếp tham gia đánh bạc ng các bcáo khác. Khi đánh bạc, T số tiền
2.800.000đ sử dng toàn b s tiền này để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T
đang thua số tiền 700.000đ.
- Nguyn Xuân T2 là người đồng khởi xướng, trực tiếp tham gia đánh
bạc. Khi đánh bạc, T2 s tiền 2.000.000đ sử dng toàn b s tiền này để
đánh bạc. Khi b bt qu tang, T2 đang thắng s tiền 2.200.000đ.
- Duy N người đồng khởi xướng, trực tiếp tham gia đánh bạc. Khi
đánh bạc, N s tiền 2.000.00sử dng toàn b s tiền này để đánh bạc.
Khi b bt qu tang, N đang thua số tiền 1.500.000đ.
- Thành C2 là người trực tiếp tham gia đánh bạc. Khi đánh bạc, C2
số tiền 2.700.00sử dng toàn b s tiền này để đánh bạc. Quá trình chơi,
C2 cho C1 s dng kết qu bài của mình để đánh bạc vi Lê Tiến T5. Khi b bt
qu tang, C2 đang thua số tiền 500.000đ.
- Lê Tiến T5 là người trực tiếp tham gia đánh bạc. Khi đánh bạc, T5 có s
tiền 2.500.000đ s dng toàn b s tiền này để đánh bạc. Ngoài đánh bạc
cùng với các bị cáo T, T2, N C2, T5 còn trực tiếp đánh bạc với Ngô Văn C1.
Khi b bt qu tang, T5 đang thắng s tin 1.000.000đ.
- Ngô Văn C1 s dng kết qu bài ca C2 để đánh bc trc tiếp vi
Tiến T5. Khi tham gia C1 đem theo số tiền 500.000đ sử dng toàn b s tin
này để đánh bạc. Khi b bt qu tang, C1 b thua hết s tiền 500.000đ.
Tng s tin các b cáo khai nhn s dng vào việc đánh bạc
12.500.000đ, số tin này phù hp vi s tin thu gi khi bt qu tang. Quá trình
5
đánh bạc không có ai thu tin h ca những người đánh bạc.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự thẩm số:
35/2026/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10,
tỉnh Phú Thọ, đã Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều
51; các Điều 17, 38, 58, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật
Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ
ban thường vụ Quốc hội xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 01 năm tù, thời hạn
tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/10/2025 đến
ngày 10/10/2025.
Ngoài ra bản án thẩm còn xử phạt Nguyễn Xuân T2 Duy N mỗi
bị cáo 10 tháng cho hưởng án treo; xphạt Thành C2 Tiến T5 mỗi
bị cáo 08 tháng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Ngô Văn C1 06 tháng
cho hưởng án treo. Đồng thời bản án còn xử vvật chứng, án phí tuyên
quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 10/3/2026 bị cáo Nguyễn Xuân T có đơn kháng cáo xin được hưởng
án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên toà sau khi tóm
tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá hành vi phạm tội xem xét các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo, đã phát biểu
đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều
357 của Bộ luật Tố tụng hình s: Chp nhn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân
T, sửa Bản án hình sự thẩm số: 35/2026/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2026
ca Tòa án nhân dân Khu vc 10 - Phú Th, xử phạt bị cáo T 01 năm cho
hưởng án treo thời gian thử thách gấp đôi.
Bị cáo T không ý kiến gì, không bào chữa khác và xin Hội đồng xét
xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hồ ván đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định hợp lệ, nên
được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp
thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự. Tại cấp thẩm tại phiên tòa phúc thẩm các bị o
không ý kiến hoặc khiếu nại do đó các hành vi, quyết định tố tụng của
6
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Về nội dung vụ án: Trong khoảng thời gian t22 giờ 00 phút đến 22
giờ 50 phút tối ngày 04/10/2025 tại quán bán hàng của bị cáo Nguyễn Xuân T,
thuộc địa phận thôn X, V, tỉnh Phú Thọ các bị cáo Nguyn Xuân T, Nguyn
Xuân T2, Duy N, Ngô Văn C1, Thành C2 Tiến T5 đã cùng nhau
thực hiện hành vi đánh bạc ăn tiền trái phép, bằng hình thức chơi bài tây 03 cây
với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc 12.500.000 đồng, tb Công an V,
tỉnh Phú Thọ tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật.
[4]. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp thẩm đã xét xbị cáo
Nguyễn Xuân T 01 năm về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều
321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[5.1]. Về nh tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra tại phiên a thẩm,
phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vhành vi phạm tội; bị
cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó bị cáo được
hưởng tình tiết giảm nhquy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bluật
Hình sự.
[5.2]. Ti cp phúc thm b cáo xut trình tài liu, chng c th hin đã
nộp số tiền 10.200.000đ theo biên lai thu số 0001977 ngày 04/6/2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh Phú Thọ, trong đó nộp phạt bổ sung 10.000.000đ
200.000đ án phí hình sự thẩm. Đây tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo
[6]. Bị cáo nơi trú ổn định, ràng được hưởng nhiều tình tiết
giảm nhẹ. Do đó đáng được hưởng chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp
luật hình sự đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, vì vậy
không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tại Trại giam, cho bị cáo
hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, giao bị
cáo cho chính quyền địa phương nơi trú giám sát, giáo dục trong thời gian
thử thách của án treo cũng đủ tác dụng giáo dục chung và phòng ngừa riêng.
[7]. Từ phân tích trên thấy rằng Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của
bị cáo T, sửa bản án thẩm cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên toà, đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu
án phí phúc thẩm.
[9]. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng
7
nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự: Chp nhn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T, sửa Bản án
hình sự sơ thẩm số: 35/2026/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân
dân Khu vc 10 - Phú Th.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Đánh bạc”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 01 (Một) năm cho hưởng án treo, thời
gian thử thách 02 (Hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc
thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân T cho Ủy ban nhân dân T, tỉnh Phú Thọ
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án trách
nhiệm phối hợp với quan, tchức, chính quyền địa phương nơi người đó
trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp thay đổi nơi trú thì thực hiện theo quy
định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được
hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình
sự 02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo
phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về án phí: Bị cáo T không phải chịu án phí phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Duy Sơn Bùi Thị Đoan Trang
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Xuân Trọng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 83/2026/HS-PT Bản án số 83/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 83/2026/HS-PT Bản án số 83/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất