Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT ngày 02/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 30/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT ngày 02/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 30/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/06/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 30/2026/HNGĐ-PT
Ngày 02-6-2026
V/v tranh chấp về ly hôn, chia tài
sản khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Phương
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Bích Diệp
Bà Đoàn Thị Hương Nhu
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Ông Nguyễn Văn
Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2026, tại trụ sToà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 13/2026/TLPT-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm
2026 về việc tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn.
Do bản án Hôn nhân gia đình thẩm số: 71/2025/HN-ST ngày 23
tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 2, thành phố Hải Phòng bkháng
cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 25/2026/QĐPT-HNGĐ
ngày 09 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số: 21/2026/QĐ-PT ngày
12/5/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn Đ, sinh năm 1967; số CCCD: ************; nơi
cư trú: Thôn T, xã A, thành phố Hải Phòng (chết ngày 05/01/2026);
Người kế thừa quyền, nghĩa v tố tụng của ông Đỗ Văn Đ:
1. Lương Th N (tức Lương Th Thu N), sinh năm 1972; số CCCD:
************; nơi cư trú: Thôn A, xã A, thành phố Hải Phòng; có mặt;
2. Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1996, số CCCD: ************; nơi cư trú: Thôn
A, xã A, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bị đơn: Lương Thị N (tức Lương Thị Thu N), sinh năm 1972; số CCCD:
************; nơi cư trú: Thôn A, xã A, thành phố Hải Phòng; có mặt;
2
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Lương Thị N (tức Lương Thị
Thu N: Lương Thị T - Luật sư Văn phòng L6 thuộc đoàn Luật thành phố H;
có mặt;
- Người làm chứng:
1. Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1953; nơi trú: Snhà E Quán R, A Hải
Phòng; có mặt;
2. Đỗ Thị L, sinh năm 1957; nơi trú: Số E L, phường K, thành phố Hải
Phòng; có mặt;
3. Ông Đỗ Văn Đ1, sinh năm 1958; nơi trú: Thôn T, N, thành phố Hải
Phòng; vắng mặt;
4. Bà Đỗ Thị L1, sinh năm 1962; nơi cư trú: Số E ngõ H đường N, Đ, phường
P, thành phố Hải Phòng; có mặt;
5. Ông Đỗ Văn Đ2, sinh năm 1965; nơi trú: Thôn T, N, thành phố Hải
Phòng; vắng mặt;
6. Ông Đỗ Văn L2, sinh năm 1970; nơi trú: Thôn T, N, thành phố Hải
Phòng; có mặt;
7. Bà Đỗ Thị L3, sinh năm 1975; nơi cư trú: Số B T, phường K, thành phố Hải
Phòng; có mặt;
- Người kháng cáo: Bà Lương Thị N (tức Lương Th Thu N) là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm,
nguyên đơn ông Đỗ Văn Đ trình bày:
Năm 1990, ông Đ kết hôn với Lương Thị H1 một con chung Đỗ
Văn L4, sinh ngày 17/3/1992. H1 bị tai nạn tàu hoả nên đã mất năm 1994. Đến
tháng 12 năm 1995, ông Đ kết hôn với Lương Thị Thu N do tự nguyện, sự
chứng kiến của hai bên gia đình. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc,
bình thường và có một con chung là anh Đỗ Văn H, sinh ngày 18/8/1996. Đến năm
2007, ông Đ bị tai nạn lao động, gẫy cột sống, liệt nửa người phải ngồi xe lăn nên
sinh hoạt hàng ngày gặp nhiều khó khăn. Bà N chăm sóc ông Đ đến năm 2013 thì
không chịu được nên bà N và con chung bỏ về gia đình nhà ngoại ở, bỏ mặc ông Đ
nên ông Đ phải nhờ cậy con chung với người vđầu anh L4 các anh chị em
của ông Đ. Năm 2017, anh L4 đi lao động ở Nhật Bản đến năm 2020 thì anh L4 lại
bị tai nạn mất tại Nhật Bản (anh L4 chưa có vợ con). Từ ngày bà N bỏ đi, hai bên
đã sống ly thân cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông
Đ yêu cầu được ly hôn với bà N.
Về con chung: Ông Đ N một con chung như đã trình bày. Hiện con
chung đã thành niên nên ông Đ không yêu cầu Toà án giải quyết.
3
Đối với yêu cầu của bà N về việc chia tài sản chung là diện tích đất ở 299m
2
,
tại thửa đất số 14, tờ bản đồ số 249-C, địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện A, thành phố
Hải Phòng, ông Đ không đồng ý. Lý do: Thứ nhất: Diện tích đất này có nguồn gốc
là của ông Đ người vợ đầu là bà H1 tạo lập từ năm 1991. Diện tích đất này nằm
trong tổng diện tích đất hơn 2.900m
2
(trong đó 1.900m
2
diện đất đầm của Hợp tác
T4 cho thuê khoán từ năm 1991 khoảng hơn 1000m
2
đất ruộng được nhập
chung từ khoảng năm 1995 -1997, thời điểm đo lại ruộng đất, thực hiện dồn điền,
đổi thửa). Năm 1992 ông Đ, bà H1 làm ngôi nhà vách đất. Đến năm 2021, Ủy ban
nhân dân huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 677095 đứng tên
ông Đ được quyền sử dụng diện tích đất 299m
2
. Diện tích đất này một phần
diện tích 1.900m
2
đất đầm của Hợp tác xã T4 cho ông Đ thuê khoán từ năm 1991.
Do ông Đ H1 sinh sống tại đó nên được chuyển mục đích thành đất nên
diện tích đất này tài sản chung của ông Đ vớiH1 người vợ đầu chứ không
phải là tài sản chung của ông Đ N. Thứ hai: N đã bỏ đi nên không được
hưởng tài sản này.
Khi N về chung sống cùng ông Đ thì trên đất chỉ mới 01 chòi mái
trong đầm. Đến năm 1996, khi bà N mang thai con chung là cháu H thì ông Đ,
N cùng nhau xây dựng căn nhà cấp 4 mái tôn, diện tích khoảng 30m
2
, cùng công
trình phụ, sân, chuồng lợn để sinh sống, hiện các tài sản này vẫn còn. Ly hôn, ông
Đ đề nghị Toà án giao ngôi nhà cấp 4 xây năm 1996 cho ông Đ sử dụng, ông Đ sẽ
có trách nhiệm trả tiền cho bà N ½ giá trị ngôi nhà.
Ngoài ra, năm 2020 ông Đ còn xây mới một ngôi nhà mái ngói một tầng, diện
tích khoảng 60m
2
hệ thống sân, cổng, tường bao. Nguồn tiền để xây ngôi nhà là
tiền bảo hiểm do anh L4 bị tai nạn chết (01/8/2020). Hiện tại, ông Đ là người quản
lý, sử dụng thửa đất.
Do vậy, tài sản chung của ông Đ, N chỉ một ngôi nhà cấp 4, mái tôn,
diện tích 30m
2
. Còn toàn bộ diện tích đất 299m
2
ngôi nhà mới xây dựng năm
2020 và các công trình khác trên đất là tài sản riêng của ông Đ.
Theo Đơn phản tố, bản tự khai quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ
thẩm, bị đơn bà Lương Thị N (Lương Thị Thu N) trình bày:
N ông Đỗ Văn Đ kết hôn do tự nguyện, được hai bên gia đình chứng
kiến tổ chức lễ cưới theo phong tục từ năm 1995. Sau đó, N về chung sống
cùng ông Đ tại thôn T, A (trước M, huyện A), thành phố Hải Phòng. Nhưng
đến ngày 31 tháng 12 năm 2002, N ông Đ mới làm thủ tục đăng kết hôn
tại Ủy ban nhân dân M, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống
thời gian đầu, vợ chồng hoà thuận và sinh được một con chung là Đỗ Văn H, sinh
ngày 18/8/1996. Con riêng của ông Đ anh L4 cũng chung sống cùng vợ chồng
N. Sau đó quan hệ vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông Đ hay uống rượu, say
sỉn, chửi bới bà N, không quan tâm đến vợ con. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng
con chung đã lớn nên khoảng từ năm 2014 2015 N ng con chung đã về
4
nhà bố mẹ đẻ của bà N sinh sống; hai bên cũng sống ly thân từ đó, không còn quan
tâm đến nhau, tuy nhiên con chung là Đỗ Văn H vẫn thường xuyên về thăm ông Đ.
Nay ông Đ yêu cầu ly n, N đồng ý đề nghị Toà án giải quyết cho hai bên được
ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà N xác nhận có một con chung là anh Đỗ Văn H, sinh ngày
18/8/1996, không yêu cầu Toà án giải quyết do con chung đã thành niên.
Về tài sản chung: Tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng diện tích đất
299m
2
, tại thửa số 14, tờ bản đồ 249C, địa chỉ: Thôn T, xã A (cũ là xã M, huyện
A), thành phố Hải Phòng đã được Ủy ban nhân dân huyện A cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số DD 677095. Bà N về sinh sống cùng ông Đ trên diện tích đất
2.655m
2
đất đầm do Hợp tác thôn T cho ông Đ đấu thầu thuê dài hạn từ m
1992. Lúc đó toàn bộ diện tích đất này chỉ có biên bản ca Hợp tác xã giao cho ông
Đ, chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi bà N về diện tích đất này sinh
sống thì trên đất chỉ cái chòi trông cá. Năm 1996, thì vợ chồng N đã xây dựng
ngôi nhà cấp 4, diện tích 30m
2
, xây gạch chỉ, mái lợp tôn, công trình phụ, bếp, bể
nước, tường bao, cổng. Thời điểm đầu khi N về sinh sống tại diện tích thì khu
đất còn là đầm ao, đất chân tre rìa làng. Thời gian đầu vợ chồng bà N cấy lúa, sau
thì đào ao thả cá. Từ thời điểm đó cho đến năm 2015 (thời điểm N về nhà bố m
đẻ ở), bà N và ông Đ không xây dựng thêm công trình nào, còn sau năm 2015 ông
Đ xây dựng thêm công trình gì trên đất thì bà N không biết và không có đóng góp
gì. Nay ly hôn, bà N đề nghị Toà án phân chia cho bà N diện tích đất 100m
2
trong
tổng diện tích đất 299m
2
, tại thửa số 14, tờ bản đồ 249C ngôi nhà ông Đ, N
đã xây năm 1996; phần diện tích đất còn li trên đất có ngôi nhà do ông Đ mới xây,
N đồng ý chia cho ông Đ. Thời gian chung sống cùng ông Đ thì toàn bộ diện
tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi bà N về sinh sống
cùng bố mẹ đtông Đ đã tự ý đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với diện tích đất 299m
2
không trao đổi, thông báo với N. Năm
2021 thì Ủy ban nhân dân huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng
tên ông Đ được quyền sử dụng diện tích đất ở 299m
2
.
Đến ngày 27/11/2024, N đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án
huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sDD 677095 do Ủy ban nhân dân huyện
A cấp ngày 02/8/2022 cho người sử dụng đất là ông ĐVăn Đ chia tài sản chung
của vợ chồng như nêu trên. Tuy nhiên, ngày 25/6/2025, N đã làm đơn rút u
cầu đề nghị Toà án huỷ giấy chứng nhận này.
Với nội dung như trên, tại Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số
71/2025/HNGĐ-ST ngày 23/12/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 2, thành phố Hải
Phòng đã căn cứ vào khoản 1 Điều 51, các Điều 33, 55, 59 của Luật Hôn nhân
gia đình; Điều 213 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Đỗ Văn Đ Lương
Thị N (Lương Thị Thu N). Về tài sản chung: Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn
5
N về việc xác định thửa đất số 14, tờ bản đồ 249C, diện tích 299m
2
, địa chỉ: thôn
T, M, huyện A (nay A), thành phố Hải Phòng là tài sản chung của ông Đ
và bà N; không chấp nhận yêu cầu của N về việc chia cho bà N được quyền s
dụng diện tích đất 100m
2
trong tổng diện tích đất 299m
2
của thửa đất này. Chấp
nhận một phần yêu cầu của bị đơn xác định tài sản chung của ông Đ, bà N là ngôi
nhà 01 tầng, diện tích 30m
2
, trị giá 171.182.520
đồng, 01 bể nước 4m
3
, trị giá:
4.701.604 đồng; sân tông, diện tích: 90,2m
2
, trị giá 13.946.183 đồng, tổng cộng:
189.830.307 đồng. Ông Đ được quản tài sản nêu trên và trách nhiệm thanh
toán cho bà N số tiền là: 94.915.153 đồng và 150.000.000 đồng tiền công sức đóng
góp tôn tạo tài sản, tổng cộng: 244.915.153 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí; lãi suất chậm thi hành án
và tuyên quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/01/2026, bị đơn Lương Thị N (tức Lương
Thị Thu N) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đã xét xử cho vợ chồng bà N ly hôn
và chia tài sản khi ly hôn, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại v án chấp nhận
yêu cầu của N được phân chia diện tích đất 100m
2
và ngôi ncấp 4 trên phần
diện tích đất này.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn, N giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản
án, phân chia cho bà N được quyền sử dụng diện tích đất 100m
2
và ngôi nhà cấp 4
trên diện tích đất này vì hiện N con chung không chỗ phải nhờ gia đình
nhà ngoại. Đối với công trình phụ, bể nước xây dựng trên cả phần diện tích đất đã
được cấp giấy chứng nhận và phần đất chưa được cấp, bà N đồng ý trả đất khi nhà
nước có yêu cầu. Lý do: Khi cùng ông Đ sinh sống trên thửa đất này, bà N đã cùng
ông Đ tôn tạo, vật lập đất, xây dựng nhà ở và công trình phụ. Khi ông Đ bị tai nạn,
liệt nửa người, N đã chăm sóc ông Đ. Bà N phải về bên nhà ngoại ở là do ông Đ
luôn chửi, dùng vũ lực với bà N.
Tại phiên toà, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đ trình bày
không rút yêu cầu khởi kiện và đồng ý quản lý phần tài sản ông Đ được phân chia.
Trường hợp Toà án quyết định buộc ông Đ phải trả cho N một khoản tiền như
quyết định của bản án thẩm, anh H không đồng ý thực hiện nghĩa vụ này thay
ông Đ.
Những người làm chứng là các anh chị em của ông Đỗ Văn Đ là ông Đỗ Văn
T1, Đỗ Thị L, Đỗ Thị L1, ông Đỗ Văn L2 Đỗ Thị L3 thống nhất cho
biết: Các ông bà có quan hệ với ông Đ là các anh chị em ruột trong gia đình. Bố mẹ
đẻ của các ông cụ ĐVăn S (chết năm 1988) cụ Đỗ Thi K (chết ngày
11/8/2009). Cụ S và cụ K sinh được 08 người con là: ông bà Đỗ Văn T1, bà Đỗ Thị
L, ông Đỗ Văn Đ1, bà Đỗ Thị L1, ông Đỗ Văn Đ2, ông Đỗ Văn Đ, ông Đỗ Văn L2
và bà Đỗ Thị L3. Sau khi Toà án cấp sơ thẩm xét xử được khoảng 13 ngày thì ông
Đ chết (ngày 05/01/2026). Trước khi ông Đ chết, ông Đ lập Di chúc để lại nhà
6
toàn bộ diện tích đất nông thôn cho bốn người anh em trai của ông Đ (bao gồm
ông Đỗ Văn T1, ông Đỗ Văn Đ1, ông Đỗ Văn Đ2 và ông Đỗ Văn L2). Sau khi ông
Đ chết thì 07 anh chị em ruột của ông Đ thay nhau quản lý thửa đất và tài sản trên
đất. Nay N kháng cáo, quan điểm của các ông cho rằng quyết định của bản
án sơ thẩm là hợp lý. Ngoài ra, các ông bà cũng cho biết, nội dung Di chúc của ông
Đ cũng không chỉ định ai phải trách nhiệm thay ông Đ thực hiện nghĩa vụ trả
tiền cho N các ông cũng không đồng ý thực hiện nghĩa vụ này thay cho
ông Đ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự cơ bản đã chấp hành và thực hiện đúng các
quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm của Kiểm sát viên đối kháng cáo của bị đơn bà N: Toà án cấp sơ
thẩm không xác định diện tích đất 299m
2
, tại thửa số 14, tờ bản đồ 249C là tài sản
chung của ông Đ, N và xác định tài sản chung vợ chồng chỉ có căn nhà xây dựng
năm 1996, công trình phụ đồng thời tính công sức đóng góp tôn tạo tài sản cho bà
N số tiền 150.000.000 đồng căn cứ. Tuy nhiên, Toà án cấp thẩm không
phân chia giá trị còn lại của nhà, bể nước, sân bê tông (còn 10% - tương đương với
số tiền là 18.983.000 đồng) lại chia giá trị ban đầu của các tài sản này
(189.830.307 đồng) là không đúng. Hiện tại ông Đ đã chết, người thừa kế của ông
Đ là anh Đỗ Văn H và các anh chị em của ông Đ không đồng ý thực hiện nghĩa vụ
thay cho ông Đ hoàn trả cho N số tiền theo quyết định của bản án sơ thẩm.
Mặt khác, để đảm bảo cho bà N anh H chỗ ở, căn cứ khoản 2 Điều 308 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo
của N, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia cho bà N được quyền sử dụng diện
tích đất ở 100m
2
và ngôi nhà xây dựngm 1996 trên diện ch đất này, tại thửa s
14, tờ bản đồ 249C; các công trình bnước, sân, công trình phụ nằm ngoài diện
tích được cấp giấy chứng nhận tạm giao cho N sử dụng. Bà N không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án về ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do vụ án kháng cáo nên thuộc thẩm
quyền của Tòa Hôn nhân gia đình phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hải
Phòng quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Kháng cáo của bị đơn – Lương ThN (Lương Thị Thu N) nộp trong thời
hạn luật định nên được chấp nhận đxét xử theo trình tự xét xử phúc thẩm (Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự).
7
[3] Ông Đỗ Văn Đ chết ngày 05/01/2026 nên Toà án xác định người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đ Lương Thị N (Lương Thị Thu N) anh
Đỗ Văn H (là những người thừa kế của ông Đ theo quy định của pháp luật). Căn c
vào di chúc và lời trình bày của các anh chị em ruột của ông Đ thì hiện các anh chị
em của ông Đ đang quản nhà và diện tích đất 299m
2
, tại thửa đất s14, tờ bản đồ
249C, địa chỉ: thôn T, xã M, huyện A (nay là xã A), thành phố Hải Phòng, trước khi
xét xvụ án, Toà án cấp phúc thẩm bổ sung họ vào tham gia tố tụng trong vụ án với
cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nay Hội đồng xét xử thấy rằng,
theo quy định của pháp luật cần xác định họ tham gia vụ án với cách là người làm
chứng.
- Xét kháng cáo của bị đơn –Lương Thị N (Lương Thị Thu N):
[4] Ông Đỗ n Đ Lương Thị N (Lương Thị Thu N) kết n do tự nguyện,
chung sống với nhau từ năm 1995 nhưng do không hiểu biết pháp luật nên đến ngày
31/12/2002 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện A (nay là xã A),
thành phố Hải Phòng, quan hệ hôn nhân giữa ông Đ và bà N là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, sau khi Toà án nhân dân Khu vực 2, thành phố Hải Phòng
ban hành Bản án số 71/2025/HNGĐ-ST ngày 23/12/2025 tngày 05/01/2026 ông
Đỗ Văn Đ chết. Do bản án thẩm bị kháng cáo nên bản án này chưa hiệu lực
pháp luật, ông Đ chết khi bản án thẩm chưa hiệu lực pháp luật nên hôn nhân
của ông Đ N chấm dứt trong trường hợp người chồng chết theo quy định tại
Điều 65 của Luật Hôn nhân và Gia đình, do vậy Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối
với yêu cầu khởi kiện của ông Đ về việc xin ly hôn với bà N.
- Xét kháng cáo ca bà N về chia tài sản là nhà và đất tại thửa đất số 14, tờ bản
đồ số: 294-C.
[5] Về nguồn gốc thửa đất s 14, tờ bản đồ số: 294-C:
[5.1] Tại Biên bản xác minh ngày 14/12/2024, chính quyền địa phương cho
biết: y ban nhân dân xã M không còn lưu giữ tờ bản đồ địa chính sổ giao
ruộng đất tại khu vực thôn T, M năm 1985. Tại tờ bản đồ địa chính năm 1995
(294-C) thửa đất số 14 có tổng diện tích 3.340m
2
gồm 2.860m
2
đất lúa (nông
nghiệp) và 480m
2
đất thổ cư, địa chỉ: Thôn T, M, huyện A. Chủ sdụng ghi trong
sổ mc kê là “Đắc” (không họ tên đệm). Ông Đỗ Văn Đ cùng người vợ đầu là bà
Lương Thị H1 sinh sống quản đất này từ khoảng năm 1992. Sau khi H1 chết
(năm 1994) thì ông Đ và người vợ thứ hai bà N sinh sống trên thửa đất này tnăm
1995 cho đến nay. Về nguồn gốc: Thửa đất số 14, tờ bản đồ 294-C, địa chỉ: Thôn T,
M trước thời điểm năm 1993 đất chân tre, rìa làng, loại đất dôi dư, đất nông
nghiệp do Hợp tác T4 quản giao cho ông Đ sử dụng nhưng không giao
đất theo hình thức cho thuê, đấu thầu, thu tiền hay không. Tuy nhiên, theo quy
định của pháp luật đất đai thì Hợp tác xã không quyền giao đất, cho thuê đất. Đến
khoảng năm 2021 – 2022 thì ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với diện tích đất 299m
2
trong tổng diện tích đất 3.340m
2
.
8
[5.2] Theo hồ cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đối với diện tích đất
299m
2
tại thửa đất số 14, tờ bản đồ số: 294-C thì: Đất ở sử dụng sai mục đích trước
ngày 01/7/2024, làm nhà ở, đề nghị cấp giấy chứng nhận thu tiền sử dụng đất.
Đất nông nghiệp 299m
2
, thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ 294-C, tài sản trên đất
ncấp 4 mái tôn mạ màu, công trình phụ mái lợp tôn proximăng, thời điểm xây
trước năm 2004, không vi phạm hành lang giao thông, đê điều, điện, kênh mương,
các công trình khác, đúng quy hoạch khu dân cư, không tranh chấp. Tại Biên bản
thẩm tra, xác minh nguồn gốc sử dụng đất của hộ gia đình nhân để cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thu tiền, kết luận và đề xuất: “…. đnghị Uỷ
ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thu tiền với hộ ông
Đ”. Theo Báo cáo số 54/BC-UBND ngày 14/7/2021 của Ủy ban nhân dân xã M về
nguồn gốc sử dụng đất của ông Đỗ Văn Đ (đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất có thu tiền) thì: Diện tích đất 299m
2
, tại
thửa đất số 14, tờ bản đồ 294-C có
nguồn gốc đất nông nghiệp, tự xây dựng làm ntrước năm 2004. Ông Đ sử
dụng từ năm 1992, đến năm 1994 ông Đ xây dựng nhà ở. Ông Đ vợ H1
(chết năm 1994). Ông Đ, H1 con chung anh Đỗ Văn L4 (chết năm 2020).
m 2002, ông Đ đăng kết hôn với N con chung Đỗ Văn H. Vị trí
thửa đất của ông Đ đang sử dụng phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
nông thôn mới là đất ở. Hiện trạng các hộ giáp ranh thống nhất mốc giới và ký biên
bản xác định mc giới, không có tranh chấp. Ủy ban nhân dân xã M báo cáo y ban
nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thu tiền đối với thửa
đất ông Đ sử dụng theo quy định. Ngoài ra, trong hồ cấp giấy chứng nhận đứng
tên ông Đ còn có Biên bản thống nhất việc cấp giấy chứng nhận của ông Đ đối với
thửa đất tại thôn T, xã M”. Theo đó, mẹ đẻ và các anh chị em ruột của người vợ thứ
nhất là bà Lương Th H1 đồng ý cấp giấy chứng nhận đứng tên ông Đ, họ không có
ý kiến và yêu cầu quyền lợi gì đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 294-C (bố đẻ của
H1 đã chết năm 2015).
[5.3] Ngày 02/8/2022, Ủy ban nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng đã cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD677095, số vào sổ cấp GCN: CH 1571/AL
đứng tên người sử dụng đất ông Đỗ Văn Đ được quyền sử dụng diện tích đất
nông thôn 299m
2
, tại thửa đất số 14, tờ bản đồ 294-C.
[6.1] Tại các Biên bản xác minh ngày 07/12/2024, ngày 08/12/2025, Trưởng
thôn T, xã M; anh Đỗ Văn H (là con chung của ông Đ, bà N) cho biết: Ông Đ và bà
N vợ chồng hợp pháp chung sống với nhau tại thôn T từ khoảng năm 1995-
1996. Trước khi kết hôn với bà N thì ông Đ đã người vợ thứ nhất Lương
Thị H1 nhưng đã chết năm 1994 do tai nạn. Khoảng năm 2007 thì ông Đ bị tai nạn
nên bị liệt nửa thân người bên dưới, bà N phải lo toan mọi việc và chăm sóc ông Đ.
Tuy nhiên, trong thời gian này thì quan hệ vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ
chồng nhiều lần cãi nhau, sát với nhau. Nguyên nhân do ông Đ ghen tuông, các
bên không chia sẻ khó khăn cùng nhau. Do không chịu đựng được nên khoảng năm
9
2013-2014, bà N và con chung đã về gia đình bên ngoại ở nên hai người đã sống ly
thân từ đó.
[6.2] Tại Biên bản xác minh ngày 04/11/2025, ông Đỗ Văn T1 cho biết: Ông
T1 anh trai của ông Đỗ Văn Đ. Ông Đ người vợ đầu là H1 và có 01 người
con chung anh Đỗ Văn L4, sinh năm 1992 (chết năm 2020, không vợ con).
Năm 1994, H1 chết. Năm 1995, ông Đ kết hôn với N. Thửa đất số 14, tờ bản
đồ 294-C là do ông Đ, bà H1 mua của thôn từ năm 1992. Sau khi mua đất thì ông Đ,
H1 làm một ngôi nhà nhỏ bằng đất để sinh sống. Sau khi kết hôn với N,
năm 1996 ông Đ, bà N sinh sống trên thửa đất này và xây dựng ngôi nhà bằng gạch
chỉ, mái lợp ngói, công trình phụ để sinh sống. Đến năm 2013, N tự ý đưa con về
nhà bố mẹ đẻ ở, ông Đbà N sống ly thân từ đó. Từ thời điểm đó bà N không còn
quan tâm, chăm sóc ông Đ (chỉ có anh em ông T1 chăm sóc ông Đ bị ốm)không
quan tâm đến việc gia đình bên chồng. Sau khi anh L4 chết, ông Đ được bi thường
một khoản tiền nên đã dùng số tiền này để xây dựng thêm ngôi nhà cấp 4 diện tích
khoảng 70m
2
và ng trình phụ. N, con trai anh H anh ông T3 không
đóng góp vào ngôi nhà này, đề nghToà án không đưa anh chị em ông Đ vào tham
gia tố tụng trong vụ án. Nay ông Đ xin ly hôn với bà N, bà N có yêu cầu chia tài sản
chung vợ chồng, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
[7] Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
[7.1] Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ: Diện tích đất 299m
2
, thửa s14, tờ
bản đồ số 294-C đã được Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số DD 677095, svào sổ cấp GCN: CH 1521/AL ngày 02/8/2022 đứng tên
người sử dụng đất ông Đỗ Văn Đ. Về tài sản, vật kiến trúc trên đất: Nhà số 01 xây
năm 2021, tường xây gạch chỉ 220, mái bằng, mái lợp ngói xanh, nền lát gạch hoa
khoảng 62,3m
2
, nbếp xây năm 2021, sân lát gạch đỏ; tường bao, cổng xây m
2021. Nhà số 02: Nhà 01 tầng, tường xây gạch chỉ 220 xây năm 1996; khu chăn nuôi
xây năm 1996, hiện đã xuống cấp, không sử dụng; bể nước khoảng 4m
3
xây năm
1996; mái nhà s02 lợp tôn chống nóng do ông Đắc L5 sau cơn bão năm 2014. N
số C: công trình phụ. Một số cây do ông Đắc T2, ông Đ không yêu cầu Toà án kiểm
đếm (theo mô tả tại sơ đồ mặt bằng hiện trạng sử dụng đất 18/9/2024).
[7.2] Kết quả định giá:
[7.2.1] Vật kiến trúc cũ: Nhà 01 tầng, xây gạch chỉ, mái lợp tôn proximăng,
diện tích KT: 30m
2
, bể nước KT: 4m
3
, sân bê tông KT: 90,2m
2
, cộng: 189.830.307
đồng, giá trị còn lại tính 10%: 18.983.031 đồng.
[7.2.2] Vật kiến trúc xây dựng, sửa chữa mới xây năm 2021 (nhà số A, nhà bếp,
sân lát gạch đỏ, tường bao xây gạch chỉ; sửa chữa mái nsố B lợp tôn chống
nóng), cộng: 604.162.599 đồng, trị gcòn lại tính 90%: 543.764.339 đồng (theo
tả tại sơ đồ mặt bằng hiện trạng sử dụng đất 18/9/2024).
[7.2.3] Giá đất tại thửa đất số 14, tờ bản đồ số 294-C là 2.500.000 đồng/m
2
.
10
[8] Từ những nội dung trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[8.1] Ông ĐVăn Đ Lương Thị N (Lương Thị Thu N) kết hôn do tự
nguyện đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân M, huyện A (nay A),
thành phố Hải Phòng nên hôn nhân hợp pháp. Do ông Đ chết ngày 05/01/2026 -
tại thời điểm này bản án chưa có hiệu lực pháp luật nên quan hệ vợ chồng giữa ông
Đ và bà N chấm dứt là do ông Đắc C (theo quy định tại Điều 65 của Luật Hôn nhân
và gia đình) nên cần đình chỉ xét xử đối yêu cầu khởi kiện của ông Đ về việc xin ly
hôn với bà N điểm a khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố Tụng dân sự.
[8.2] Về nguồn gốc diện tích đất ở nông thôn 299m
2
, tại thửa số 14, tờ bản đồ
số 294-C là đất chân tre, rìa làng, loại đất dôi dư, đất nông nghiệp do Hợp tác xã T4
quản giao cho ông Đ sử dụng trước m 1993 (trong tổng diện tích đất nông
nghiệp khoảng 3.340m
2
), nghĩa là chỉ trước khoảng 3 năm khi ông Đ kết hôn với bà
N. Năm 1996 vợ chồng ông Đ, bà N y dựng ngôi nhà cấp 4 và sinh sống tại đó
cho đến nay, đến năm 2022 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất.
quan có thẩm quyền đã xác định việc sử dụng đất của h ông Đ là sai mục đích, tuy
nhiên hiện trạng đã làm nhà trước ngày 01/7/2004, vtrí diện tích đất đang sử dụng
phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch nông thôn mới là đất ở; hiện trạng
các hộ giáp ranh thống nhất mốc giới biên bản xác định mốc giới, không
tranh chấp nên ngày 02/8/2022, Ủy ban nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng đã
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất này. N đã vsinh sống cùng
ông Đ trên thửa đất từ năm 1995 đến khoảng năm 2013 2014 mới về nhà ngoại ở;
quá trình sử dụng đất N đã cùng ông Đ xây dựng nhà ở, cùng tôn tạo, quản lý,
làm tăng giá trị của thửa đất. Người vợ thứ nhất của ông Đ là bà H1 đã chết từ năm
1994, sau khi sử dụng thửa đất khoảng 02 năm; những người thừa kế của H1
mẹ đẻ cũng như các anh chị em của bà H1 (bố của H1 chết năm 2015) đều không
yêu cầu đối với thửa đất này khi ông Đ đề nghị quan thẩm quyền cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên giữa ông Đ người vợ thứ nhất không có
tranh chấp đối với thửa đất. Một trong lý do cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng diện tích đất ở 299m
2
đứng tên ông Đ là vì ông Đ, bà N đã xây
dựng nhà ở và sinh sống trên diện tích đất từ năm 1996 nên cần xác định thửa đất s
14, tờ bản đồ số 294-C và ngôi nhà cấp 4 xây dựng trên thửa đất là tài sản chung của
ông Đbà N. Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét, đánh giá công bằng về công sức
đóng góp của ông Đ N đối với thửa đất đất số 14, tờ bản đồ số 294-C. Thửa
đất này được Hợp tác xã T4 giao cho ông Đ quản lý, sử dụng từ m 1992, trước khi
kết hôn với bà N khoảng 03 năm. Thời điểm ông Đ, N sống ly thân, ông Đ đã
làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất đối với diện tích đất 299m
2
, ông
Đ đã phải nộp tiền sử dụng đất nộp lệ phí trước bạ nhà, đất theo quy định của
pháp luật. Do đó, cần xác định ông Đ công sức đóng góp đối với thửa đất này
nhiều hơn bà N, nên khi phân chia tài sản chung vợ chồng thì ông Đ được phần nhiều
hơn. Tuy nhiên, nội dung kháng cáo của N không yêu cầu chia đôi diện tích đất
mà chỉ đề nghị được chia 100m
2
đất trong tổng diện tích đất 299m
2
và ngôi nhà xây
11
dựng năm 1996, công trình phụ, bể nước, sân. Về tài sản trên diện tích đất 299m
2
,
hiện 02 ngôi nhà và một scông trình xây dựng khác, trong đó 01 căn nhà
diện tích 30m
2
do ông Đ và bà N xây dựng năm 1996, bể nước, công trình phụ, sân
(nhà 02, 03 theo Sơ đồ kèm theo bản án); 01 ngôi nhà diện tích 62,3m
2
(nhà 01 theo
đồ kèm theo bản án) do ông Đ xây dựng năm 2021 bằng nguồn tiền của
nhân trong thời điểm vợ chồng sống ly thân. Nay bà N chỉ yêu cầu được chia phần
diện tích đất trên đó có ngôi nhà do ông Đ, bà N xây dựng từ năm 1996, công trình
phụ và bể nước là phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên và đảm
bảo cho bà N và con chung có chỗ ở. Theo kết quả định giá tài sản thì giá trị còn lại
của căn nhà 10% tương ứng với trị giá: 18.983.031 đồng. Toà án thẩm xác định
quyền sử dụng diện đất 299m
2
, tại thửa s 14, tờ bản đồ s 294-C tài sản riêng của
ông Đ, chỉ tính công sức tôn tạo đất cho bà N 150.000.000 đồng; đồng thời tính giá
trị ban đầu của ngôi nhà 189.830.307 đồng đchia đôi giá trị ngôi nhà cho hai bên
buộc ông Đ phải hoàn trả cho N 1/2 giá trị ban đầu của ngôi nlà 94.915.153
đồng là không đúng quy định của pháp luật và không đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên đương sự (lẽ ra phải xác định giá trị còn lại của ngôi nhà là 10% (
tương ứng với số tiền 18.983.031 đồng). Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng,
diện tích đất N yêu cầu được hưởng chỉ tương đương 1/3 diện tích của thửa đất,
yêu cầu và kháng cáo của N là hợp lý, có căn cứ nên chấp nhận kháng cáo của
N, sửa bản án thẩm theo hướng xác định diện tích đất nông thôn 299m
2
, tại thửa
số 14, tờ bản đồ số 294-C và ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1996 tài sản chung của
ông Đ, bà N. Chia cho bà N được sử dụng diện tích đất 100m
2
đất ở nông thôn, bao
gồm các mc 1,2, 2A,1A,1 và ngôi nhà cấp 4 (nhà 2) trên diện tích đất này. Đối với
các công trình xây dựng khác là công trình phụ, sân, bể nước có một phần diện tích
nằm trong giấy chứng nhận, một phần diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận,
N đồng ý khi nhà nước yêu cầu sẽ tự nguyện phá dỡ. Chia cho ông Đ được quyền
sử dụng diện ch đất ở nông thôn 199m
2
, bao gồm các mốc 2A,3,4,1A,2A và tài sản
trên diện tích đất này (bao gồm nhà 01 các công trình xây dựng khác trên diện
tích đất này). Bà N nghĩa vụ thanh toán cho ông Đ ½ giá trị còn lại của ngôi nhà
là 9.491.515 đồng. Do ông Đ đã chết nên tạm giao tài sản thuộc quyền sử dụng, sở
hữu của ông Đ cho bà N và anh H quản theo quy định tại các Điều 33, 38, 59, 62,
65, 66 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 210, 213, 616 của Bộ luật Dân sự;
khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[9] Tại phiên toà, những người làm chứng các anh chị em của ông Đ xuất
trình bản Di chúc của ông Đỗ Văn Đ lập ngày 02/01/2026. Theo đó ông Đ để lại tài
sản là thửa số 14, tờ bản đồ số 294-C và ngôi nhà cấp 4 trên đất cho các anh em trai
của ông Đ là ông Đỗ Văn T3, ông Đỗ Văn Đ1, ông Đỗ Văn Đ2 và ông Đỗ Văn L2.
Trường hợp các bên có tranh chấp về việc phân chia di sản thừa kế của ông Đ để lại
thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[10] Về án phí:
12
[10.1] Về án phí thẩm: N người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của
ông Đ phải chịu án phí chia tài sản chung theo quy định của pháp luật Điều 147
của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326 2016/UBTVQH
14.
[10.2] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà N được chấp nhận nên bà N
không phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại N số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
quy định tại khoản 2 Điều 148 của Bộ luật T tụng dân sự; điểm b khoản 2 Điều 27,
khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lương Thị N (Lương Thị Thu N).
1. Sửa Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 71/2025/HNGĐ-ST ngày 23
tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2, thành phố Hải Phòng.
Căn cứ vào các Điều 33, 38, 59, 62, 65, 66 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các Điều 210, 213, 616 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 217, Điều 147, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật
Tố tụng dân sự; điểm b khoản 2 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Xử:
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu xin ly hôn của ông Đỗ Văn Đ.
3.1. Chia cho ông Nguyễn Văn Đ3 được quyền sử dụng diện tích đất nông
thôn 199,0m
2
, tại thửa đất số số 14, tờ bản đsố 294-C các tài sản trên diện
tích đất này (bao gồm nhà 01 các công trình xây dựng khác trên diện tích đất
199m
2
) được giới hạn bởi các mốc 2A,3,4,1A,2A), địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện A,
thành phố Hải Phòng (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 677095, số
vào sổ cấp GCN: CH 1571/AL do Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 08/8/2022
đứng tên người sử dụng đất ông Đỗ Văn Đ).
3.2. Người thừa kế của ông Đ Lương Thị N (Lương Thị Thu N) và anh Đỗ
Văn H có trách nhiệm quản lý tài sản này.
4.1. Chia cho Lương Thị N (Lương Thị Thu N) được quyền sử dụng diện
tích đất nông thôn 100,0m
2
, tại thửa đất số số 14, tờ bản đồ số 294-C các tài sản
có trên diện tích đất này (bao gồm nhà 02 và các công trình xây dựng khác trên diện
tích đất 100,0m
2
) được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 2A, 1A,1), địa chỉ: Thôn T, xã M,
13
huyện A, thành phố Hải Phòng (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD
677095, số vào sổ cấp GCN: CH 1571/AL do Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày
08/8/2022 đứng tên người sử dụng đất ông Đỗ Văn Đ). Lương Thị N (Lương Thị
Thu N) trách nhiệm pdỡ công trình phụ, sân, bể nước trên phần diện tích đất
không được cấp giấy chứng nhận khi yêu cầu của quan nhà nước thẩm
quyền.
(có sơ đồ kèm theo bản án)
4.2. Lương Thị N (Lương Thị Thu N) nghĩa vụ thanh toán cho ông Đỗ
Văn Đ số tiền chênh lệch từ việc phân chia tài sản chung là 9.491.515 đồng. Anh Đỗ
Văn H có trách nhiệm quản lý số tiền này.
Kể từ ngày những người thừa kế của ông Đỗ Văn Đ đơn yêu cầu thi hành án
cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bà Lương Thị N (Lương
Thị Thu N) còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa
thi hành án.
5. Lương Thị N (Lương Thị Thu N) những người thừa kế của ông Đỗ
Văn Đ có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được quyền sử dụng theo quy
định của pháp luật.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
6.1. Ông Đỗ Văn Đ phải chịu 23.900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; được trừ
vào số tiền tạm ứng án pđã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí
s0007384 ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão (nay là
Phòng thi hành án dân sự Khu vực 2 thành phố Hải Phòng). Ông Đỗ Văn Đ còn phải
nộp 23.600.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Người thừa kế của ông Đỗ Văn Đ
phải chịu số tiền này.
6.2. Lương Thị N (Lương Thị Thu N) phải chịu 12.974.575 đồng tiền án phí
dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.000.000 đồng tại
Biên lai thu tạm ứng án phí số 0007521 ngày 14/8/2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện An Lão (nay Phòng thi hành án dân sự Khu vực 2 thành phố Hải
Phòng). Trả lại bà Lương Thị N (Lương Thị Thu N) số tiền tạm ứng án pđã nộp
là 1.025.425 đồng.
7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Lương Thị N (Lương Thị Thu N) không
phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại bà Lương Thị N (ơng Thị Thu N) số tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí số:
0001097 ngày 22/01/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
14
Trường hp Bn án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 ca Lut Thi
hành án dân s đưc sửa đi, b sung năm 2014 thì người được thi hành án, người
phi thi hành án có quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t
nguyn thi hành án hoặc cưng chế thi hành án theo quy đnh ti các điều 6,7,7a,9
ca Lut thi hành án dân s đưc sửa đi, b sung năm 2014; thời hiu thi hành án
đưc thc hiện theo quy định Điều 30 ca Lut Thi hành án dân s đưc sửa đi,
b sung năm 2014.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND Khu vực 2 - Hải Phòng;
- Phòng THADS Khu vực 2
- Hải Phòng;
- THADSTP. Hải Phòng;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu: HCTP, HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Minh Phương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất