Bản án số 824/2019/DS-PT ngày 19/09/2019 của TAND TP. Hồ Chí Minh về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 824/2019/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 824/2019/DS-PT ngày 19/09/2019 của TAND TP. Hồ Chí Minh về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 824/2019/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
─────────────
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
────────────────
Bản án số: 824/2019/DS -PT
Ngày: 19/9/2019.
V/v “Tranh chấp quyền sở hữu nhà,
tranh chấp về thừa kế tài sản”
NHÂN D1
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phan Thị Minh N1.
Các Thẩm phán: 1/ Bà Trần Thị Lệ Uyên
2/ Bà Võ Thị Mỹ Hạnh
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thu V1 Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Hoàng
Anh Nga – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 19 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
426/2018/TLPT-DS ngày 06 tháng 9 năm 2018, về việc: “Tranh chấp quyền sở
hữu nhà, tranh chấp thừa kế”
Do bản án dân sthẩm số số 242/2018/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm
2018 của Tòa án nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3636/2019/QĐ-PT ngày 13 tháng
8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6765/2019/QĐ-PT ngày 28 tháng 8
năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đinh Thị T1, sinh năm 1936.
Địa chỉ: đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện cư ngụ: đường H, phường Q, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)
Ngưi đi din hp pháp ca nguyên đơn: Bà Nghiêm Th Như H1, sinh năm
1976 (Đưc y quyn theo giy y quyn công chng s 006134 quyn s 01 lp ngày
26/4/2014 ti Văn phòng công chng H, Thành ph H Chí Minh).
Địa chỉ: đưng B, Phưng N, quận B, Tnh phHồ C Minh.
(Có mặt)
G G
2. Bị đơn: 1/ Ông Trần Công T1, sinh năm 1968.
2
(Có mặt)
2/ Bà Nguyễn Thị Tố L, sinh năm 1966.
(Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phan Văn B1, sinh năm 1952
(Được ủy quyền theo giấy ủy quyền công chứng số 018206 quyển số 8 TP/CC-
SCC/HĐGD lập ngày 13 tháng 8 năm 2017 tại Văn phòng công chứng SG,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Cư xá Đ, Phường X, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1/ Bà Trần Thị Q, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Xã A, huyện H, tỉnh G.
(Vắng mặt)
3.2/ Bà Trần Thị N1, sinh năm 1959.
Địa chỉ: đường H, phường Q, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)
3.3/ Ông Trần Công Đ, sinh năm 1962.
Địa chỉ: đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt)
3.4/ Bà Trần Thị Thu V1, sinh năm 1965.
Địa chỉ: đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)
Người đại diện hợp pháp của Q, N1, ông Đ, V1 Nghiêm
Thị Như H1, sinh năm 1976 (Được ủy quyền theo giấy ủy quyền công chứng số
006135 quyển số 01 lập ngày 26/4/2014 tại Văn phòng công chứng H, Thành
phố Hồ Chí Minh).
Địa chỉ: đường B, Pờng N, qun B, Thành phHồ Chí Minh.
(Có mặt)
3.5/ Ông Trần Lê Công D1, sinh năm 1998.
3.6/ Bà Lê Thị Lệ H1, sinh năm 1964.
3.7/ Trẻ Trần Thị Thu N1, sinh năm 2001.
Người đại diện theo pháp luật cho trẻ N1 Thị Lệ H1, sinh năm
1964.
Cùng địa chỉ: đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Đều có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bà Lệ H1, trẻ Thu N1 là bà Nghiêm Thị Như
H1, sinh năm 1976 (Được ủy quyền theo giấy ủy quyền công chứng số 022563
3
quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 26/12/2015 tại Văn phòng công
chứng H, Thành phố Hồ Chí Minh).
Địa chỉ: đường B, Pờng N, qun B, Thành phHồ Chí Minh.
(Có mặt)
3.8/ Bà Trần Thị Minh T2, sinh năm 1991.
(Vắng mặt)
3.9/ Bà Trần Thị Phương T3, sinh năm 1994.
(Có mặt)
3.10/ Trẻ Trần Công T4, sinh năm 2006.
Người đại diện theo pháp luật của trẻ T5 là ông Trần Công T1.
Cùng địa chỉ: đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)
3.11/ Ông Nguyễn Tài B2, sinh năm 1956.
3.12/ Bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1959.
Cùng địa chỉ: đường D, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.13/ Phòng Công chứng D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: đưng V, Phưng D, quận B, Thành phH C Minh.
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Thu H2 (Được ủy quyền theo
giấy ủy quyền số 286/CC4 ngày 21/8/2017 của Phòng Công chứng D, Thành
phố Hồ Chí Minh).
3.14/ Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: đường H, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Mai H3 Trần Thị Thanh
T5 (Được ủy quyền theo giấy y quyền số 19/UQ-UBND ngày 17/7/2017 của
Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh).
3.15/ Chi nhánh văn phòng đăng ký đt đai qun P, Thành ph H Chí Minh.
Địa chỉ: đường H, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp : Nguyễn Thị T6 (Được ủy quyền theo giấy
ủy quyền số 02/CNTP-HC ngày 05/8/2015 của Giám đốc chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai quận P, Thành phố Hồ Chí Minh).
(Đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
4. Ni kháng cáo: B đơn ông Trần Công T1, Nguyễn Thị Tố L nời
có quyền lợi nga vliên quan Trần Thị Minh T2, Trần ThPơng T3.
5. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm t nhân n qun P, Thành ph
HC Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 26/4/2014, ngày 02/7/2014, đơn sửa đổi bổ sung
yêu cầu khởi kiện ngày 21/6/2017 (BL 356), ngày 20/11/2017(BL 397), biên bản
lấy lời khai bà Đinh Thị T1 ngày 11/8/2014. Tại các bản tự khai, bản tự khai bổ
4
sung, biên bản họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp C1, công khai chứng cứ hòa
giải tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nghiêm
Thị Như H1 trình bày:
Vào năm 1982, Đinh Thị T1 cùng chồng ông Trần C1 (đã chết vào
năm 2000) nhận chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất của ông Nguyễn
Tài B2 vàNguyễn Thị D2 tại địa chỉ đường T, phường R, quận B, Thành phố
HC Minh việc mua bán bằng giấy tay.
Cùng năm, ông C1, T1 xây nhà trên phần đất đã nhận chuyển nhượng
của ông B2, D2. Năm 1992 ông B2, D2 xin hợp thức hóa quyền sở hữu
phần đất của ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cho cả
phần nhà đất mà ông bà đã chuyển nhượng cho ông C1, bà T1.
Trước đây ông C1 giữ bản chính các giấy tờ liên quan đến việc chuyển
nhượng nhà đất trên. Sau khi ông C1 chết thì ông Trần Công T1 giữ các giấy tờ
này.
Năm 2005 ông T1 trao đổi với ông B2, bà D2 rằng ông sẽ đại diện cho gia
đình đứng tên trên giấy tờ nhà yêu cầu ông B2, D2 ra công chứng chuyển
nhượng phần đất ông C1, T1 đã mua đã xây dựng nhà từ m 1982 nói
trên cho vợ chồng ông T1. Do nghĩ rằng người trong nhà ai đứng tên cũng được,
nên ông B2 D2 đã thực hiện yêu cầu của ông T1. Sau đó ông T1 đăng bộ,
xin cấp chủ quyền đứng tên vợ chồng ông T1. Căn nhà nói trên hiện nay mang
số đường K, phường N, quận P, Thành phHC Minh.
Khoảng năm 1998 ông C1, bà T1 có sửa chữa nhà và xây thêm phần gác.
Năm 2014, ông T1 có trang trí li mặt tiền phía trưc nhà đ phục v cho việc
kinh doanh bán vé máy bay ca con ông T1 và sa gác gỗ thành gi đúc.
Từ khi kinh doanh bán máy bay đến nay, ông T1 thu lợi nhuận
không hề trả tiền lợi tức từ việc khai thác căn nhà cho T1 những người
thừa kế khác của ông C1.
- Về quan hệ nhân thân của ông Trần C1:
Cha của ông Trần C1 tên Trần S, sinh năm: không rõ, chết năm: 1959.
Mẹ của ông Trần C1 tên Nguyễn Thị H3, sinh năm: không rõ, chết năm:
1969. Ông S và bà H3 không có giấy chứng tử.
Ông Trần C1 có vợ là bà Đinh Thị T1.
Ông Trần C1 T1 05 người con chung là: Trần Thị Q, Trần Thị
N1, Trần Thị Thu V1, Trần Công Đ và Trần Công T1.
Ngoài ra ông C1, bà T1 không có con nuôi, con riêng nào khác.
Ông Trần C1 chết không để lại di chúc.
Nay bà T1 đề nghị tòa xem xét và giải quyết yêu cầu sau:
- Hủy Hợp đồng mua bán nhà s011083/HĐ-MBN ngày 19/4/2005 giữa
bên bán là ông Nguyễn Tài B2, bà Nguyễn Thị D2 và bên mua là ông Trần Công
5
T1, bà Nguyễn Thị Tố L;
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất căn nhà
số đường K, phường N, quận P, Thành phHồ Chí Minh đứng n ông Trần
Công T1, bà Nguyễn Thị Tố L;
- Công nhận ½ quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở căn nhà trên cho
bà Đinh Thị T1 và ½ trị giá nhà và đất trên là di sản thừa kế của ông Trần C1.
- Yêu cầu
chia phần di sản ông Trần C1 để lại trong căn nhà trên ½ giá
trị quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất số đường K, phường N, quận P,
Tnh ph Hồ Chí Minh cho những người thừa kế theo pháp luật 06 người
gồm: Bà T1 và 05 người con là Q, N1,V1, ông Đ và Trung.
- Yêu cầu được nhận nhà đất tại sđường K thanh toán cho những
người thừa kế của ông C1, T1 kỷ phần thừa kế các ông bà được hưởng
theo pháp luật hoàn lại cho ông T1 phần giá trị xây dựng theo giá thẩm định
của công ty Thịnh Vượng.
Bị đơn, ông Trần Công T1 và bà Nguyễn Thị Tố L cùng có người đại diện
là ông Phan Văn B1 trình bày:
Ông T1 và bà L xác nhận nguồn gốc nhà đất số đưng K, pờng N, quận
P do cha m ông T1 ông Trần C1 Đinh Th T1 mua của ông Nguyễn Tài
B2o m 1982, mua bán bằng giấy tay.
Năm 2000 ông C1 chết, không di chúc, năm 2005 ông T1 L hợp
thc hóa chủ quyền n nhà trên có tng qua ý kiến của T1 c anh chị em;
c n chỉ trao đổi qua lời nói, kng văn bản.
Hai con của ông T1 Trần Thị Minh T2, Trần Thị Phương T3 hiện
sinh sống tại căn nhà trên, không đóng góp công sức, sửa chữa trong căn
nhà. Vợ chồng ông T1 còn phải lo chi phí học hành của 02 con.
Ông T1 xác nhn phần di sản của ông C1 để lại ½ trị giá n nhà số
đường K, chưa chia cho những ngưi tha kế thuộc ng thnhất của ông C1, bà
T1.
Nay trưc yêu cầu của ngun đơn,u cầu độc lập của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, ông T1 và L có ý kiến như sau: Ông T1, L đồng ý thanh
toán cho T1, ông Đ, bà N1, V1, Q mỗi người 200.000.000 (Hai trăm triệu)
đồng, tổng cộng 01 T1 đồng để kết thúc vụ án.
Trường hợp nguyên đơn người liên quan không đồng ý với thiện c a
gii trên thì ông yêu cầu Tòa án gii quyết theo quy định pháp lut, ông không có
yêu cầu phn tố.
Ông yêu cầu được tiếp tục trong căn nhà nay để thờ cúng lit sĩ hiện nay
ông được trcấp th ng liệt theo Quyết định số 20935/QĐ-SLĐTBXH ngày
15/11/2017 của SLao động thương binh hội Thành ph HC Minh.
6
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Q, Trần Thị N1, Trần
Thị Thu V1, Trần Công Đ người đại diện theo ủy quyền Nghiêm Thị
Như H1 trình bày:
Ông Trần C1 Đinh Thị T1 05 người con gồm: Trần Thị Q (sinh
năm 1958), Trần Thị N1 (sinh m 1959), Trần Công Đ (sinh năm 1962), Trần
Thị Thu V1 (sinh năm 1965) và Trần Công T1 (sinh năm 1968).
Về nguồn gốc tài sản tranh chấp, phần xây dựng trên đất, quan hệ nhân
thân như nguyên đơn, T1 trình bày đúng; các ông, không ý kiến bổ
sung về phần này.
Việc ông T1, L đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
xuất phát từ sự gian dối của ông T1 và sự nhầm lẫn của chủ cũ là ông B2, bà D2,
chứ chủ sở hữu thực sự là ông C1 và bà T1.
Nay các ông bà có ý kiến và có đơn yêu cầu độc lập như sau :
- Yêu cầu Hủy Hợp đồng mua bán nhà số 011083/HĐ-MBN quyển số 03
TP/CC- SCC/HĐGD ngày 19/4/2005 đối với một phần căn nhà số đường T,
phường N quận P, Thành ph Hồ Chí Minh ( nay số đường K), phường N,
quận P, Thành ph H Chí Minh) giữa bên bán ông Nguyễn Tài B2,
Nguyễn Thị D2 và bên mua là ông Trần Công T1, bà Nguyễn Thị Tố L;
- Yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số vào sổ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất : H03020 ngày 13/7/2005 do Ủy ban nhân dân
quận P cấp cho ông Trần Công T1, Nguyễn Thị Tố L đối với nhà đất số
Đường T ( nay là đường K), phường N, quận P, Tnh phố HChí Minh.
- Công nhận quyền sở hữu nhà đất trên cho Đinh Thị T1 những
người thừa kế của ông Trần C1. Đồng ý xác định giá trị căn nhà y được chia
thành 12 phần bằng nhau.
- Đồng ý trước yêu cầu của T1 vviệc xác lập phần quyền sở hữu
sử dụng chia di sản thừa kế của ông Trần C1 để lại trong căn nhà Đường K,
phường N, quận P, Thành phHồ C Minh.
- Về phần xây dựng nhà số đường K, phường N, quận P, Thành ph H
Chí Minh thì các ông không tranh chấp với ông T1, đồng ý cho ông T1 được
quyền sở hữu phần giá trị xây dựng này. Đây coi như thanh toán phần công sức
giữ gìn tài sản cho ông T1.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị Lệ H1 con H1
Trần Thị Thu N1, người đại diện theo ủy quyền bà Nghiêm Thị Như H1
trình bày:
H1 kết hôn với ông Trần Công Đ năm 1997 sống trong căn nhà
đường K, phường N, quận P, Thành phH Chí Minh từ đó đến nay. Từ khi về
sống trong căn nhà trên cùng cha mẹ chồng và các chị em chồng, bà H1 vẫn biết
căn nhà trên là của cha mẹ chồng (ông Trần C1 và bà Đinh Thị T1).
Bà H1 không xây dựng, sửa chữa gì trong phần xây dựng căn nhà này.
7
Nay bà H1 các con cũng thống nhất với các ý kiến của bà T1 và không
có ý kiến bổ sung và cũng không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/8/2015, bản tự khai ngày 27/11/2017 của
ngưi quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Nguyễn i B2 bà Nguyễn Th D2
trình bày:
Ông vợ chồng o ngày 30/8/1982 ông giy chuyển nhưng
đất diện tích 80m
2
(ngang 4m x i 20m) tại Đưng T, Phường R, quận B, Tp.
HChí Minh (nay đường K, phường N, quận P, Thành ph Hồ Chí Minh) cho vợ
chồng ông Trần C1, Đinh Th T1 (hai n không đăng giấy chuyển nhượng
mà chỉ D2 ký giấy ủy quyền cho ông Trần C1).
Ny 14/01/1992, ông đưc cấp giấy chứng nhn quyền sở hữu toàn bộ
n nhà tại Đường T, Phưng R, quận B, Thành phH Chí Minh (nay đưng K,
phưng N, quận P, Thành ph Hồ Chí Minh) với diện ch 160,37m
2
bao gồm cả
phn đất chuyển nhượng cho ông C1, T1.
Năm 2005, ông Trn Công T1 gặp ông bà đề nghị ra công chứng sang tên
phn đất đã n cho ông C1, T1 cho ông T1 và bà L đng n. Vì nghĩ ông C1
chết, người trong n ông C1 mua bán nvới ông T1, L. Việc ký giấy mua bán
(có công chứng) với ông T1, L để giải quyết dứt điểm việc mua n nhà với
ông C1 ch ông bà không mua bán n với ông T1, bà L, người mua là ông C1,
T1 ng người giao tiền. Ông T1, L không giao tin mua nhà cho
ông bà.
Tại bản tự khai ngày 20/6/2017 ngưi quyền lợi, nga vụ liên quan
Trần Thị Minh T2, bà Trần Thị Phương T3 tnh bày:
Các con của ông Trần Công T1 Nguyễn Thị Tố L, hiện trú
chung với cha mtại nhà số đường K, phường N, quận P, Thành phH Chí
Minh. Các khẳng định tài sản tranh chấp của cha mcác bà, nhà này sử
dụng vào việc thờ cúng ông nội và liệt Trần H3, các bà không đồng ý yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Các chứng cứ chứng minh quyền sở hữu của cha mẹ các như chứng cứ
do cha mẹ các bà nộp.
Tại bản tự khai ngày 05/9/2017 người quyền lợi, nga vụ liên quan trẻ
Trần ng T4 do ông Trần ng T1 (cha ruột) người đại din theo pháp lut
trình y: c chng cứ mà vợ chồng ông đã nộp cho a chứng minh vợ chồng
ông đồng sở hu căn n Đưng T, Phường R, qun B, Thành ph Hồ C Minh
(nay đưng K, phường N, qun P, Thành ph H Chí Minh). Với ch là ngưi
đại diện cho trT5 ông kng đồng ý việc tranh chấp shữu phi lý này.
Tại bản tự khai ngày 05/6/2018 ngưi có quyền lợi, nghĩa vliên quan ông
Trần Lê Công D1 trình bày: Ông là con của ông Trn Công Đ , ông sinh ra lớn
n tại n nhà đưng K , phường N quận P, Thành ph Hồ Chí Minh ông đây
ng cha và m, bn thân ông không có đóng góp công sức gì . Việc tranh chấp nhà
8
đường K, phường N qun P, Thành ph H Chí Minh ông không ý kiến liên
quan. Ông xin vắng mt tất cả c buổim việc của Tòa phiên tòat xử .
Tại bản tự khai ngày 29/8/2017, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Png ng chng D, Tnh ph Hồ Chí Minh, ngưi đại diện theo ủy quyn
Nguyn Thị Thu H2 trình bày:
Ngày 19/4/2005, Công chứng viên Phòng Công chứng D, Thành phố hồ
Chí Minh thực hiện việc công chứng Hợp đồng mua bán nhà số công chứng
011083, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD đối với một phần căn nhà số đường T,
phường N, quận P, Thành ph H Chí Minh (Phường R, quận B cũ). Hợp đồng
được giao kết giữa bên bán ông Nguyễn Tài B2, Nguyễn Thị D2 bên
mua là ông Trần Công T1 và bà Nguyễn Thị Tố L.
Qua kiểm tra hồ sơ công chứng, nhận thấy việc công chứng hợp đồng mua
bán nhà nêu trên thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục luật định.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị T1 thì Phòng Công Chứng
không ý kiến gì. Đề nghị Tòa án giải quyết ván theo đúng quy định pháp
luật.
Tại bản tự khai ngày 11/9/2017 Ủy ban nhân dân (UBND) quận P, Thành
ph HC Minh người đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thị Thanh T5, Nguyễn
Thị Mai H3trình bày: Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03020
ngày 13/7/2005 của Ủy ban nhân dân quận P, Tnh phHChí Minh cấp cho
ông Trần Công T1, bà Nguyễn Thị Tố L:
Căn cứ hồ xin cấp giấy chứng nhận của ông T1, L thể hiện nguồn
gốc đất thuộc một phần nhà đất số đường T, phường N, quận P, Thành phH
Chí Minh (Phường R, quận B cũ) do ông Nguyễn Tài B2 Nguyễn Thị D2
mua hóa giá nhà Nhà nước được sự công nhận quyền sở hữu theo Giấy số
39/HGN ngày 14/01/1992 của Sở Nhà đất về quyền sở hữu nhà.
Ngày 19/4/2005, ông B2 và bà D2 bán cho ông T1 và bà L theo Hợp đồng
mua bán nhà s công chứng 011083, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD của
Phòng Công chứng D, Thành phố hồ Chí Minh. Ngày 16/5/2005 UBND quận P,
Tnh phố Hồ C Minh cấp thông báo số 317/TB-UB về tạm cấp số nhà số 18/2
Đường T cho ông T1, L. Ngày 13/7/2005 UBND quận cấp đổi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số và sổ H03020 ngày 13/7/2005 cho ông T1, bà L.
Ý kiến của UBND quận P, Tnh phố HChí Minh:
- Về sở pháp UBND quận P cấp giấy chứng nhận quyền sở hu cho
ông T1, L đúng quy định tại khoản 2, 3 Điều 2; khoản 2 Điều 3; Điều 17,
19 của văn bản “Quy định về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở
hữu nhà và quyền sử dụng đất tại thành phố Hồ Chí Minh ” ban hành kèm Quyết
định số 04/2003/QĐ-UB ngày 06/01/2003 của UBND Thành phố HChí Minh.
- Về việc T1 yêu cầu hủy giấy chứng nhận đã cấp cho ông T1, bà L thì
đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
9
Tại bản tự khai ngày 10/9/2015, người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan Chi
nhánh Văn Phòng đăng ký đất đai quận P, người đại diện theo ủy quyn Bà
Nguyễn Thị T6 trình y:
Hxin cấp đổi Giấy chứng nhận của ông Trn Công T1 Nguyễn Th
TL gồm: Đơn đề nghcấp đổi Giấy chứng nhận ngày 18/5/2005; Giấy chng
nhn quyền SHN số 39/HGN ny 14/01/1992 của Sở n đất cấp cho chủ sở hữu
ông Nguyễn Tài B2 Nguyễn ThD2; Hp đồng mua bán nhà số 011083/
HĐ-MBN lập ngày 19/4/2005 tại Phòng Công chứng D giữa bên bán ông
Nguyễn Tài B2, Nguyễn Thị D2 bên mua ông Trần Công T1 và
Nguyễn Thị Tố L; Bản vẽ hiện trạng số 572/KH do công ty Adec đo vngày
15/3/2003; Thông báo tạm cấp số nhà số 317/TB-UB ngày 16/5/2005 do UBND
quận P, Tnh phHồ C Minh cấp cho ông T1.
Ý kiến của Chi nhánh Văn Phòng đăng đt đai qun P, Thành phHC
Minh đối với việc cấp Giấy chứng nhận: n cứ khoản 2 điều 3; điu 17; điu 19
Quyết định số 04/2003/QĐ-UB ngày 06/01/2003 của UBND Thành phHồ C
Minh quy định về thẩm quyn, trình tự ,th tục cấp, đi giy chứng nhn quyền sở
hữu nhà và quyền sử dụng đất tại thành phố Hồ Chí Minh. n cứ Hp đồng mua
bán nhà số 011083/HĐ-MBN lập ngày 19/4/2005 tại Phòng Công chứng D giữa
bên bán là ông Nguyễn Tài B2, bà Nguyễn Thị D2 và bên mua là ông Trần Công
T1 Nguyễn Thị Tố L đầy đủ chữ ký của các bên; Chi nhánhn Phòng
đăng ký đất đai quận P nhận thấy UBND quận P, Thành phố H C Minh đã thc
hiện việc cấp đổi giấy chứng nhận số H03020 ngày 13/7/2005 cho chủ sở
hữu là ông T1 và bà L là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của bà T1 yêu cầu hủy giấy chứng nhận đã cấp cho ông T1,
bà L thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự thẩm số 242/2018/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm
2018 của Tòa án nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh:
Căn cứ vào:
- Khon 2, khoản 3, khon 5 Điều 26; Điều 34, điểm a khon 1 Điu 35; điểm c
khon 1 Điu 39; Điu 91; Điu 147; khon 1 Điu 227; Điu 264; Điu 266; Điu 267;
Điu 271; khon 1 Điu 273 của Blut T tng dân s năm 2015;
- Điều 132; Điu 136 ; Điu 142; Điều 146; Điu 233 B Lut n sự m
1995;
- Điều 136; Điều 649; Điều 650; Điều 651; Điều 660; Điều 612; điểm c
khoản 2 Điều 618 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 3 Điều 49, khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003;
- Điu 27; khon 1, khoản 2 Điu 31 Lut Hôn nn Gia đình năm 2000;
- Khoản 4 Điều 26; điểm a khoản 7 Điều 27; điểm a khoản 3 Điều 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ
10
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị T1.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của của các ông Trần Thị Q, Trần Thị
N1, Trần Thị Thu V1, Trần Công Đ.
- Tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà số 011083/HĐ-MBN quyển số 03
TP/CC- SCC/HĐGD lập ngày 19/4/2005 tại Phòng Công chứng D Thành phố
Hồ Chí Minh giữa bên bán ông Nguyễn Tài B2 Nguyễn Thị D2 bên mua
ông Trần Công T1, bà Nguyễn Thị Tố L vô hiệu.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số vào sổ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất: H03020 ngày 13/7/2005 do Ủy ban nhân dân quận P cấp
đứng tên ông Trần Công T1, bà Nguyễn Thị Tố L đối với nhà đất số 18/2 Đường
T (nay là đường K), phường N, quận P, Thành phố HChí Minh.
- Xác định ½ trị giá đất tại số 18/2 Đường T (nay là đường K), phường N,
quận P, Tnh phHồ C Minh là tài sản thuộc sở hữu của bà Đinh Thị T1.
- Xác định di sản thừa kế của ông Trần C1 ½ trị giá đất tại số 18/2
Đường T (nay là đường K), phường N, quận P, Tnh phố HChí Minh.
- Xác định những người thừa kế của ông Trần C1 06 người gồm:
Đinh Thị T1, Trần Thị Q, Trần Thị N1, Trần Thị Thu V1, ông Trần
Công Đ, ông Trần Công T1.
- Chia di sản thừa kế của ông C1 như sau: Đinh Thị T1, Trần Thị
Q, Trần Thị N1, Trần Thị Thu V1, ông Trần Công Đ, ông Trần Công T1
mỗi người được nhận 1/6 di sản thừa kế của ông Trần C1, tương đương số tiền
232.500.142 (hai trăm ba mươi hai triệu năm trăm ngàn một trăm bốn mươi
hai) đồng. Riêng ông Trần Công T1 được nhận thêm khoản tiền chi phí bảo quản
di sản 292.995.200 đồng nên tổng số tiền ông T1 được nhận 525.495.342
đồng (Năm trăm hai mươi lăm triệu bốn trăm chín mươi lăm ngàn ba trăm bốn
mươi hai đồng).
- Đinh Thị T1 trách nhiệm thanh toán kỷ phần thừa kế cho các ông
Trần Thị Q, Trần Thị N1, Trần Thị Thu V1, Trần ng Đ mỗi kỷ phần trị giá
tương đương stiền 232.500.142 đồng (Hai trăm ba mươi hai triệu năm trăm
ngàn một trăm bốn mươi hai đồng ); thanh toán cho ông T1 số tiền 525.495.342
đồng (Năm trăm hai mươi lăm triệu bốn trăm chín mươi lăm ngàn ba trăm bốn
mươi hai đồng ).
- Đinh Th T1 được quyền liên hệ với quan Nhà nước thẩm
quyền làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận để được toàn quyền sở hữu, sử dụng đối
với nhà đất số 18/2 Đường T (nay đường K), phường N, quận P, Thành ph
HC Minh.
11
- Buộc các ông gồm: Ông Trần Công T1, bà Nguyễn Thị Tố L,
Thị Lệ H1, Trần Thị Minh T2, Trần Thị Phương T3, Trẻ Trần Công T4,
anh Trần Lê Công D1, Trẻ Trần Thị Thu N1 trách nhiệm bàn giao nhà đất số
18/2 Đường T, Thành ph Hồ Chí Minh (nay đường K), phường N, quận P,
Tnh phHC Minh cho bà Đinh Thị T1.
- Thời hạn giao nhận ntiền 03 (ba) tháng kể từ ngày bản án của
tòa án có hiệu lực pháp luật.
Ktừ ngày người được thi nh án đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phi thinh án chậm thi nh khon tin nêu trên, thìng tháng phải chịu tiềni
theo mc i suất do c n tha thuận nhưng không đưc t quá mc lãi suất
theo quy định tại khon 1 Điều 468 BLDS 2015; nếu không có thỏa thỏa thun thì
thc hiện theo quy định tại khoản 2 Điu 468 BLDS 2015 đối với số tiền chậm
thc hin tương đương với thời gian chậm thi nh án.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2018/QĐ-ADBPKCTT ngày 16/01/2018 của Tòa
án nhân dân quận P, Tnh phố HChí Minh.
Việc hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện
theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Đinh Thị T1 phải nộp 11.625.007 đồng, nhưng được cấn trừ vào số
tiền tạm ứng án phí 24.000.000 đồng theo biên lai thu số 01346 ngày
09/7/2014, T1 được hoàn trả lại số tiền chênh lệch 12.374.993 đồng theo
biên lai thu trên.
Ông Trn Công T1 và bà Nguyn ThT L phi np 54.150.026 đng.
Trần Thị Q phải nộp 11.625.007đồng, nhưng được cấn trừ vào số
tiền tạm ứng án phí 6.425.000đồng theo biên lai thu số 0010272 ngày
07/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận P, Tnh ph H Chí Minh;
Q còn phải nộp 5.200.007 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trần Thị N1 phải nộp 11.625.007 đồng, nhưng được cấn trừ vào số
tiền tạm ứng án phí là 6.425.000 đồng theo biên lai thu số 0010273 ngày
07/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận P, Tnh ph H Chí Minh;
N1 còn phải nộp 5.200.007 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trần Thị Thu V1 phải nộp 11.625.007 đồng, nhưng được cấn trừ
vào số tiền tạm ứng án phí 6.425.000 đồng theo biên lai thu số 0010275 ngày
07/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận P, Tnh ph H Chí Minh;
V1 còn phải nộp 5.200.007 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trần Công Đ phải nộp là 11.625.007 đồng, nhưng được cấn trừ vào
số tiền tạm ứng án phí 6.425.000 đồng theo biên lai thu số 0010274 ngày
12
07/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận P, Thành phố Hồ C Minh; ông
Đ còn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trần Công T1 phải nộp 25.019.813 đồng .
Hoàn trả cho Đinh Thị T1 số tiền tạm ứng án phí sau: 300.000 đồng
theo biên lai thu số 0010283 ngày 08/12/2017; 300.000 đồng theo biên lai thu số
0010284 ngày 08/12/2017; 6.425.000 đồng theo biên lai thu số 0010285 ngày
08/12/2017 đều của Chi cục thi hành án dân sự quận P, Thành ph H Chí Minh.
Ghi nhận sự tự nguyện của phía nguyên đơn chịu khoản chi phí tạm ứng
thẩm định giá tài sản tranh chấp.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành
án của các đương sự theo qui định của pháp luật.
Ngày 06/8/2018, ông Trần Công T1, Nguyễn Thị Tố L, Trần Thị
Minh T2, Trần Thị Phương T3 đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án
thẩm số 242/2018/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận
P, Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án số
242/2018/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận P, Thành
phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp quyền sở hữu nhà, tranh chấp thừa kế ngày
26/7/2018 của Tòa án nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Tòa
án nhân n Thành phố Hồ Chí Minh xem xét lại toàn bộ bản án nêu trên theo
trình tự phúc thẩm vì bản án dân sự sơ thẩm nêu trên là không khách quan, trung
thực.
Ngày 10/8/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố
Hồ Chí Minh có kháng nghị số 03/QĐKNPT-VKS-DS với nội dung:
Về án phí: Quá trình giải quyết vụ án Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ
yêu cầu của nguyên đơn và xác định phần tài sản của bà T1 là ½ giá trị đất tại số
18/2 Đường T (nay là đường K) phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà
T1 cùng 05 đồng thừa kế được nhận 1/6 di sản thừa kế của ông Trần C1, tương
đương số tiền 232.500.142 (Hai trăm ba mươi hai triệu năm trăm ngàn một
trăm bốn mươi hai) đồng.
Tòa án tuyên Đinh Thị T1 phải nộp số tiền án phí 11.625.007 đồng.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí Tòa án Đinh Thị T1 thuộc
trường hợp người cao tuổi được miễn án phí.
Đinh Thị T1 đơn khởi kiện ngày 26/4/2014, sau đó đơn sửa đổi,
bổ sung yêu cầu khởi kiện vào các ngày 20/10/2015; Ngày 21/6/2017 ngày
20/11/2017. Do đó cần áp dụng Khoản 1 Điều 48 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án để miễn phí cho Đinh Thị T1. Tòa án cấp thẩm buộc T1 chịu án phí
làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T1. Nhận thấy bản án có vi phạm như đã
13
phân tích nên cần thiết phải kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, đề nghị Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo hướng sửa một phần
bản án dân sự sơ thẩm nêu trên về phần án phí.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện hợp pháp của bị đơn Trần Công T1 trình bày: Căn n đang
tranh chấp do tứ đại đồng đường chung sống, trước 2014 bà T1 cùng chung sống
với gia đình ông T1, gia đình ông Đ. Ngày 15/02/2000 ông Trần C1 đã lập Giấy
ủy quyền cho ông Trần Công T1 và bà Nguyễn Thị Tố L được quyền sở hu căn
nhà Đường T, Phường R, quận B (Nay đường K, phường N, quận P) Thành
phố HChí Minh, do đó ông T1, bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất trên. Căn cứ vào khoản 1, 2, 3, 4 Điều 48 Luật Đất đai năm 2003, Điều 649,
650, 655 Bộ luật Dân sự 2015, Khoản 2 Điều 301 Luật Hôn nhân Gia đình
năm 2000, Khoản 2 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Tòa án chấp nhận
đơn kháng cáo của ông Trần Công T1, Nguyễn Thị Tố L, Trần Thị Minh
T2, Trần Thị Phương T3. Sửa một phần bản án thẩm xác định ½ căn nhà
đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh của Trung được ông
C1 cho, riêng trị giá nhà theo chứng thư thẩm định của Công ty Thịnh Vượng là
292.995.200 đồng ông T1 là người giữ gìn tôn tạo nên ông T1 được hưởng, phần
này phía nguyên đơn cũng đồng ý không kháng cáo, ông T1 đề nghị tiếp tục
được sử dụng căn nhà nêu trên để thờ cúng liệt sỹ Trần H3 chú ruột cha
Trần C1, đồng ý thanh toán cho bà T1 giá trị ½ căn nhà theo gthẩm định
2.790.001.708 đồng: 2 = 1.395.000.854 đồng, trong thời hạn 03 tháng. Ông T1
cũng mong muốn rước T1 về nhà chung sống để phụng dưỡng tuổi gnhư
trước đây.
Ông T1 cũng đồng ý với ý kiến của đại diện hợp pháp của ông, ông cũng
muốn tiếp tục được sử dụng căn nhà trên và đưa bà T1 về chung sống.
Trang, Thảo nội dung kháng cáo giống yêu cầu của ông T1, mong
được tiếp tục sinh sống trong căn nhà nêu trên.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Giấy ủy quyền ngày 15/02/2000 do
phía bị đơn cung cấp đã hết hiệu lực do người ủy quyền đã chết theo quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 1995. Nếu xem văn bản trên là
giấy tặng cho thì theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 1995 tặng cho bất động sản
phải được lập thành văn bản chứng nhận hoặc chứng thực phải đăng ký.
Ngoài ra, hợp đồng tặng cho bất động sản chỉ hiệu lực kể từ thời điểm đăng
ký. Ngoài hình thức không được lập đúng quy định của pháp luật thì nội dung
cũng không ràng, bị đơn cũng từng thừa nhận rằng phía bị đơn đã sử dụng
văn bản này đi hợp thức hóa nhưng không được quan “cấp giấy” chấp nhận
nên mới yêu cầu chủ là ông B2, D2 ra công chứng hợp đồng mua bán
cho phía bị đơn. Tài sản chung của vợ chồng tài sản chung hợp nhất (Điều
233 Bộ luật Dân sự năm 1995). Điều đó nghĩa phần quyền sở hữu của mỗi
chủ sở hữu chung, không được xác định đối với tài sản chung. như vậy mỗi
chủ sở hữu cũng không thể tự định đoạt phần sở hữu của mình trước khi có thỏa
thuận hoặc phán quyết phân chia của Tòa án. Điều 15 Luật Hôn nhân
14
Gia đình năm 1986 quy định rõ: “Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn, những
giao dịch khác liên quan đến tài sản giá trị lớn thì phải được sự thỏa thuận
của vợ, chồng” nên không căn cứ ông C1 cho ông T1 ½ trị giá căn nhà tranh
chấp, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà T1: Mong muốn lấy lại nhà cho ông Đ con trai tôi thờ cúng.
Bà N1, bà V1, bà H1: Mong muốn bà T1 về lại căn nhà trên để ở cùng với
ông Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
Việc tn thủ pp luật trong quá trình giải quyết v án: Thẩm phán
chtọa đã chấp hành đúng quy định của Bluật Tố tụng n strong quá
trình giải quyết ván. Hội đồng t xđã thc hiện đúng các quy định của
Bộ luật Tố tụngn sự v“Ngun tắc t xử, thành phần hội đồng xét x, sự
mặt của các thành vn trong hội đồng xét xvà t phiên tòa; Phạm vi
t xử pc thm” tại phiên tòa phúc thm.
Về nội dung vụ án: Giấy y quyền ngày 15/02/2000 do phía bị đơn cung
cấp là giấy ủy quyền theo biểu mẫu, nội dung ghi ủy quyền được sở hữu căn nhà
trên để hợp thức hóa nhà không thể hiện tặng cho ông T1, ngoài ra ủy quyền cho
con trai tôi nhưng tên con dâu Nguyễn Thị Tố L nên không căn cứ cho
rằng ông C1 cho ông T1 căn nhà trên do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo
của ông T1 đề nghị đươc sở hữu ½ căn nhà 18/2 nguyễn Xuận Khoát, phường
N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu
kháng cáo của ông T1, Trang, Thảo, chấp nhận kháng nghị số
03/QĐKNPT-VKS-DS ngày 10/8/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
quận P, Thành phố Hồ Chí Minh về phần án phí bà T1 được miễn, căn cứ khoản
2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa án sơ thẩm về phần án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ ván được thẩm tra
công khai tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận. Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận định:
[1] Vnh thc:
Đơn kháng cáo ngày 06/8/2018 ông Trần Công T1, Nguyễn Thị Tố L,
Trần Thị Minh T2, Trần Thị Phương T3 nộp trong thời hạn luật định
đã đóng tạm ứng án phí phúc thẩm ngày 07/8/2018, phù hợp với quy định tại
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đơn kháng cáo được chấp nhận
xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về thời hạn kháng nghị: Ngày 26/7/2018, Tòa án nhân dân quận P, Thành
phố Hồ Chí Minh mở phiên a xét xử tuyên bản án số 242/2018/DS-ST.
Ngày 07/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh nhận
được bản án trên. Căn cứ Khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
còn thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành
ph Hồ C Minh.
15
[2] Về tố tụng:
Về vắng mặt đương sự: Xét Trần Thị Thanh T5, Nguyễn Thị Mai
Hân, Nguyễn Thị T6, Nguyễn Thị Thu H2, Trần Thị Minh T2,
Nguyễn Thị D2, ông Nguyễn Tài B2 đều bản tự khai đơn xin vắng mặt
tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa xét xử. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử
vắng mặt các ông, nêu trên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung vụ án:
Xét u cầu kháng cáo của bđơn ông Trần Công T1, Nguyễn Thị Tố
L, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Minh T2, Trần Thị
Phương T3, kháng nghị số 03/QĐKNPT-VKS-DS ngày 10/8/2018 của Viện
trưởng Viện kiểm t nhân dân Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét
xử nhận thấy:
[3.1] Nguồn gốc căn nhà đường Đường T, Phường R, quận B (Nay số
đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh)
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ :
- Tờ đăng ký nhà đất ngày 02/8/1999 do ông Trần C1 đng tên khai và ký
tên ghi tên vợ là bà Đinh Thị T1 (BL 90)
- Giấy ủy quyền đất ngày 30/8/1982 giữa Nguyễn Thị D2 ông
Trần C1 (có chữ ký bà D2)
- Giấy cam kết ngày 28/05/2014 của ông Nguyễn Tài B2 Nguyễn
Thị D2, chứng thực của Ủy ban nhân dân phường N quận P, Tnh phH
Chí Minh về chữ ký ông B2, bà D2.
- Lời khai của ông Trần Công T1 (Bị đơn) tại bản tự khai ngày 06/8/2014
(BL 123) và tại biên bản lấy lời khai ngày 07/8/2015 (BL 264)
- Lời trình bày của người đại diện hợp pháp của bị đơn (ông Phan Văn
B1) tại biên bản hòa giải ngày 20/10/2015( BL 273)
- Lời khai của ông Nguyễn Tài B2 Nguyễn Thị D2 tại biên bản lấy lời
khai ngày 14/8/2015 ( BL 265) và tại bản tự khai ngày 27/11/2017 (BL 420).
- Giấy ủy quyền ngày 15/02/2000.
Đủ sở kết luận: Vợ chồng ông Trần C1 bà Đinh Thị T1 người nhận
chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất xây dựng nhà tại địa chỉ đường
Đường T, Phường R, quận B, Thành phố H Chí Minh (Nay số đường K, phường
N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh) của vợ chồng ông Nguyễn Tài B2
Nguyễn Thị D2. Ông C1 và bà T1 đã trả đủ tiền chuyển nhượng đất cho ông B2,
bà D2. Ông B2, bà D2 ký Hợp đồng mua bán nhà số 011083/HĐ-MBN quyển số
03 TP/CC- SCC/HĐGD lập ngày 19/4/2005 tại Phòng Công chứng D Thành phố
Hồ Chí Minh cho ông Trần Công T1, bà Nguyễn Thị Tố L. Sau đó, phía ông T1
bà L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số vào sổ cấp giấy chứng
16
nhận quyền sử dụng đất: H03020 ngày 13/7/2005 do Ủy ban nhân dân quận P,
Thành phố Hồ Chí Minh đối với nhà đất trên.
Tuy nhiên, ông T1 L thừa nhận căn nhà trên của ba mẹ ông T1
mua của ông B2, D2 từ năm 1982. Ông T1 lời khai ông bà L hợp thức
hóa chủ quyền nhà thông qua ý kiến của bà T1 các anh chị em nhưng
T1 các anh chị em xác định không biết việc này. Ông T1 không chứng cứ
chứng minh ba ông là Trần C1 đã làm giấy cho ông, giấy y quyền ngày
15/02/2000 xét về hình thức không đúng quy định pháp luật, về nội dung không
thể hiện tặng cho ông Trần Công T1, nội dung ghi ủy quyền cho con trai nhưng
lại thêm tên con dâu Nguyễn Thị Tố L đồng thời ý chí của ông Trần C1 ủy
quyền để hợp thức hóa thời hạn, được ấn định tiến hành đến khi hoàn tất
hồ sơ. Do hình thức giấy ủy quyền không đúng quy định pháp luật, nội dung
không thể hiện ông Trần C1 cho ông T1 toàn quyền sở hữu căn nhà theo như
lời ông T1 trình bày. Đều này phù hợp với lời khai của ông B2, D2 cũng xác
nhận m 2005, ông T1 có gặp ông bà đề ngh rang chứng sang tên phn đất đã
n cho ông C1, T1 để cho ông T1 L đứng n. nghĩ ông C1 chết,
ngưi trong n ông C1 chuyển nợng nhà đất với ông T1, L nên ông bà đã
giy mua n (có thông qua ng chứng) với ông T1, L để giải quyết dứt điểm
vic mua bán đất với ông C1. Đủ sở xác định nguồn gốc nhà đất số đường K,
phường N, quận P i sản của ông Trần C1 Đinh Thị T1. Do đó, không
sở chấp nhận yêu cầu của ông T1 công nhận giấy ủy quyền ngày
15/02/2000 và sở hữu ½ trị giá căn nhà đường K, phường N, quận P, Thành phố
Hồ Chí Minh.
[3.2] Thi hiệu tha kế: Theo quy định ti khoản 1 Điều 623 Bluật n s
năm 2015 thì: ...Thời hiệu để người tha kế yêu cu chia di sản 30 m đối vi
bt đng sn, ..., kể từ thời đim mtha kế...”, Ông Trn C1 chết ngày 17/5/2000,
bà Đinh Th T1 vợ các con ca ông C1 Trn Th Q, Trn Thị N1, bà
Trần Thị Thu V1, ông Trn Công Đ khởi kiện ti Tòa án yêu cầu chia di sản ca ông
C1 nhà đất ta lc ti địa ch đưng Đưng T, Phường R, qun B, Thành ph
HChí Minh (Nay số đưng K, phưng N, quận P, Thành phHChí Minh) n
thi hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông C1 vẫn còn.
Ông Trần C1 chết không để lại di chúc.
Những người thừa kế theo pháp luật của ông Trần C1: Các đương sự đều
lời khai thống nhất ông Trần C1 chết ngày 17/5/2000, ba mẹ của ông C1
ông Trần S, chết năm 1959 Nguyễn Thị H3, chết năm 1969, ông C1 có vợ
Đinh Thị T1 06 người con: Trần Thị Q, Trần Thị N1, Trần
Thị Thu V1, ông Trần Công Đ ông Trần Công T1 theo quy định tại Điu 613,
điểm a khon 1 Điều 651 ca B lut Dân sm 2015 thì bà T1, bà Q, bà N1,
V1, ông Đ và ông T1 những nời thuộc hàng thừa kế th nht của ông C1.
[3.3] Phần di sản: Căn cứ Điều 233 Bộ luật Dân sự năm 1995, Điều 27
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 xác định nhà đất trên là sở hữu chung của
vợ chồng T1 ông C1 “..Tài sản chung của vchồng thuộc sở hữu chung hợp
nhất ”.Ông C1 đã chết năm 2000 (Theo giấy chứng tử số 29/P17 Quyển số 2000
17
ngày 18/05/2000 của Ủy ban nhân dân Phường R quận B Thành phố Hồ Chí
Minh cấp BL 105), không để lại di chúc. Nay bà T1 có yêu cầu về chia di sản thì
tài sản chung của vợ chồng được chia đôi là phù hợp với Luật Hôn nhân Gia
đình năm 2000 sở chấp nhận. Xác định ½ tr giá nhà đất trên di sản
thừa kế của ông C1.
[3.4] Phần chia di sản: Trị giá nhà đất số đường K, phường N, quận P,
Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả chng thư thẩm định giá số:
1371115/CT-TV ngày 08/12/2015 của Công ty cổ phần định giá đầu kinh
doanh bất động sản Thịnh Vượng :
+ Giá trị quyền sử dụng đất ở là 2.790.001.708 đồng
+ Giá trị công trình xây dựng là 292.995.200 đồng .
Trần Thị Minh T2, Trần Thị Phương T3, Thị Lệ H1, ông
Trần Công Đ, ông Trần Công D1 hiện đang cư ngụ tại nhà đất số đường K,
phường N, quận P, Thành phHồ Chí Minh đều lời khai không công sức
đóng góp vào việc xây dựng sửa chữa nhà đất trên, nên Hội đồng xét xkhông
xem xét.
Đối với phần xây dựng căn nhà: ông T1, L cho rằng ông bà đã bỏ tiền
ra xây dựng căn nhà, phía nguyên đơn các anh chị em ông T1 không tranh
chấp với ông T1 về phần xây dựng nhà đồng ý cho ông T1 được quyền sở hữu
phần giá trị y dựng căn nhà số đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ
Chí Minh theo giá thẩm định là 292.995.200 đồng phù hợp với quy định tại
điểm c khoản 2 Điều 618 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử ghi
nhận. Riêng các ông Thị Lệ H1, ông Trần Công Đ không yêu cầu (từ
chối) xem xét phần chi phí bảo quản di sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Như vậy trgiá phần di sản thừa kế của ông Trần C1 được các bên thống
nhất là ½ giá trị quyền sử dụng đất ở là 2.790.001.708 đồng : 2 = 1.395.000.854
đồng, được chia làm 06 phần bằng nhau, mỗi kỷ phần thừa kế 1.395.000.854
đồng : 6 = 232.500.142 đồng. Cụ thể các ông bà Đinh Thị T1, bà Trần Thị Q, bà
Trần Thị N1, Trần Thị Thu V1, ông Trần Công Đ, ông Trần Công T1 mỗi
người được nhận thừa kế theo kỷ phần được hưởng tương đương s tiền
232.500.142 đồng. Tổng cộng Đinh Thị T1 được 7/12; Trần Thị Q,
Trần Thị N1, Trần Thị Thu V1, ông Trần Công Đ, ông Trần Công T1 mỗi
người được 1/12 giá trị quyền sử dụng đất số đường K, phường N, quận P,
Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng ông T1 được hưởng thêm phần diện tích xây
dựng số tiền 292.995.200 đồng.
Cấp sơ thẩm, nhận định: “...Về nguồn gốc nhà đất số đường K, phường N,
quận P, Thành phố Hồ Chí Minh như đã xác định tài sản chung của T1
ông C1, nay ông C1 chết làm phát sinh thừa kế đối với phần di sản của ông C1
nên bà T1 có yêu cầu được nhận nhà sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán
cho các kỷ phần thừa kế cho những người được hưởng thừa kế phù hợp với
quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 31 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2000
nên chấp nhận. Buộc những người đang ngụ tại nhà đất số đường K, phường
18
N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh trách nhiệm bàn giao nhà cho T1...”
để giao nhà cho T1, T1 trách nhiệm thanh toán tiền cho các đồng thừa
kế theo kỷ phần nêu trên...”
Tại phiên tòa phúc thẩm xét yêu cầu kháng cáo được nhận căn nhà đường
K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục được sinh sống tại
căn nhà trên của ông T1, L, Trang, Thảo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở căn nhà số đường K,
phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên ông Trần Công T1
Nguyễn Thị Tố L. Theo Quyết định (v việc trợ cp thờ cúng lit s) số
20935/QĐ-STBXH ngày 15/11/2017 của Sở Lao động Thương binh hội
Tnh phHChí Minh thì ông Trần Công T1 người nhn số tin 500.000
(Năm trăm ngàn) đồng/m để th cúng liệt sỹ Trần H3 chú ruột của ông T1.
Ông T1 là nời nhận tiền cũng như trách nhiệm thờ cúng liệt sỹ chú ruột tại căn
nhàu trên.
Ông T1 ở căn nhà trên từ năm 1982 cho đến nay và gia đình ông T1
cũng ổn định cùng ông T1. Ông T1 người đã bỏ tiền ra sửa chửa, xây dựng
nhà. Ông T1 và gia đình ông T1 không chỗ nào khác. Hiện tại T1 không
sống n nhà đó mà với con gái. Nếu giao nhà cho T1 thì T1 không có
khả năng hoàn tiền cho các đồng thừa kế khác. Tại phiên tòa T1 cho rằng nếu
giao nhà cho thì sẽ với vợ chồng con dâu nhưng hiện con trai đã bị tạm
giam, con dâu đang khó kn và nuôi hai con nhỏ.
Do đó, sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần ng T1,
Nguyễn Thị Tố L, Trần Thị Minh T2, Trần Thị Phương T3 về việc được
nhận căn nhà đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trần
Công T1 được toàn quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất đối với căn nhà
tại số đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi thanh toán
kỷ phần thừa kế cho Đinh Thị T1 7/12 trị gđất tại số đường K, phường
N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh thanh toán cho các ông Trần Thị Q,
Trần Thị N1, Trần Thị Thu V1, Trần Công Đ mỗi người là 1/12 trị giá đất tại số
đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh theo giá tại thời điểm thi
hành án.
Do chấp nhận yêu cầu của ông T1 được nhận căn nhà trên đồng thời ông
T1, bà L, ông B2, D2 đều thừa nhận ông C1, bà T1 mua n căn nhà nêu trên
giấy tay với ông B2, bà D2 từ năm 1982, hợp đồng mua bán nhà số 011083/HĐ-
MBN quyển số 03 TP/CC- SCC/HĐGD lập ngày 19/4/2005 tại Phòng Công
chứng D Thành phố Hồ Chí Minh đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật
nên t thấy không cần thiết phải tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà số
011083/HĐ-MBN quyển số 03 TP/CC- SCC/HĐGD lập ngày 19/4/2005 tại
Phòng Công chứng D Thành phố Hồ Chí Minh giữa bên bán ông Nguyễn Tài B2
Nguyễn Thị D2 bên mua ông Trần Công T1, Nguyễn Thị Tố L vô hiệu
không cần thiết hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất: H03020 ngày 13/7/2005 do y ban nhân dân
quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp đứng tên ông Trần Công T1, Nguyễn
Thị Tố L đối với nhà đất số đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí
Minh. Sau khi thanh toán cho các đồng thừa kế theo kỷ phần nêu trên, ông T1
19
được quyền liên hệ với quan nnước thẩm quyền để thực hiện thủ tục
chuyển quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng đất ở đối với nhà đất căn nhà trên
đứng tên một mình ông Trần Công T1 sở hữu theo quy định pháp luật.
[3.5] Xét Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
06/2018/QĐ-ADBPKCTT của Tòa án nhân dân Quận P, Thành phố Hồ Chí
Minh ngày 06/01/2018.
Ngày 16/01/2018, Tòa án nhân dân Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh đã
ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2018/QĐ-
ADBPKCTT: “Cấm chuyển dịch quyền tài sản đối với tài sản đang tranh chấp là
quyền sử dụng dất, quyền sở hữu n các tài sản khác gắn liền với đất
thuộc thửa đất số 301, tờ bản đồ số 83 (BĐĐC), địa chỉ thửa đất số 18/2 Đường
T (số mới đường K), phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 123367, số o sổ cấp GCN: H03020
ngày 13/7/2005 của Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho
ông Trần Công T1 Nguyễn Thị Tố L”. Để đảm bảo thi hành án cần tuyên
tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã nêu cho đến
khi phát sinh căn cứ hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định
tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3.6] Xét kháng nghị s03/QĐKNPT-VKS-DS ngày 10/8/2018 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh:
Đinh ThT1, sinh năm 1936 thuộc trưng hợp ngưi cao tuổi theo Lut
ngưi cao tuổi. Căn cứ o điểm đ khon 1 Điều 12 của Ngh quyết
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 thì T1
không phải nộp án phí n sự thẩm. Hoàn lại cho T1 số tiền tạm ng án phí
24.000.00 (Hai mươi bốn triu) đồng theo biên lai thu s AC/2012/01346 ngày
09/7/2014, s tin 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng
theo biên lai thu số
AA/2017/0010283 ngày 08/12/2017;
stin 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo
biên lai thu số AA/2017/0010284 ngày 08/12/2017 số tiền
6.425.000 (Sáu
triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2017/0010285
ngày 08/12/2017 mà T1 đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận P, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Do đó, sa lại phn án phí y của án thẩm n kháng nghị
ca Viện trưởng vin kim t nhân n Quận P,Thành phHChí Minhng như
li đề ngh tại phiên tòa ca đại din Vin kim t nhân n Thành phH Chí
Minh.
Từ các phân tích nêu trên có đủ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng
cáo của bị đơn ông Trần Công T1, Nguyễn Thị Tố L, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Trần Thị Minh T2, Trần Thị Phương T3. Chấp nhận
kháng nghị số 03/QĐKNPT-VKS-DS ngày 10/8/2018 của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa một phần bản án
thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đinh Thị T1,
chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan các ông
Trần Thị Q, Trần Thị N1, Trần Thị Thu V1, Trần Công Đ vviệc yêu cầu
20
chia thừa kế; Không chấp nhận yêu cầu của Đinh Thị T1 về việc tuyên bố
Hợp đồng mua bán nhà số 011083/HĐ-MBN quyển số 03 TP/CC- SCC/HĐGD
lập ngày 19/4/2005 tại Phòng Công chứng D Thành phố Hồ Chí Minh giữa bên
bán ông Nguyễn Tài B2 Nguyễn Thị D2 và bên mua ông Trần Công T1,
Nguyễn Thị Tố L vô hiệu; Không chấp nhận yêu cầu của bà Đinh Thị T1 về việc
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất: H03020 ngày 13/7/2005 do Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố
Hồ Chí Minh cấp đứng tên ông Trần Công T1, Nguyễn Thị Tố L đối với n
đất số 18/2 Đường T (nay đường K, phường N) quận P, Thành phố Hồ Chí
Minh.
[4] Ván phí chi phí tố tụng kc:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Đinh Thị T1 không phi chịu án phí.
Trần Thị Q, bà Trần Thị N1, Trần Thị Thu V1, ông Trần Công Đ,
ông Trần Công T1 phải nộp số tiền án phí đối với kỷ phần được nhận theo quy
định tại điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể các ông bà trên mỗi
người phải nộp là 232.500.142 đồng x 5% = 11.625.007 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn
ông Trần Công T1, Nguyễn Thị Tố L, kháng cáo của người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Trần Thị Minh T2, Trần Thị Phương T3 nên các ông
bà trên không phải chịu án phí phúc thẩm.
- Chi phí tố tụng khác: Ghi nhận sự tự nguyện của phía nguyên đơn v
việc chịu toàn bộ chi phí thẩm định giá tài sản và đã thực hiện xong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều
313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận kháng nghị số 03/QĐKNPT-VKS-DS của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Công T1, bà Nguyễn Thị Tố
L, Bà Trần Thị Minh T2, bà Trần Thị Phương T3.
Sửa một phần bản án sơ thẩm, xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị T1
và chấp nhận yêu cầu độc lập của các ông bà Trần Thị Q, Trần Thị N1, Trần Thị
Thu V1, Trần Công Đ :
Công nhận nhà đất số 18/2 đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ
Chí Minh thuộc quyền sở hữu của ông Trần C1 và bà Đinh Thị T1.
21
Ghi nhận giá trị công trình xây dựng 292.995.200 đồng của căn nhà số
đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh là của ông Trần Công T1.
Xác định ½ trị giá đất tại số đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ
Chí Minh là của bà Đinh Thị T1.
Di sản chia thừa kế của ông Trần C1 chết để lại ½ trị giá đất tại số
đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người thừa kế theo pháp luật của ông Trần C1 bao gồm 06 người
Đinh Thị T1, Trần Thị Q, Trần Thị N1, Trần Thị Thu V1, ông Trần
Công Đ, ông Trần Công T1.
Chia di sản thừa kế của ông C1 như sau: Đinh Thị T1, Trần Thị Q,
Trần Thị N1, Trần Thị Thu V1, ông Trần Công Đ, ông Trần Công T1 mỗi
người được nhận 1/6 di sản thừa kế của ông Trần C1 (tức là bằng 1/12 trị giá đất
tại sđường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh). Tổng cộng
Đinh Thị T1 được 7/12 trị giá đất tại số đường K, phường N, quận P, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Ông Trần Công T1 trách nhiệm thanh toán kphần thừa kế cho
Đinh Thị T1 7/12 thanh toán cho các ông Trần Thị Q, Trần Thị N1,
Trần Thị Thu V1, Trần ng Đ mỗi người 1/12 trị giá đất tại số đường K,
phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh theo giá tại thời điểm thi hành án.
Sau khi thanh toán xong cho các đồng thừa kế trên, ông Trần Công T1
được toàn quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất đối với căn nhà tại số
đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh ông T1 được quyền
liên hệ với cơ quan Nhà nước thẩm quyền để tiến hành thủ tục chuyển quyền
sở hữu nhà quyền sử dụng đất đối với nhà đất căn nhà trên đứng tên một
mình ông Trần Công T1 sở hữu theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp ông Trần Công T1 không tự nguyện thi hành án thì các
đồng thừa kế được quyền yêu cầuquan thi hành án đấu giá tài sản là căn nhà
trên để nhận giá trị sau khi đã trừ chi phí xây dựng số tiền 292.995.200 (Hai
trăm chín hai triệu chín trăm chín mươi lăm ngàn hai trăm) đồng các chi phí
đấu giá tài sản, số tiền còn lại chia cho các thừa kế theo T1 lệ nêu trên.
Kể t ny ni đưc thi hành án có đơn yêu cu thi hành án, nếu người phi
thi nh án chậm thi nh khon tin nêu trên, t ng tháng phi chịu tin lãi theo
mci suất do các bên tha thuận nhưng không đưc vưt quá mc lãi suất theo quy
định tại Khon 1 Điu 468 Blut n s 2015; nếu không có tha thun đưc thì
thực hiện theo quy đnh ti Khoản 2 Điều 468 B lut n sự 2015 đi với stin
chậm thực hin ơng đương vi thi gian chm thi hành án.
2/ Không chấp nhận yêu cầu của Đinh Thị T1 về việc tuyên bố Hợp
đồng mua bán nhà số 011083/HĐ-MBN quyển số 03 TP/CC- SCC/HĐGD lập
ngày 19/4/2005 tại Phòng Công chng D Thành phố Hồ Chí Minh giữa bên bán
ông Nguyễn Tài B2 Nguyễn Thị D2 bên mua ông Trần Công T1,
Nguyễn Thị Tố L vô hiệu.
22
3/ Không chấp nhận yêu cầu của bà Đinh Thị T1 về việc hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
H03020 ngày 13/7/2005 do Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh
cấp đứng tên ông Trần Công T1, bà Nguyễn Thị Tố L đối với nhà đất số 18/2
đường K, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2018/QĐ-ADBPKCTT ngày 16/01/2018 của Tòa
án nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc hủy bỏ việc áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4/ Về án phí:
- Án phí thẩm:
Đinh ThT1, sinh năm 1936 thuộc trưng hợp ngưi cao tuổi theo Lut
ngưi cao tuổi. Căn cứ o điểm đ khon 1 Điều 12 của Ngh quyết
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 thì T1
không phải nộp án phí n s thẩm.
Hn lại cho Đinh Thị T1 số tiền tạm ng án phí 24.000.000 (Hai mươi
bn triệu) đng theo biên lai thu s AC/2012/01346 ngày 09/7/2014, s tin 300.000
(Ba trăm ngàn) đng
theo biên lai thu số AA/2017/0010283 ngày 08/12/2017;
s
tin 300.000 (Ba trăm ngàn) đng theo biên lai thu số AA/2027/0010284 ngày
08/12/2017 số tiền
6.425.000 (Sáu triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn) đồng
theo biên lai thu số AA/2017/0010285 ngày 08/12/2017 mà bà T1 đã nộp tại Chi
cục thi hành án dân sự quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Trần Công T1 phải nộp số tiền 11.625.007 (Mười một triệu sáu
trăm hai mươi lăm ngàn không trăm bảy) đồng.
Trần Thị Q phải nộp số tiền 11.625.007 đồng, nhưng được cấn tr
vào số tiền tạm ứng án phí 6.425.000 đồng theo biên lai thu số
AA/2017/0010272 ngày 07/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận P,
Thành phố Hồ Chí Minh; bà Q còn phải nộp 5.200.007 (Năm triệu hai trăm ngàn
không trăm bảy) đồng.
Trần Thị N1 phải nộp 11.625.007 đồng, nhưng được cấn trừ vào số
tiền tạm ứng án phí 6.425.000 đồng theo biên lai thu số AA/2017/0010273
ngày 07/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận P, Thành phố Hồ Chí
Minh; N1 còn phải nộp 5.200.007 (Năm triệu hai trăm ngàn không trăm bảy)
đồng.
Trần Thị Thu V1 phải nộp 11.625.007 đồng, nhưng được cấn trừ
vào số tiền tạm ứng án phí 6.425.000 đồng theo biên lai thu số
AA/2017/0010275 ngày 07/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận P,
23
Thành phố Hồ Chí Minh; V1 còn phải nộp 5.200.007 (Năm triệu hai trăm
ngàn không trăm bảy) đồng.
Ông Trần Công Đ phải nộp là 11.625.007 đồng, nhưng được cấn trừ vào
số tiền tạm ứng án phí 6.425.000 đồng theo biên lai thu số AA/2017/0010274
ngày 07/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận P, Thành phố Hồ Chí
Minh; ông Đ còn phải nộp 5.200.007 (Năm triệu hai trăm ngàn không trăm bảy)
đồng.
- Án phí phúc thẩm:
Ông Trần Công T1, Nguyễn Thị Tố L, Trần Thị Minh T2, Trần
Thị Phương T3 không phải chịu án phí phúc thẩm.
Hn lại cho ông Trần Công T1, bà Nguyễn Th T L, Trn ThPhương
T3, Bà Trần Thị Minh T2, mỗi người s tiền tạmng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn)
đng theo biên lai thu số AA/2017/0011558, AA/2017/0011557, AA/2017/0011556,
AA/2017/0011555 cùng ngày 07/8/2018, ca Chi cục thinh án quận P, Tnh ph
HC Minh.
- Chi phí tố tụng khác: Ghi nhận sự tự nguyện của phía nguyên đơn chịu
khoản chi phí tạm ứng thẩm định giá tài sản tranh chấp và đã thực hiện xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Lệ Uyên Võ Thị Mỹ Hạnh Lê Phan Thị Minh N1
24
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân Tối cao;
- Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM;
- Viện kiểm sát Cấp cao tại TPHCM,
- Viện kiểm sát nhân dân Tp.HCM
- Tòa án nhân dân quận P, TPHCM;
- Chi cc THADS quận P, TPHCM;
- Các đương sự (để thi hành)
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Phan Thị Minh N1
25
Tải về
Bản án số 824/2019/DS-PT Bản án số 824/2019/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất