Bản án số 76/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TAND tỉnh Gia Lai về y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 76/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 76/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 76/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 76/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TAND tỉnh Gia Lai về y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Gia Lai |
| Số hiệu: | 76/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/07/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Nhung kiện ông Thạch yêu cầu tuyên văn bản công chứng vô hiệu |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 76/2024/DS-PT
Ngày: 09-7-2024
V/v “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố
văn bản thỏa thuận phân chia di sản và
tặng cho tài sản vô hiệu ”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thưởng.
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng và ông Đặng Chí Công.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông
Hoàng Văn Hạnh – Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 37/2024/TLPT-DS ngày 20-5-2024 về
“Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản và tặng cho
tài sản vô hiệu”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2024/DS-ST ngày 01-4-2024 của Tòa án
nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 70/2024/QĐ-PT ngày
04-6-2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 64/2024/QĐ-PT ngày 24-6-2024 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích N; địa chỉ: Tổ 3, phường A, thị xã A,
tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Th; địa chỉ: Tổ 3, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Hà Đồng Th- Luật
sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: 63 H, quận H, thành phố Đà
Nẵng. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Th; địa chỉ: Tổ 3, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng
mặt.
- Bà Nguyễn Thị Trà M; địa chỉ: Tổ 3, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có
mặt.
- Phòng Công chứng số 3 tỉnh Gia Lai; địa chỉ: 35A H, phường T, thị xã A,
tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T; địa chỉ: Tổ 3, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Cẩm N; địa chỉ: Thôn Phú Danh, xã Hra, huyện Mang
Yang, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Kim Y; địa chỉ: Thôn An Phong, xã Phú An, huyện Đăk
Pơ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Trà L; địa chỉ: 56 Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành phố Đà
Nẵng. Vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Th và của bà Nguyễn Thị Trà L: Bà
Nguyễn Thị T; địa chỉ: Tổ 3, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn là ông Nguyễn Th.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Theo Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2021/DS-ST
ngày 14-10-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai; Bản án dân sự phúc thẩm số:
75/2022/DS-PT ngày 24-3-2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; và
Quyết định thi hành án số: 497/QĐ-CCTHADS ngày 27-6-2022 của Chi cục Thi
hành án dân sự thị xã A, thì ông Nguyễn Th phải trả cho bà Nguyễn Thị Bích N số
tiền gốc là: 238.000.000đ và tiền lãi của số tiền phải thi hành án. Ngày 14-4-2022,
ông Th cùng các đồng sở hữu đã lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản để lại
phần tài sản của mình trong khối tài sản chung với bà Huỳnh Thị Khanh là nhà và
đất tại tổ 3, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai cho hai con là bà Nguyễn Thị Th và
bà Nguyễn Thị Trà M, theo Hợp đồng phân chia di sản số: 2311/HĐ-GD ngày 14-
4-2022 tại Phòng công chứng số 3, được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai –
Chi nhánh thị xã A xác nhận ghi vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây
viết tắt là GCNQSDĐ). Việc ông Nguyễn Th cùng các đồng sở hữu lập văn bản
phân chia di sản nêu trên là giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho
bà N. Do dó, bà N làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng thỏa
thuận phân chia di sản số: 2311/HĐ-GD ngày 14-4-2022 tại Phòng công chứng số
3, tỉnh Gia Lai là vô hiệu.
Bị đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Ngày 14-10-2021,
Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp về thực hiện nghĩa
vụ trả tiền theo thỏa thuận” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích N và bị đơn ông
Nguyễn Th. Bản án đã tuyên buộc ông Th phải trả cho bà N số tiền 238.000.000
đồng. Không đồng ý bản án nên ông Th kháng cáo. Ngày 24-3-2022, Tòa án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo và tuyên
buộc ông Th phải trả cho bà N số tiền 238.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị đơn đề
nghị được kháng cáo bản án, nhưng chủ tọa trả lời khi nào nhận được bản án thì
kháng cáo nên gia đình ông Th đợi. Sau một thời gian, Cơ quan thi hành án đến
yêu cầu gia đình ông Th phải thi hành thì lúc đó ông Th mới xin được bản án
photo từ thi hành án đồng thời trực tiếp đến Tòa án cấp cao tại Đà Nẵng xin thì
mới nhận được bản án phúc thẩm. Thực tế ông Th và bà N không có thỏa thuận
ăn chia tiền đi tìm trầm nên ông Th không đồng ý với quyết định của bản án. Hiện
nay, gia đình ông Th đã làm đơn gửi đến Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị giám đốc thẩm. Gia đình ông
Th có tài sản chung là nhà và đất tại tổ 3, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, đã
được Ủy ban nhân dân thị xã A cấp GCNQSDĐ số BR 910876 ngày 10-6-2014
cho ông Nguyễn Th và vợ là bà Huỳnh Thị Khanh. Thửa đất này là tài sản chung
của cả hộ gia đình trước đây đã được cấp quyền sử dụng, đến năm 2014 cấp đổi lại
mới ghi cấp cho ông Th và bà Khanh. Ngày 20-01-2022, bà Khanh chết. Để bảo
đảm ổn định về tài sản, không phát sinh tranh chấp nên ngày 14-4-2022 ông Th và
các thừa kế đã lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản để lại phần tài sản của mình
trong khối tài sản chung với bà Huỳnh Thị Khanh là nhà và đất tại tổ 3, phường A,
thị xã A, tỉnh Gia Lai cho hai con là bà Nguyễn Thị Th và bà Nguyễn Thị Trà M,
theo Hợp đồng phân chia di sản số: 2311/HĐ-GD ngày 14-4-2022 tại Phòng công
chứng số 3, được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai – Chi nhánh thị xã A xác
nhận vào ngày 12-5-2022. Hiện nay, ông Th vẫn đang sống trong căn nhà trên
cùng với chịTh và vợ chồng chị M. Nội dung thỏa thuận trên là hoàn toàn tự
nguyện, không phải để trốn tránh nghĩa vụ. Tại thời điểm thực hiện thỏa thuận
cũng không có quyết định của cơ quan có thẩm quyền nào ngăn chặn. Do đó, ông
Th không đồng ý với yêu cầu của bà N về việc tuyên Văn bản thỏa thuận phân
chia di sản vô hiệu.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Th, Nguyễn
Thị Trà M, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Cẩm N, Nguyễn Thị Kim Y và Nguyễn Thị
Trà L: Thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu của ông Th.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Th trình bày: Thửa đất số
44 tờ bản đồ số 4 trước đây là thửa 316 tờ bản đồ số 01 được đất cấp cho hộ gia
đình ông Th, gồm vợ chồng ông Th và các con. Ngày 20-01-2022, bà Khanh chết
không để lại di chúc. Do ông Th hay bị đau ốm, muốn ổn định việc sử dụng tài sản
nên gia đình ông Th mới chuyển toàn bộ tài sản cho chịTh và chị M là người đang
sống cùng với ông Th. Vào thời điểm ông Th và các thừa kế khai nhận di sản thì
Tòa án cấp cao vẫn chưa xét xử phúc thẩm. Sau khi nộp đơn yêu cầu tại phòng
công chứng, phải trải qua quá trình xác minh lý lịch gia đình, xác minh tài sản cho
đến ngày 25-3-2022 Phòng Công chứng số 3 mới niêm yết công khai thỏa thuận
phân chia di sản trong thời hạn 15 ngày tại Ủy ban nhân dân phường A. Trong thời
gian niêm yết, không có ai khiếu nại, không có quyết định của cơ quan có thẩm
quyền nào không đồng ý với thỏa thuận phân chia di sản và tặng cho tài sản nên
ngày 14-4-2022, Phòng Công chứng số 3 mới tiến hành việc công chứng; ngày 12-
5-2022, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai đăng ký biến động. Gia đình ông
Th khai nhận thừa kế là việc các thành viên hộ gia đình khai nhận phần tài sản của
mình trong hộ gia đình và tặng cho các chị em trong gia đình là mục đích chính
đáng chứ không phải nhằm để tẩu tán hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.
Đối với Bản án sơ thẩm số: 14/2021/DS-ST ngày 14-10-2021 của Tòa án nhân dân
tỉnh Gia Lai và Bản án phúc thẩm số: 75/2022/DS-PT ngày 24-3-2022 của Tòa án
nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thì gia đình ông Th hoàn toàn không đồng ý, nhưng
vì thiếu hiểu biết nên gia đình vẫn đợi khi nhận được bản án mới thực hiện quyền
khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm. Tuy nhiên, gia đình ông Th vẫn không nhận
được bản án. Năm 2023, khi Chi cục thi hành án gửi quyết định yêu cầu thi hành
án phần án phí, thì ngày 06-6-2023 gia đình ông Th mới đến Tòa án cấp cao tại Đà
Nẵng để xin được nhận bản án và nhờ Luật sư để có đơn đề nghị Giám đốc thẩm.
Hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao vẫn chưa có trả lời về việc chấp nhận hay
không chấp nhận kháng nghị. Với trình độ nhận thức pháp luật thấp như vậy thì gia
đình ông Th không thể hiểu biết để chuyển tài sản cho người khác nhằm trốn tránh
việc thực hiện nghĩa vụ. Nguyên đơn cho rằng bị đơn thực hiện giao dịch giả tạo
nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba là hoàn toàn không đúng nên đề nghị
Hội đồng xét xử bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2024/DS-ST ngày 01-4-2024 của Tòa án
nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ khoản 11 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; các Điều: 116, 124, 131 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 của
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố “Văn bản
thỏa thuận phân chia di sản” của ông Nguyễn Th, chị Nguyễn Thị Th, Nguyễn Thị
Trà M, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Cẩm N, Nguyễn Thị Kim Y và Nguyễn Thị
Trà L, đối với tài sản là thửa đất số 44 (316), tờ bản đồ số 34 (01) tại phường A, thị
xã A, tỉnh Gia Lai và căn nhà có diện tích 122,2m
2
, nhà đất được Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BR 910876
ngày 10-6-2014, đã được Phòng Công chứng số 3, tỉnh Gia Lai công chứng số
2311/HĐ-GD ngày 14-4-2022 là vô hiệu.
Yêu cầu Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã A hủy bỏ nội dung
thay đổi vào ngày 12-5-2022 tại trang 4 của GCNQSDĐ số BR 910876 do Ủy ban
nhân dân thị xã A cấp ngày 10-6-2014 cho ông Nguyễn Th và bà Huỳnh Thị
Khanh với nội dung “Phân chia di sản thừa kế QSDĐ và nhà ở cho bà Nguyễn Thị
Th, CCCD số 064178006117, địa chỉ: phường A, TX An Khê, tỉnh Gia Lai và bà
Nguyễn Thị Trà M, CMND số 230807495, địa chỉ: phường A, TX An Khê, tỉnh
Gia Lai; theo hồ sơ số 31549/TNHS-TK 884/2022”, cho phù hợp với kết quả giải
quyết của bản án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm;
quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 11-4-2024, ông Nguyễn Th kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm
số: 14/2024/DS-ST ngày 01-4-2024 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai,
cho rằng: Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản được lập trước ngày TAND cấp cao
tại Đà Nẵng xét xử, được Văn phòng Công chứng số 3 xác nhận đúng quy định
pháp luật; quyết định thi hành án sau thời gian thỏa thuận phân chia tài sản và đăng
ký biến động và việc lập văn bản thỏa thuận không nhằm tẩu tán tài sản; Tòa án
cấp sơ thẩm yêu cầu chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã A hủy bỏ nội dung
đăng ký thay đổi vào ngày 12-5-2022 nhưng không đưa Chi nhánh văn phòng đăng
ký đất đai thị xã A vào tham gia tố tụng để có ý kiến.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn giữ nguyên kháng cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nhưng xác định quan hệ pháp luật
có tranh chấp theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự là chưa chính xác.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Về nội dung, đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không
chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số:
14/2024/DS-ST ngày 01-4-2024 của Tòa án nhân dân thị xã A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của Kiểm sát viên tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
1.1. Đơn kháng cáo của ông Th trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án
phí dân sự phúc thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
1.2. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ
lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Văn phòng công chứng số 3 có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.
1.3. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố Văn bản thỏa thuận
phân chia di sản vô hiệu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật có
tranh chấp: “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản
và tặng cho tài sản vô hiệu” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự là
đúng.
[2] Xét toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Th về văn bản thỏa thuận phân
chia tài sản được lập trước ngày Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử, đã
được Văn phòng Công chứng số 3 xác nhận là đúng quy định pháp luật nên việc
lập văn bản thỏa thuận không nhằm tẩu tán tài sản; Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Chi
nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã A hủy bỏ nội dung đăng ký thay đổi vào
ngày 12-5-2022 nhưng không đưa Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã A
vào tham gia tố tụng để có ý kiến, Hội đồng xét xử xét thấy:
2.1. Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2021/DS-ST ngày 14-10-2021 của Tòa án
nhân dân tỉnh Gia Lai và Bản án dân sự phúc thẩm số: 75/2022/DS-PT ngày 24-3-
2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, đã tuyên buộc ông Nguyễn Th
phải trả cho bà Nguyễn Thị Bích N số tiền là: 238.000.000 đồng.
2.2. Ngày 14-4-2022, ông Nguyễn Th và các con ông Th gồm: Nguyễn Thị
Th, Nguyễn Thị Trà M, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Cẩm N, Nguyễn Thị Kim Y
và Nguyễn Thị Trà L đã lập văn bản thỏa thuận về việc ông Th tặng cho toàn bộ di
sản được hưởng thừa kế của bà Huỳnh Thị Khanh và tài sản của ông Th trong khối
tài sản chung với bà Khanh là nhà và đất tại tổ 3, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai,
cho hai con là Nguyễn Thị Th và Nguyễn Thị Trà M. Văn bản thỏa thuận đã được
Công chứng tại Phòng Công chứng số 3 tỉnh Gia Lai ngày 14-4-2022, được Văn
phòng Đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai – Chi nhánh thị xã A xác nhận nội dung thay
đổi về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà cho Nguyễn Thị Th và Nguyễn Thị
Trà M tại trang 4 của GCNQSDĐ số BR 910876 vào ngày 12-5-2022.
2.3. Kết quả xác minh tài sản đảm bảo nghĩa vụ thi hành án theo Bản án dân
sự sơ thẩm số: 14/2021/DS-ST ngày 14-10-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai
và Bản án dân sự phúc thẩm số: 75/2022/DS-PT ngày 24-3-2022 của Tòa án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng thì ngoài thửa đất số 316, tờ bản đồ số 1 được UBND thị
xã A cấp ngày 29-01-1991 cho ông Nguyễn Th và bà Huỳnh Thị Khanh thì ông
Th không còn tài sản nào khác.
2.4. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 24-3-2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại
Đà Nẵng, ông Th có mặt tại phiên tòa. Bản án dân sự phúc thẩm số: 75/2022/DS-
PT ngày 24-3-2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có hiệu lực trước
thời điểm ông Th lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản là ngày 14-4-2022. Do
đó, quyền làm đơn kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm của ông Th không bị
hạn chế.
2.5. Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai – Chi nhánh thị xã A xác nhận
nội dung thay đổi về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà cho Nguyễn Thị Th và
Nguyễn Thị Trà M tại trang 4 của GCNQSDĐ số BR 910876 vào ngày 12-5-2022
là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định
hành chính cá biệt; cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện việc đăng ký biến động,
cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực.
Cho nên, khi giải quyết vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Văn phòng Đăng
ký đất đai tỉnh Gia Lai – Chi nhánh thị xã A vào tham gia tố tụng là đúng quy định
của pháp luật.
Từ những nhận định tại luận điểm [2] nêu trên đã đủ căn cứ khẳng định việc
ông Nguyễn Th lập văn bản phân chia và tặng cho tài sản nhà đất tại tổ 3, phường
A, thị xã A, tỉnh Gia Lai cho Nguyễn Thị Th và Nguyễn Thị Trà M là giao dịch giả
tạo nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ thi hành án mà ông Th phải thực hiện đối
với người được thi hành án là bà Nguyễn Thị Bích N theo Bản án dân sự sơ thẩm
số: 14/2021/DS-ST ngày 14-10-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai và Bản án
dân sự phúc thẩm số: 75/2022/DS-PT ngày 24-3-2022 của Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
[3] Tại khoản 2 Điều 124 của Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp xác lập
giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch
dân sự đó vô hiệu”. Do giao dịch nêu trên bị vô hiệu nên nội dung thay đổi tại
trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số BR 910876 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai – Chi nhánh
thị xã A xác nhận ngày 12-5-2022 không còn hiệu lực và phải tuyên hủy bỏ.
Do đó, toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Th là không có căn cứ nên không
được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận nên ông Th phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Th.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2024/DS-ST ngày 01-4-2024 của
Tòa án nhân dân thị xã A.
-Căn cứ khoản 11 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; các Điều: 147, 148, 227, 228, 313, 315 của Bộ luật tố tụng dân sự; và khoản 2
Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án;
-Áp dụng các Điều: 116, 117, 124, 131 của Bộ luật dân sự;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm N;
Tuyên bố “Văn bản thỏa thuận phân chia di sản” của ông Nguyễn Th và các
con là: Nguyễn Thị Th, Nguyễn Thị Trà M, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Cẩm N,
Nguyễn Thị Kim Y và Nguyễn Thị Trà L, đối với tài sản là thửa đất số 44 (316), tờ
bản đồ số 34 (01) tại phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai và căn nhà có diện tích
122,2m
2
, nhà đất được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và

tài sản gắn liền với đất số BR 910876 ngày 10-6-2014, đã được Phòng Công
chứng số 3, tỉnh Gia Lai công chứng số 2311/HĐ-GD ngày 14-4-2022 là vô hiệu.
Yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai - Chi nhánh thị xã A hủy bỏ
nội dung thay đổi vào ngày 12-5-2022 tại trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BR 910876 do Ủy ban
nhân dân thị xã A cấp ngày 10-6-2014 cho ông Nguyễn Th và bà Huỳnh Thị
Khanh với nội dung “Phân chia di sản thừa kế QSDĐ và nhà ở cho bà Nguyễn Thị
Th, CCCD số 064178006117, địa chỉ: phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai và bà
Nguyễn Thị Trà M, CMND số 230807495, địa chỉ: phường A, thị xã A, tỉnh Gia
Lai; theo hồ sơ số 31549/TNHS-TK 884/2022”, cho phù hợp với kết quả giải quyết
của bản án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Bích N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho
bà N số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số
0006856 ngày 19-9-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc ông Nguyễn Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và
được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm
theo biên lai số 0013046 ngày 16-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A.
Ông Th đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND thị xã A;
- Chi cục THADS thị xã A;
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- Lưu hồ sơ, án văn, Toà DS, VT.
Trần Văn Thưởng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng