Bản án số 814/2025/DS-PT ngày 23/02/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 814/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 814/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 814/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 814/2025/DS-PT ngày 23/02/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 814/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản và đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn Nguyễn Thị L với bị đơn Huỳnh Thị Kim T1 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 814/2025/DS-PT
Ngày: 02-12-2025
V/v tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản
và đòi lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Ánh Phương;
Ông Nguyễn Tuấn Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thành - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Thị
Cẩm Thúy - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 474/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm
2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản và đòi lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 48/2025/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2025
của Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân
dân khu vực 12 - Đồng Tháp) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1210/2025/QĐ-PT
ngày 23 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị L, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường
H, tỉnh Đồng Tháp).
Đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Minh T, sinh ngày 25/7/1970 (có mặt);
Địa chỉ: Số B, đường P, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (nay là
phường S, tỉnh Đồng Tháp).
2. Bị đơn:
2.1. Huỳnh Thị Kim T1, sinh năm 1993;
2
2.2. Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1991;
Cùng địa chỉ: Số H, đường P, Khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng
Tháp (nay là phường H, tỉnh Đồng Tháp).
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1964 (có
mặt);
Địa chỉ: Số nhà A, đường T, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh
(nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L do ông Cao Minh T
là người đại diện hợp pháp trình bày:
Tháng 11/2022, bà Nguyễn Thị L có cho vợ chồng Huỳnh Thị Kim T1 và
Nguyễn Hữu T2 vay số tiền 500.000.000 đồng để trả tiền mua nhà của Nhà nước
bán hóa giá. Khi đó, bà Nguyễn Thị L đã cố gắng giúp đi hỏi vay người khác số
tiền 500.000.000 đồng, lãi gộp mỗi tháng là 15.000.000 đồng để vợ chồng
Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 kịp nộp cho Nhà nước đúng thời hạn. Do
là con cháu ruột, thường xuyên tới lui tại nhà nên bà Nguyễn Thị L không làm
giấy tờ, biên nhận.
Thời gian đầu năm 2022, vợ chồng Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2
đóng tiền mặt, đến năm 2023 mới chuyển khoản, vợ chồng Huỳnh Thị Kim T1,
Nguyễn Hữu T2 đều đặn chuyển khoản số tiền lãi là 15.000.000 đồng/tháng vào
số tài khoản của bà Nguyễn Thị L tại Ngân hàng N – Chi nhánh thành phố H để
bà Nguyễn Thị L trả tiền lãi cho người mà bà Nguyễn Thị L đã vay. Tuy nhiên,
kể từ tháng 6/2023 cho đến nay thì vợ chồng Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu
T2 đã mất khả năng trả nợ, không đóng tiền lãi và cũng không trả nợ gốc cho bà
Nguyễn Thị L nên bà Nguyễn Thị L phải tự bỏ tiền của bà Nguyễn Thị L để trả
lãi cho số tiền này.
Vào khoảng tháng 7/2023, Huỳnh Thị Kim T1 nhờ bà Nguyễn Thị L bán
dùm quyền sử dụng đất và tự giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà
Nguyễn Thị L giữ. Nhận thấy hoàn cảnh Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2
cũng gặp khó khăn, Huỳnh Thị Kim T1 cũng nói không bán được đất cho ai, nên
bà Nguyễn Thị L có thống nhất nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá
900.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận, hai bên đến Phòng C để làm thủ tục
chuyển nhượng nhưng không thực hiện được, do quyền sử dụng đất của Huỳnh
Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 được cấp chưa được phép sang bán, cầm cố,
chuyển nhượng, thế chấp vì còn trong thời hạn 10 năm kể từ ngày 28/7/2014 đến
ngày 28/7/2024.
Sau đó, bà Nguyễn Thị L về nhà bàn bạc và thống nhất sẽ đưa trước số tiền
200.000.000 đồng cho Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 và thống nhất trừ số
3
tiền Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 còn nợ của bà Nguyễn Thị L là
500.000.000 đồng, còn lại số tiền 200.000.000 đồng thì ngay sau khi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất có hiệu lực pháp luật và được phép công chứng chuyển
nhượng thì bà Nguyễn Thị L sẽ thanh toán đầy đủ cho Huỳnh Thị Kim T1,
Nguyễn Hữu T2. Tuy nhiên, Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 không thống
nhất mà chỉ muốn nhận đủ số tiền 400.000.000 đồng và trừ số tiền 500.000.000
đồng, nên bà Nguyễn Thị L không đồng ý.
Tháng 11/2023, bà Nguyễn Thị L nghe đài phát thanh thông báo Huỳnh
Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 đã báo mất giấy chứng nhận và đang thực hiện thủ
tục để được cấp lại giấy chứng nhận. Tuy nhiên, giấy đất này không bị mất mà
Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 đã tự nguyện giao cho bà Nguyễn Thị L
quản lý. Bà Nguyễn Thị L có đến phường trình báo là đang giữ giấy đất của
Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2.
Ngày 23/12/2023, trên Công an phường A có nói với bà Nguyễn Thị L do
có đơn tố cáo của Huỳnh Văn T3 (anh của Huỳnh Thị Kim T1), tố cáo bà
Nguyễn Thị L cưỡng đoạt tài sản, trong đơn có thừa nhận Huỳnh Thị Kim T1
thiếu nợ bà Nguyễn Thị L. Tuy nhiên, đơn này hiện do Công an phường A lưu
trữ, quản lý hồ sơ, nên bà Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố
Hồng Ngự có văn bản đến Công an phường A để thu thập đơn tố cáo này.
Đối với việc Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 đã tự nguyện giao giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị L quản lý. Do đó, qua yêu
cầu phản tố của bị đơn, bà Nguyễn Thị L chỉ thống nhất giao trả giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 khi Huỳnh
Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 trả đủ cho bà Nguyễn Thị L số tiền bà Nguyễn Thị
L yêu cầu. Hiện nay, bà Nguyễn Thị L không thống nhất trả lại giấy đất này.
Đối với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hai bên chưa làm giấy tờ
gì cả, chỉ vừa đến Phòng C để hỏi thăm về thủ tục, do đó, đối với việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, bà Nguyễn Thị L không yêu cầu, không tranh chấp
trong vụ án này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị L yêu cầu Huỳnh Thị Kim T1,
Nguyễn Hữu T2 phải liên đới trả số tiền vay còn thiếu gốc là 500.000.000 đồng
và tiền lãi 200.040.000 đồng, tổng cộng 700.040.000 đồng và tiếp tục tính lãi
cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án; thống nhất trả giấy chứng nhận lại
cho Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 với điều kiện Huỳnh Thị Kim T1,
Nguyễn Hữu T2 phải trả đủ tiền cho bà Nguyễn Thị L.
* Bị đơn là Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 do ông Nguyễn Văn X là
người đại diện hợp pháp trình bày:
Trước đây, chị Huỳnh Thị Kim T1 và anh Nguyễn Hữu T2 cũng có vay
tiền qua lại với chị Nguyễn Thị L, tuy nhiên, đã thanh toán đầy đủ, không còn
thiếu số tiền nào cả. Ông xin xác định Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2
không thiếu bà Nguyễn Thị L số tiền 500.000.000 đồng. Huỳnh Thị Kim T1,
Nguyễn Hữu T2 có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bà Nguyễn Thị
L bán đất dùm, bà Nguyễn Thị L cho rằng phải có bản chính giấy chứng nhận
4
mới bán được, nhưng sau đó bà Nguyễn Thị L không bán được và buộc Huỳnh
Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 phải bán cho bà Nguyễn Thị L phần đất này với
giá rẻ, nhưng Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 không thống nhất và yêu cầu
bà Nguyễn Thị L trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Nguyễn Thị L
không đồng ý, nên Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 đã gửi đơn cớ mất để
được cấp lại giấy chứng nhận. Bà Nguyễn Thị L không thống nhất giao trả giấy
chứng nhận mà còn cho rằng Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 còn thiếu bà
Nguyễn Thị L số tiền 500.000.000 đồng và đã khởi kiện Huỳnh Thị Kim T1,
Nguyễn Hữu T2.
Nếu bà Nguyễn Thị L cho rằng Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 còn
thiếu số tiền 500.000.000 đồng thì yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng
minh vấn đề này.
Bà Nguyễn Thị L cho rằng có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với
Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2, đối với vấn đề này ông không ý kiến,
không yêu cầu, do ông không nghe Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 nói gì
về vấn đề này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Huỳnh Thị Kim T1, Nguyễn Hữu T2 không thống
nhất theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị L; chị Huỳnh Thị Kim T1 có yêu cầu phản
tố yêu cầu bà Nguyễn Thị L phải trả lại cho chị Huỳnh Thị Kim T1 giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số: DG 868786, số vào sổ: CH 13622, thửa đất số 31, tờ
bản đồ số 88, diện tích 81,00m
2
, do hộ bà Huỳnh Thị Kim T1 đứng tên giấy
chứng nhận.
* Bản án dân sự sơ thẩm số: 48/2025/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2025
của Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân
dân khu vực 12 - Đồng Tháp) đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 91,
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 166, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015;
Căn cứ vào khoản 4, 5 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc chị Huỳnh Thị Kim T1 và anh Nguyễn Hữu T2 phải liên đới trả cho
bà Nguyễn Thị L số tiền vay còn thiếu gốc là 239.984.567 đồng và tiền lãi
98.531.263 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 338.515.830 đồng, lấy tròn
338.516.000 đồng (Ba trăm ba mươi tám triệu năm trăm mười sáu nghìn đồng).
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật Dân sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Huỳnh Thị Kim T1.
5
Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho chị Huỳnh Thị Kim T1 giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số: DG 868786, số vào sổ: CH 13622, thửa đất số 31,
tờ bản đồ số 88, diện tích 81,00m
2
, do hộ bà Huỳnh Thị Kim T1 đứng tên giấy
chứng nhận.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng
cáo và quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, nguyên đơn Nguyễn Thị L kháng cáo bản án
sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng
buộc chị Huỳnh Thị Kim T1 và anh Nguyễn Hữu T2 phải liên đới trả cho bà
Nguyễn Thị L số tiền vay còn thiếu là 500.000.000 đồng và tiền lãi 200.040.000
đồng, tổng cộng 700.040.000 đồng và tiếp tục tính lãi cho đến khi Tòa án giải
quyết xong vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, các
đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của
người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm
đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Kiểm sát viên nhận định:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L kháng cáo nhưng không cung cấp bổ sung tài
liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có
căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bà L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] Bà Nguyễn Thị L nộp đơn kháng cáo và thực hiện thủ tục kháng cáo
hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Về yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu bị đơn chị Huỳnh Thị Kim
T1 và anh Nguyễn Hữu T2 phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền vay
còn thiếu là 500.000.000 đồng và tiền lãi 200.040.000 đồng, tổng cộng
700.040.000 đồng và tiếp tục tính lãi cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án.
Bị đơn chị Huỳnh Thị Kim T1 và anh Nguyễn Hữu T2 thừa nhận có nợ bà
Nguyễn Thị L số tiền 300.000.000 đồng tuy nhiên anh chị đã trả xong, đồng thời
chị T1 còn có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị L phải trả
cho chị Huỳnh Thị Kim T1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DG 868786,
6
số vào sổ: CH 13622, thửa đất số 31, tờ bản đồ số 88, diện tích 81,00m
2
, do hộ
bà Huỳnh Thị Kim T1 đứng tên giấy chứng nhận.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc
chị Huỳnh Thị Kim T1 và anh Nguyễn Hữu T2 phải liên đới trả cho bà Nguyễn
Thị L số tiền vay và lãi còn thiếu tổng cộng là 338.516.000 đồng và chấp nhận
yêu cầu phản tố của chị T1, buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho chị Huỳnh Thị
Kim T1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DG 868786, số vào sổ: CH
13622, thửa đất số 31, tờ bản đồ số 88, diện tích 81,00m
2
, do hộ bà Huỳnh Thị
Kim T1 đứng tên giấy chứng nhận.
Bà L không đồng ý với bản án sơ thẩm nên kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc chị Huỳnh Thị Kim T1
và anh Nguyễn Hữu T2 phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền vay còn
thiếu là 500.000.000 đồng và tiền lãi 200.040.000 đồng, tổng cộng 700.040.000
đồng và tiếp tục tính lãi cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án.
Chị T1 và anh T2 cũng nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm tuy nhiên do
không thực hiện việc nộp tạm ứng án phí kháng cáo theo quy định xem như đã
từ bỏ việc kháng cáo nên Tòa án không đặt ra xem xét đối với yêu cầu kháng
cáo của chị T1 và anh T2.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L, Hội đồng xét xử nhận
thấy:
[3.1] Về số tiền vay và thời gian cho vay:
Bà L cho rằng chị T1 và anh T2 có vay của bà số tiền 500.000.000 đồng
vào khoảng tháng 11 năm 2022 nhưng bà không cung cấp được tài liệu, chứng
cứ chứng minh cho việc vay tiền này.
Chị T1, anh T2 thừa nhận có vay của bà L số tiền 300.000.000 đồng vào
khoảng tháng 11 năm 2020 hoặc năm 2021 nhưng anh, chị đã trả xong. Việc chị
T1, anh T2 thừa nhận có vay của bà L 300.000.000 đồng tuy nhiên anh, chị
không có chứng cứ chứng minh đã trả xong khoản vay này, đồng thời các tin
nhắn qua lại giữa chị T1 và con của bà L thể hiện nội dung chị T1, anh T2 vẫn
còn nợ tiền bà L nên có căn cứ xác định chị T1, anh T2 còn nợ bà L số tiền
300.000.000 đồng.
Về thời gian vay tiền, các bên khai không thống nhất tuy nhiên việc bà L
cho rằng chị T1, anh T2 vay tiền vào tháng 11 năm 2022 là có lợi cho phía bị
đơn nên cần ghi nhận phần này.
Như vậy, có cơ sở xác định chị T1, anh T2 có vay bà L số tiền 300.000.000
đồng vào tháng 11 năm 2022.
[3.2] Về lãi suất:
Mặc dù các bên khai khác nhau, nhưng đều thống nhất mức góp/lãi hàng
tháng là 15.000.000 đồng/tháng. Xét thấy mức này vượt quá quy định pháp luật,
Tòa án cấp sơ thẩm đã điều chỉnh lại lãi suất phù hợp với quy định
(1,66%/tháng) và tính toán lại lãi trên số tiền gốc còn nợ, xác định tổng số tiền
bị đơn còn nợ nguyên đơn là 338.516.000 đồng (trong đó nợ gốc là 239.984.567
7
đồng, lãi là 98.531.263 đồng) là phù hợp. Mức lãi suất tính đến ngày xét xử sơ
thẩm là phù hợp, phần tính lãi tiếp theo được thực hiện kể từ ngày nguyên đơn
có đơn yêu cầu thi hành án sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Bà L kháng cáo nhưng không cung cấp, bổ sung tài liệu, chứng cứ chứng
minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có cơ sở chấp nhận.
Các phần khác của án sơ thẩm xét xử có căn cứ, không có kháng cáo,
kháng nghị được giữ nguyên.
[4] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm do yêu cầu
kháng cáo không được chấp nhận theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng
dân sự và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 13 tháng 6
năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp (nay là
Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp).
Căn cứ vào Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 166, 357, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị
L.
Buộc chị Huỳnh Thị Kim T1 và anh Nguyễn Hữu T2 phải liên đới trả cho
bà Nguyễn Thị L số tiền vay còn thiếu gốc là 239.984.567 đồng và tiền lãi
98.531.263 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 338.515.830 đồng, lấy tròn
338.516.000 đồng (Ba trăm ba mươi tám triệu năm trăm mười sáu nghìn đồng).
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của
Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Huỳnh Thị Kim T1.
8
Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho chị Huỳnh Thị Kim T1 giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số: DG 868786, số vào sổ: CH 13622, thửa đất số 31,
tờ bản đồ số 88, diện tích 81,00m
2
, do hộ bà Huỳnh Thị Kim T1 đứng tên giấy
chứng nhận.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị L phải chịu 18.376.200 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.500.000 đồng theo biên lai thu
số 0012086 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng
Ngự, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 - Đồng
Tháp) nên bà Nguyễn Thị L còn phải nộp tiếp số tiền 3.876.000 đồng (Ba triệu
tám trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Chị Huỳnh Thị Kim T1 và anh Nguyễn Hữu T2 phải liên đới chịu
16.926.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án
phí đã nộp (Do Huỳnh Thị Kim T1 nộp) 300.000 đồng theo biên lai thu số
0000683 ngày 11/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự,
tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 - Đồng Tháp) nên
chị T1 và Anh T2 còn phải nộp tiếp số tiền 16.626.000 đồng (Mười sáu triệu sáu
trăm hai mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được
trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003808 ngày
02/7/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp (nay là Thi hành án dân
sự tỉnh Đồng Tháp), bà L đã nộp xong án phí phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND Khu vực 12 - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS KV 12 - Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thanh Phong
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 24/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm