Bản án số 78/2022/DS-PT ngày 29/06/2022 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản và hợp đồng mua bán tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 78/2022/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 78/2022/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 78/2022/DS-PT ngày 29/06/2022 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản và hợp đồng mua bán tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lâm Đồng |
| Số hiệu: | 78/2022/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/06/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản và hợp đồng mua bán tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 78/2022/DS-PT
Ngày: 29/6/2022
V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản và hợp đồng mua bán tài
sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nguyệt
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Vân
Ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Ngọc Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ
Thị Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 06 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2022/TLPT-DS ngày 16 tháng 05 năm 2022
về việc “Tranh chấp Hợp đồng dân sự vay tài sản và hợp đồng mua bán tài sản”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 77/2021/DS-ST ngày 07-9-2021 của Tòa án nhân
dân huyện Đ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2022/QĐ-PT ngày 26-5-2022,
Thông báo số 271/TB-PT ngày 06-6-2022 về việc thay đổi thời gian mở phiên toà
xét xử phúc thẩm vụ án dân sự giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số 03, thôn Đ, xã
Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Huỳnh
Nguyễn Bảo D – Văn phòng luật sư N thuộc đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Vợ chồng ông Y, sinh năm 1969; Bà M, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn
M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người kháng cáo: ông Y, bà M – bị đơn.
(Các đương sự và luật sư có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, bản tự khai của nguyên
đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

2
Trước ngày 11/01/2020 tôi có cho vợ chồng ông Y, bà M vay tiền nhiều lần,
nhưng đến ngày 11/01/2020 chốt nợ lại với nhau thì vợ chồng ông Y, bà M còn nợ
tôi số tiền 120.000.000 đồng, hẹn đến ngày 11/12/2020 sẽ trả nhưng đến nay vẫn
chưa trả, lãi suất hai bên tự thỏa thuận. Đến ngày 05/3/2020 vợ chồng ông Y, bà M
vay của tôi 330 kg cà phê nhân, thời hạn trả tháng 12.2020 trả cùng 120.000.000
đồng. Khi viết giấy xác nhận nợ có con gái M1 và con gái út M2 cùng ký vào giấy
nợ. Đến nay tôi nhiều lần yêu cầu trả nợ vợ chồng ông Y, bà M vẫn không chịu trả.
Nay tôi yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Y, bà M trả cho số tiền 120.000.000 đồng
gốc, cùng tiền lãi tính từ 11/01/2020 cho đến nay là 19 tháng, 120.000.000 đồng x
1% x 19 tháng = 22.800.000 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 142.800.000 đồng và
330 kg cà phê nhân rô khô.
Ngoài ra, vợ chồng ông Y, bà M không nợ tôi khoản nào khác.
* Theo bản tự khai, bị đơn vợ chồng ông Y, bà M trình bày:
Vợ chồng tôi thừa nhận có nợ bà M 100.000.000 đồng và 330 kg cà phê nhân
theo giấy xác nhận nợ ngày 11/01/2020 và ngày 05/03/2020 có hai con gái M1, M2
cùng ký tên. Hẹn đến ngày 11/12/2020 sẽ trả, lãi suất do hai bên thỏa thuận với nhau.
Từ đó đến nay vợ chồng tôi chưa trả được lãi cho bà M do làm ăn khó khăn. Nay vợ
chồng tôi đồng ý trả cho bà M 100.000.000 đồng gốc cùng tiền lãi tính từ 11/01/2020
cho đến nay là 19 tháng, 100.000.000 đồng x 1% x 19 tháng = 19.000.000 đồng.
Tổng cộng cả gốc và lãi là 119.000.000 đồng và 330 kg cà phê nhân rô khô.
Ngoài ra vợ chồng tôi không nợ bà M khoản nào khác.
Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải nhưng không thành.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 77/DS-ST ngày 07-9-2021 của Tòa án nhân dân
huyện Đ đã xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc kiện tranh
chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản và về mua bán tài sản. Buộc vợ chồng ông Y bà
M có nghĩa vụ thanh toán cho bà M tổng số tiền 154.020.000đ (Một trăm năm mươi
bốn triệu không trăm hai mươi ngàn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành
án của các bên đương sự.
Ngày 21-9-2021, bị đơn ông Y, bà M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm.
Tại phiên toà hôm nay: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo. Đồng thời, cho rằng chỉ vay của nguyên đơn số tiền 100.000.000đ và 330
kg cà phê nhân nên không đồng ý với bản án sơ thẩm. Nguyên đơn không đồng ý với
kháng cáo của bị đơn, đề nghị giải quyết như án sơ thẩm. Luật sư bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng bị đơn kháng cáo quá hạn nhưng Tòa án
cấp sơ thẩm vẫn thông báo cho bị đơn đóng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên đề
nghị xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành
pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như tại phiên toà hôm
nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân
3
sự. Đồng thời, nêu quan điểm đề nghị: đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn đối với chị M1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn: Buộc bị đơn trả cho
nguyên đơn số tiền 100.000.000 đ nợ gốc, 15.770.000 nợ lãi và 11.220.000đ tiền cà
phê.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu bị
đơn vợ chồng ông Y, bà M trả số tiền vay 120.000.000 đồng + lãi phát sinh và 330
kg cà phê nhân rô (robusta) khô (thực chất là mua bán cà phê non), bị đơn cho rằng
chỉ nợ 100.000.000 đồng và 330 kg cà phê nên phát sinh quan hệ tranh chấp. Cấp sơ
thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng dân sự về vay tài sản và
về hợp đồng mua bán tài sản” là đúng quy định.
[2] Về tố tụng: Phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án ngày 07/9/2021, theo dấu công
văn đến thì bị đơn nộp đơn kháng cáo đến Tòa án nhân dân huyện Đ ngày 21/9/2021
(BL số 52) là kháng cáo trong hạn. Tuy nhiên, do đơn kháng cáo là bản phôtô nên
Tòa án đã thông báo cho bị đơn làm lại, sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo nhưng do
ông Y đi rừng không có nhà nên không đến Tòa. Ngày 16/11/2021 bị đơn đến Tòa
án để viết lại đơn kháng cáo và đóng tiền tạm ứng án phí – biên lai thu số 0007809
ngày 16/11/2021 (theo Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 20/TB-TA
ngày 08/11/2021 – BL số 57, 60). Như vậy, ngay từ đầu bị đơn đã nộp đơn kháng
cáo trong hạn. Sau đó, bị đơn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và Biên lai thu tiền
tạm ứng án phí đến Tòa án đúng thời hạn theo Thông báo của Tòa án cấp sơ thẩm
nên không xem là kháng cáo quá hạn.
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn vợ chồng ông Y, bà M và chị M1
trả nợ. Cấp sơ thẩm xác định chị M1 là người làm chứng là không đúng. Tại phiên
toà nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với chị M1 nên đình chỉ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn đối với chị M1.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Y, bà M thì thấy rằng:
Bà M khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Y, bà M trả số tiền vay 120.000.000 đồng
+ lãi phát sinh và 330 kg cà phê nhân rô (robusta) khô. Chứng cứ bà M xuất trình là
giấy nhận nợ có nội dung “ngày 11-01-2020, Tôi tên là Y cùng vợ tôi là M thôn M
cùng con gái là M1 có vay của cô M Q với số tiền là 120.000.000 đồng (Một trăm
triệu đồng chẵn). Hẹn đến ngày 11.12.2020 là trả số tiền trên… 5/3/2020 A Y, chị
H lấy 330 ký cà phê nhân” (BL số 21). Giấy nợ do con gái bị đơn là M2 viết, có chữ
ký xác nhận của vợ chồng ông Y, bà M và chị M1 (con bị đơn). Chứng cứ nguyên
đơn xuất trình đã có sự không thống nhất: số tiền bằng số là 120.000.000 đồng nhưng
bằng chữ là một trăm triệu đồng. Trước đây nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu bị đơn
trả 100.000.000 đồng cũng theo giấy nhận nợ ghi ngày 11-01-2020 (thông báo thụ lý
số 19/TB-TLVA ngày 08/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ). Do nguyên đơn rút
đơn khởi kiện nên Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay nguyên
đơn trình bày ngày 11-01-2020 nguyên đơn cho bị đơn vay nhiều lần, các lần khác
đã trả xong là mâu thuẫn với lời trình bày của nguyên đơn tại giai đoạn sơ thẩm
“Trước ngày 11/01/2020 tôi có cho vợ chồng ông Y, bà M vay tiền nhiều lần, nhưng
đến ngày 11/01/2020 chốt nợ lại với nhau thì…” (BL số 24). Như vậy, ngày
4
11/01/2020 giữa nguyên đơn và bị đơn chốt nợ, theo đó bị đơn nợ nguyên đơn số
tiền 100.000.000 đồng, hẹn đến ngày 11/12/2020 sẽ trả, do bị đơn không trả được
tiền lãi nên nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn viết lại giấy nhận nợ nhiều lần như bị
đơn trình bày là đúng. Do đó, cần chấp nhận trình bày của bị đơn, buộc bị đơn trả
cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng.
Về tiền lãi: nguyên đơn và bị đơn đều xác định có thỏa thuận lãi nhưng giấy nợ
không ghi mức lãi suất, bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án là có tranh chấp về tiền lãi.
Căn cứ khoản 2, điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, lãi suất được tính như sau:
100.000.000đ x 0.83% x 19 tháng = 15.770.000đ.
+ Đối với khoản nợ 330kg cà phê nhân rô khô: Vợ chồng ông Y bà M cũng
đồng ý trả theo yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, vợ chồng ông Y, bà M có trách
nhiệm thanh toán cho bà M 330 kg cà phê nhân rô khô, quá trình giải quyết vụ án hai
bên thống nhất tính giá cà phê là 39.400đ/1 kg. Tuy nhiên, bà M chỉ yêu cầu tính giá
34.000đ/kg, thành tiền là 330 kg x 34.000đ = 11.220.000đ.
Tổng cộng, vợ chồng ông Y bà M phải trả cho bà M 100.000.000đ tiền vay gốc
+ 15.770.000 tiền lãi + 11.220.000đ tiền 330kg cà phê nhân khô = 126.990.000đ
(Một trăm hai mươi sáu triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).
Từ những phân tích trên, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Y, bà M. Sửa
bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định.
[3] Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần
yêu cầu không được chấp nhận là (154.020.000đ -126.990.000đ) x5% = 1.351.500
đồng.
Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho
nguyên đơn là 126.990.000đ x 5% = 6.349.500 đồng.
Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên ông Y, bà M không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, án phí Tòa án của Ủy ban
thường vụ Quốc hội.
Xử:
+ Đình chỉ 1 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M đối với
chị M1.
+ Chấp nhận kháng cáo của ông Y, bà M. Sửa bản án sơ thẩm.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc kiện
tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản và mua bán tài sản.
Buộc vợ chồng ông Y, bà M có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị M tổng
số tiền 126.990.000đ (Một trăm hai mươi sáu triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng)).
5
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi
hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo
mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí:
Buộc ông Y, bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.349.500 đồng nhưng
được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007809
ngày 16-11-2021 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007212 ngày 25-01-2022
đều của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ. Ông Y, bà M còn phải nộp 5.749.500
đồng án phí.
Buộc bà Nguyễn Thị M phải chịu 1.351.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng
được trừ vào số tiền 3.700.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
AA/2017/0006822 ngày 25-6-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Hoàn
trả cho bà M số tiền 2.348.500 đồng án phí còn dư.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TANDTC (01);
- VKSND tỉnh LĐ (01);
- TAND H. Đ (02);
- Phòng KTNV&THA (01);
- Các đương sự (04);
- Lưu AV – HS (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Vũ Thị Nguyệt
6
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm