Bản án số 73/2026/HS-PT ngày 17/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 73/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 73/2026/HS-PT ngày 17/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 73/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị đơn dân sự Đinh Quang Hiếu kháng cáo về trách nhiệm dân sự
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 73/2026/HS-PT Bản án số 73/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 73/2026/HS-PT Bản án số 73/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 73/2026/HS-PT
Ngày 17 - 6 - 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lực
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Hùng
Bà Đặng Duy Mỹ Ngọc
- Thư phiên tòa: Đức Hoài Mi - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Quốc Vĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số 50/2026/TLPT-HS ngày
23 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Văn C, do kháng cáo của bị đơn
dân sự ông Đinh Quang H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2026/HS-ST ngày
29/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long.
- Bị đơn dân sự kháng cáo: Ông Đinh Quang H, sinh năm 1978; trú
ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của ông Đinh Quang H: Ông Nguyễn Văn T, sinh
năm 1972; trú H75, khóm E, phường T, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền
ngày 14/5/2025, có mặt).
- Người có liên quan đến kháng cáo:
1. Người bị kết án Nguyễn Văn C sinh năm 1975; nơi cư trú ấp K, phường
H, tỉnh Vĩnh Long; nơi tạm trú: ấp H, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Hiện đang chấp hành
án tại Trại giam K, C, Bộ C1 (vắng mặt).
2. Người bị hại: Ông Lê Minh T1, sinh năm 1982; cư trú số N19, đường T,
Khóm F, phường P, tỉnh Vĩnh Long (có mặt);
Ngoài ra, trong vụ án còn có người tham gia ttụng khác nhưng không
liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C là nhân viên lái xe thời vụ cho ông Đinh Quang H. Vào khoảng
08 giờ ngày 23/4/2025, Nguyễn Văn C được thuê điều khiển xe ôtô tải biển s64F-
002.83 đi từ xã T, tỉnh Vĩnh Long chở hàng. C điều khiển xe lưu thông trên đường
2
Quốc lộ 53 theo hướng từ tỉnh Trà Vinh (cũ) đi Vĩnh Long. Khi lưu thông đến km
00+900, thuộc khóm D, phường C, thành phố V (nay phường P), C quan sát phía
trước cùng làn đường thấy nhiều xe ôtô lưu thông nên C điều khiển cho xe
chuyển sang làn đường thứ nhất sát lề phải đường thì xảy ra va chạm với xe môtô
biển số 76V1-7362 do ông Lê Minh T1 đang chở 05 bao gạo điều khiển lưu thông
phía trước cùng chiều, xe ôtô tải biển số 64F-002.83 va chạm vào xe môtô biển số
76V1-7362 làm ông T1 và xe môtô ngã xuống đường. Sau khi va chạm, C có nghe
xe bị tưng nhẹ nhìn kính chiếu hậu phía bên phải thấy một xe bị ngã trên lề
đường, C dừng xe định xuống xem va chạm không nhưng người ngoắc tay
kêu đi đi, nên C cho xe chạy một đoạn rồi dừng lại kiểm tra thấy vết va chạm,
cùng lúc có người nam thanh niên chạy tới yêu cầu C quay lại hiện trường. Ông T1
bị thương được đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu, sau đó được đưa đến Bệnh viện Đ1
điều trị cắt bỏ cẳng tay trái, đến ngày 29/4/2025 thì xuất viện.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương thể trên người sống số
159/KLTTCT-TTPY ngày 23 tháng 6 năm 2025 của Trung tâm P kết luận tỷ lệ
phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Minh T1 là 80%.
Tại Biên bản giám định y khoa s120/GĐYK-TYC ngày 30/12/2025 của Hội
đồng giám định y khoa tỉnh Vĩnh Long kết luận ông Minh T1 bị suy giảm khả
năng lao động, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 71%.
Kết quả kiểm tra, giám định nồng độ cồn xác định khi điều khiển phương tiện
tham gia giao thông thì Nguyễn Văn C và Lê Minh T1 không có nồng độ cồn.
Kết luận nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông trên do Nguyễn Văn C
điều khiển xe ôtô tải biển số 64F-002.83 tham gia giao thông đường bộ không chú
ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn trong khu vực
đông dân cư nên không nhìn thấy xe môtô biển số 76V1-7362 đang lưu thông phía
trước cùng chiều dẫn đến va chạm vào xe môtô biển số 76V1-7362 gây ra tai nạn,
vi phạm quy định tại điểm e khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường
bộ (ông Lê Minh T1 không có lỗi).
Về trách nhiệm dân sự: Ông H đã bồi thường cho ông T1 số tiền 54.859.000
đồng, C đã bồi thường cho ông T1 stiền là 10.000.000 đồng. Ông T1, ông H và C
đã thỏa thuận bồi thường xong về chi phí điều trị.
Tại Bản án hình sự thẩm số 15/2026/HS-ST ngày 29/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51;
Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn C, ông Đinh Quang H liên đới bồi thường cho bị hại
Minh T1 số tiền 212.900.000 đồng, gồm: Tiền bồi thường tổn thất tinh thần
bằng 50 lần mức lương cơ sở với tổng số tiền 117.000.000 đồng; tiền mất thu nhập
3
do không còn khả năng lao động kể từ ngày ngày 29/4/2025 đến ngày xét xử
thẩm 274 ngày, mỗi ngày tiền công là 350.000 đồng, tổng cộng bằng 98.000.000
đồng; tiền do suy giảm khả năng lao động 71% áp dụng theo mức lương tối thiểu
vùng II tại thời điểm xét xử 4.730.000 đồng/tháng, tương đương số tiền 3.358.300
đồng/tháng, kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông Minh T1 hết tuổi lao
động theo theo quy định của Bộ luật Lao động.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về xử vật chứng, án phí, lãi suất chậm thi
hành án, thỏa thuận thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ông Đinh Quang H kháng cáo trong hạn luật định, yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, xem xét lại tiền bồi thường tổn thất tinh
thần bằng 50 lần mức lương sở tiền mất thu nhập mỗi ngày tiền công 350.000
đồng quá cao; án thẩm buộc ông liên đới bồi thường thiệt hại tiền do suy giảm
khả năng lao động với số tiền 3.358.300 đồng/tháng, kể từ ngày xét xsơ thẩm cho
đến khi ông Minh T1 hết tuổi lao động theo quy định của Bộ luật Lao động
không đúng quy định tại Điều 590 của Bộ luật dân sự và Điều 7 của Nghị quyết s
02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện hợp pháp của ông Đinh Quang H đnghị sửa án thẩm, ông
H đồng ý liên đới ng với Nguyễn Văn C bồi thường cho ông T1 tiền tổn thất tinh
thần bằng 35,5 lần mức lương cơ sở tương đương với 71% suy giảm khả năng lao
động; tiền mất thu nhập thống nhất 274 ngày, đề nghị tính 250.000 đồng/ngày
ông T1 không có thu nhập ổn định; ông H không đồng ý bồi thường tiền suy giảm
khả năng lao động như án sơ thẩm đã tuyên.
- Ý kiến ông Lê Minh T1 đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông H, giữ
nguyên án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long, sau khi phân tích các tình
tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố
tụng Hình sự năm 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đinh Quang H,
sửa án sơ thẩm theo hướng: giảm tiền bồi thường tổn thất tinh thần từ 50 lần mức
lương sở xuống còn 35,5 lần, giữ nguyên tiền mất thu nhập 350.000 đồng/ ngày,
không buộc ông H bồi thường tiền suy giảm khả năng lao động do pháp luật dân sự
không có quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị đơn dân sự ông Đinh Quang H kháng cáo đúng quy định tại các điều 331,
332, 333, 342 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, nên vụ án được xét xử li
theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Đinh Quang H, nhận thấy: Vụ án xảy ra do lỗi hoàn
toàn của Nguyễn Văn C, hậu quả ông Lê Minh T1 phải cắt bỏ cẳng tay trái, bị suy
4
giảm khả năng lao động với tỷ lệ tổn thương cơ thể 71%. Điều 590 của Bộ lut
Dân sự năm 2015 quy định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm như sau:
“1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe chức
năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu
nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định không thể xác định được thì
áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người
bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động
cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp
lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người
khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và
một khoản tiền khác để đắp tổn thất về tinh thần người đó gánh chịu. Mức
bồi thường đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa
thuận được tmức tối đa cho một người sức khỏe bị xâm phạm không quá năm
mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.
Điều 7 của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ớng dẫn một số quy định về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quy định:
“1. Chi phí hợp cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe chức
năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm:
a) Chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh,
chữa bệnh cho người bthiệt hại; thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đến
sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở;
b) Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được xác định 01 ngày
lương tối thiểu vùng tại skhám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa
bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án;
c) Chi phí phục hồi sức khỏe chức năng bị mất, bị giảm sút là các chi phí
cho việc phục hồi, hỗ trợ, thay thế một phần chức năng của thể bị mất hoặc bị
giảm sút của người bị thiệt hại.
2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được xác
định như sau:
a) Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công
thì được xác định theo mức tiền lương, tiền công của người bị thiệt hại trong khoảng
thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút;
b) Trường hợp người bthiệt hại thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền
công được xác định căn cứ vào mức tiền lương, tiền công trung bình của 03 tháng
liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra. Trường hợp không xác định được 03 tháng
5
lương liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra thì căn cứ vào thu nhập trung bình
của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế bị
mất hoặc bị giảm sút. Nếu không xác định được thu nhập trung bình của lao động
cùng loại tại địa phương thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được bồi
thường 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại trú cho 01 ngày
bị thiệt hại.
Ngày lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng do
Nhà nước quy định chia cho 26 ngày.
3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người
bị thiệt hại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 590 của Bộ luật Dân s được xác
định như sau:
a) Chi phí hợp cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều
trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương
nơi người bị thiệt hại điều trị (nếu có);
b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm c người bị thiệt hại trong thời
gian điều trị được xác định theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều này;
c) Trường hợp người bị thiệt hại mất khả ng lao động phải người
thường xuyên chăm sóc thì chi phí hợp cho việc chăm sóc người bị thiệt hại được
xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại trú cho 01
ngày chăm sóc người bị thiệt hại”.
[3] Từ quy định của pháp luật như trên, đối chiếu với thương tích của ông
Minh T1 phải cắt bỏ cẳng tay trái, bị suy giảm khả năng lao động với tỷ lệ tổn
thương cơ thể là 71%, thấy rằng: Ông T1 tuy bị cắt bỏ cẳng tay trái nhưng còn khả
năng lao động, tại phiên tòa phúc thẩm ông vẫn đi lại bình thường cho thấy mức độ
tổn thất tinh thần của ông T1 Tòa sơ thẩm lấy mức cao nhất theo quy định của pp
luật buộc ông H liên đới với ông C bồi thường chưa phù hợp, chưa đánh gđúng
mức độ tổn thất tinh thần so với người bị suy giảm khả năng lao động có cùng tỷ lệ
tổn thương như phải cắt bỏ cẳng chân, khó khăn trong đi lại… vậy, ông H kháng
cáo xin giảm bồi thường tiền tổn thất tinh thần là có căn cứ để chấp nhận.
[4] Đây ván phát sinh trách nhiệm bồi tờng thiệt hại ngoài hợp đồng,
Bộ luật Dân sự không quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cho người
bị thiệt hại khoản tiền suy giảm khả năng lao động, nhưng án sơ thẩm buộc ông H
liên đới với ông C bồi thường cho T1 mỗi tháng 3.358.300 đồng cho đến khi ông
T1 hết tuổi lao động theo quy định của Bộ luật Lao động là không đúng pháp luật.
[5] Về thu nhập thực tế bị mất của ông T1 án thẩm xác định mỗi ngày
350.000 đồng dựa trên ông T1 thu nhập ổn định 350.000 đồng/ngày theo xác
nhận của ông Lê Văn X là người thuê ông T1 làm công là phù hợp, nên kháng cáo
này của ông H không có căn cứ để chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm bồi thường: Tại phiên tòa sơ thẩm người bị kết án Nguyễn
Văn C ông Đinh Quang H thỏa thuận liên đới bồi thường các khoản thiệt hai cho
bị hại Minh T1, thỏa thuận này không trái pháp luật, không kháng cáo nên cần
buộc ông C và ông H liên đới bồi thường như án sơ thẩm đã tuyên.
6
[7] Từ những phân tích trên, căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của ông
Đinh Quang H như ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Do sửa án sơ
thẩm nên ông H không phải chịu án phí phúc thẩm, án phí dân sự thẩm được xác
định lại theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đinh Quang H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm
số 15/2026/HS-ST ngày 29/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long
về phần trách nhiệm dân sự.
Căn cứ cá điều 590, 601 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 7 của Nghị quyết số
02/2022/NQ-TP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
1. Buộc người bị kết án Nguyễn Văn C ông Đinh Quang H liên đới bồi
thường thiệt hại cho bị hại Lê Minh T1 gồm các khoản:
- Tiền bồi thường tổn thất tinh thần bằng 35,5 lần mức lương svới tổng
số tiền 83.070.000 đồng;
- Tiền mất thu nhập thực tế bị mất trong thời gian điều trị 274 ngày, mỗi ngày
tiền công là 350.000 đồng, tổng cộng bằng 95.900.000 đồng.
Tổng cộng các khoản bằng: 178.970.000 đồng
2. Về án phí:
- Án phí dân ssơ thẩm: Người bị kết án Nguyễn Văn C và ông Đinh Quang
H liên đới chịu 8.948.500 đồng.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Ông Đinh Quang H không phải chịu, hoàn trả
cho ông H 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0003349 ngày 27/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có
hiệu pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả c khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 1-Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 1- Vĩnh Long;
- Người bị kết án Nguyễn văn Cường;
- Ông Đinh Quang Hiếu;
- Bị hại ông Lê Minh Tùng;
- Phòng GĐKT.
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Trần Văn Lực
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 73/2026/HS-PT Bản án số 73/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 73/2026/HS-PT Bản án số 73/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất