Bản án số 73/2026/HS-PT ngày 05/05/2026 của TAND TP. Cần Thơ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 73/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 73/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 73/2026/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 73/2026/HS-PT ngày 05/05/2026 của TAND TP. Cần Thơ |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Cần Thơ |
| Số hiệu: | 73/2026/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Bị cáo Trần Mạnh P bị kết án về tội "Nhận hối lộ" và bị cáo Bùi Văn K bị kết án về tội "Đưa hối lộ" |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 73/2026/HS-PT.
Ngày: 05/5/2026.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vũ;
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thọ;
Ông Bùi Thanh Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Minh Nhựt - Thư ký viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 05/5/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ (Số A, đường
N, phường A, thành phố Cần Thơ), xét xử phúc thẩm, công khai vụ án hình sự thụ
lý số 59/2026/TLPT-HS ngày 12/3/2026 đối với các bị cáo Trần Mạnh P và Bùi
Văn K do có kháng cáo của các bị cáo Trần Mạnh P và Bùi Văn K đối với Bản án
hình sự sơ thẩm số 03/2026/HS-ST ngày 27/01/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực X - Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Mạnh P; sinh ngày: 01/01/1990; nơi sinh: thành phố Cần Thơ; nơi
cư trú: ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ (ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang
cũ); nghề nghiệp: nguyên là cán bộ Công an; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trung
T và bà Văn Thị T1; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp
ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/6/2025 cho đến nay. (có mặt)
2. Bùi Văn K; sinh ngày: 20/12/1985; nơi sinh: thành phố Đà Nẵng; nơi cư
trú: ấp L, xã H, thành phố Cần Thơ (ấp L, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang cũ);
nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn
giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; không rõ họ và tên cha; con bà Nguyễn Thị T2;
có vợ là bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1978; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo
bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/6/2025 cho đến
nay. (có mặt)
- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử
phúc thẩm không triệu tập gồm: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Trần Thị Ngọc H; người làm chứng Nguyễn Thị M, Nguyễn Thùy D, Lê Thị H1.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Mạnh P là cán bộ Công an công tác tại Công an xã H, huyện P,
tỉnh Hậu Giang (nay là Công an xã H, thành phố Cần Thơ). Trong khoảng thời
gian từ tháng 9/2019 đến tháng 9/2024, bị cáo P được lãnh đạo đơn vị phân công
công tác trong lĩnh vực quản lý hành chính về trật tự xã hội, phụ trách cơ sở dữ
liệu quốc gia về dân cư trên địa bàn xã H. Trong quá trình công tác, bị cáo P có
mối quan hệ quen biết với bị cáo Bùi Văn K.
Vào năm 2006, bị cáo K chung sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thùy D
cư trú ở xã T, tỉnh Cà Mau, sau đó do mâu thuẫn nên cả hai không còn sống chung.
Đến năm 2019, bị cáo K đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị M, sau khi kết hôn
bị cáo K ở chung nhà bà M là chủ hộ.
Đến khoảng đầu tháng 02/2023, bị cáo K biết được bà D bỏ địa phương đi
và Công an xã T, tỉnh Cà Mau xóa khẩu bà D khỏi nơi đăng ký thường trú, do đó
bà D không làm được căn cước công dân để đi làm. Trong lúc nhậu chung, bị cáo
K đã nhờ bị cáo P thực hiện các thủ tục hành chính đưa bà D vào hộ của bà M để
có cơ sở cấp mã số định danh cá nhân và làm thẻ căn cước công dân cho bà D, bị
cáo K hứa sẽ đưa tiền “bồi dưỡng” cho bị cáo P nếu làm được theo yêu cầu của bị
cáo K thì bị cáo P đồng ý.
Sau khi nhận lời của bị cáo K, thì bị cáo P đã thực hiện không đúng quy định
trong việc đăng ký thường trú, cấp thẻ căn cước công dân cho bà D, cụ thể: Sau
khi tiếp nhận hồ sơ của bà D, bị cáo P không gửi phiếu xác minh cho Công an xã
T, bị cáo P vẫn giải quyết đăng ký thường trú cho bà D, bị cáo P đã tự ý sử dụng
tài khoản của bà Trần Thị Ngọc H là Trưởng Công an xã khi chưa được bà H cho
phép, tự ý nhập khẩu bà D vào hộ của bà Nguyễn Thị M khi chưa được sự đồng
ý của bà M.
Trong thời gian bị cáo P làm các thủ tục hành chính cho bà D nhập khẩu vào
hộ của bà M thì bị cáo K đã đưa tiền mặt và chuyển khoản cho bị cáo P 02 lần với
tổng số tiền 15.000.000 đồng, cụ thể:
- Lần 01: Vào khoảng đầu tháng 02/2023, bị cáo K đưa tiền mặt cho bị cáo
P với số tiền 1.000.000 đồng tại một quán cà phê trên địa bàn xã H.
- Lần 02: Vào ngày 18/02/2023, bị cáo K sử dụng tài khoản số 060284298686
mở tại Ngân hàng S chuyển khoản số tiền 14.000.000 đồng vào tài khoản số
7006215034932 mở tại Ngân hàng A của bị cáo P.
Đến ngày 24/02/2023, bà Nguyễn Thùy D được cấp thẻ căn cước công dân
số 096184006129, ghi địa chỉ thường trú là ấp L, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang
(nay là ấp L, xã H, thành phố Cần Thơ). Đến khoảng tháng 02/2024, qua kiểm tra
các thành viên trong hộ bà Nguyễn Thị M phát hiện có tên bà Nguyễn Thùy D
nên bà M đã yêu cầu bị cáo P cắt khẩu của bà D ra khỏi hộ. Sau đó, bị cáo P tiếp
tục tự ý sử dụng tài khoản của bà Trần Thị Ngọc H chuyển bà D từ hộ của bà M
qua hộ của bà Nguyễn Thị T3 tại ấp L, xã H. Đến tháng 03/2024, trong quá trình
3
làm định danh điện tử mức 2, bà T3 phát hiện bà D có trong hộ của mình nên trình
báo Công an xã H.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2026/HS-ST ngày 27/01/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực X - Cần Thơ quyết định như sau:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 354; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2
Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm
2017, 2024, 2025) đối với bị cáo Trần Mạnh P.
- Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh P phạm tội “Nhận hối lộ”.
- Xử phạt bị cáo Trần Mạnh P 02 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính
từ ngày đi chấp hành án.
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 364; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 và
Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024,
2025) đối với bị cáo Bùi Văn K.
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Đưa hối lộ”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 06 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính
từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, về án phí, về quyền
kháng cáo của các bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
* Ngày 29/01/2026, bị cáo Trần Mạnh P nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
* Ngày 04/02/2026, bị cáo Bùi Văn K nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng
án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Trần Mạnh P bổ sung nội dung kháng cáo, xin Hội đồng xét xử phúc
thẩm xem xét giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
- Bị cáo Bùi Văn K giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin Hội đồng xét xử
phúc thẩm xem xét giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc
giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Trần Mạnh P phạm tội
“Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 354 của Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) và kết luận bị cáo Bùi
Văn K phạm tội “Đưa hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 364 của Bộ
luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) là có căn cứ,
đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm xác định các bị cáo
không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; áp dụng đối với bị cáo Trần
Mạnh P các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1
Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các
năm 2017, 2024, 2025) và áp dụng đối với bị cáo Bùi Văn K các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2
Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024,
4
2025) là đúng quy định của pháp luật. Xét Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo P
mức hình phạt 02 năm tù và xử phạt bị cáo K mức hình phạt 06 tháng tù là phù
hợp, tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đặc điểm nhân
thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với các bị
cáo. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo P cung cấp tài liệu, chứng cứ thể
hiện sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo P có lập công chuộc tội, bị cáo P đã cung cấp
thông tin để cơ quan Công an bắt một đối tượng truy nã và triệt phá một điểm
đánh bạc trái phép. Đây là các tình tiết mới, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
áp dụng thêm đối với bị cáo P tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm u khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm
2017, 2024, 2025) và cân nhắc áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) để quyết định hình phạt đối
với bị cáo P. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm
phạm hoạt động đúng đắn, bình thường, tính chuẩn mực trong công tác của cơ
quan Công an do nhà nước quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
không chấp nhận cho các bị cáo P và K hưởng án treo. Từ những cơ sở trên, đề
nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm b
khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các
năm 2021, 2024, 2025), không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn K, chấp
nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh P, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt
bị cáo P từ 06 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Nhận hối lộ”.
- Nói lời sau cùng tại phiên tòa phúc thẩm: các bị cáo Trần Mạnh P và Bùi
Văn K xin giảm hình phạt, xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét
Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh P lập và nộp tại Tòa án cấp sơ thẩm vào
ngày 29/01/2026 và Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn K lập và nộp tại Tòa án
cấp sơ thẩm vào ngày 04/02/2026 là đúng quy định của pháp luật về người kháng
cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều
331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm
2021, 2024, 2025). Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Mạnh P bổ sung nội dung
kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho bị cáo và
cho bị cáo hưởng án treo. Căn cứ vào các điều 342 và 345 của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025), Hội đồng xét xử
phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo Trần Mạnh P và Bùi Văn
K, về việc xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Mạnh P và Bùi Văn K như sau:
Bị cáo Trần Mạnh P là cán bộ Công an công tác tại Công an xã H, huyện P, tỉnh
Hậu Giang (nay là Công an xã H, thành phố Cần Thơ) phụ trách Cơ sở dữ liệu
Quốc gia về dân cư trên địa bàn xã H. Bị cáo Bùi Văn K đã nhờ bị cáo P thực hiện
các thủ tục hành chính đưa bà Nguyễn Thùy D vào hộ của bà M để có cơ sở cấp
5
mã số định danh cá nhân và làm thẻ căn cước công dân cho bà D, bị cáo K hứa sẽ
đưa tiền bồi dưỡng cho bị cáo P. Sau đó, bị cáo P đã thực hiện không đúng quy
định trong việc đăng ký thường trú cho bà D vào hộ của bà Nguyễn Thị M khi
chưa được sự đồng ý của bà M. Sau đó, bị cáo P tiếp tục chuyển bà D từ hộ của
bà M qua hộ của bà Nguyễn Thị T3. Bị cáo K đã đưa cho bị cáo P số tiền là
15.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Trần Mạnh P
phạm tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 354 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) và kết luận bị cáo
Bùi Văn K phạm tội “Đưa hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 364 của
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) là có căn
cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh P, về việc xin giảm hình phạt và xin
hưởng án treo: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo P là
người có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là có căn
cứ, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị
cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công với cách mạng;
bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính và áp dụng đối với bị cáo các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51
và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm
2017, 2024, 2025) là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo
P nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ chứng minh sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo P đã
lập công chuộc tội, cung cấp thông tin cho Công an xã H bắt truy nã đối với một
đối tượng và triệt phá một tụ điểm đánh bạc trái phép. Đây là các tình tiết mới nên
Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm đối với bị cáo P tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025). Từ đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm
căn cứ vào khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các
năm 2017, 2024, 2025) để quyết định hình phạt, giảm một phần hình phạt cho bị
cáo P theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ. Xét
mặc dù bị cáo P đủ điều kiện để được xem xét cho hưởng án treo, tuy nhiên hành
vi phạm tội của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự quản
lý hành chính của nhà nước và ảnh hưởng xấu đến hoạt động đúng đắn, bình
thường, uy tín của cơ quan Công an nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận cho bị cáo hưởng án treo.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Văn K, về việc xin giảm hình phạt và xin
hưởng án treo: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo K là
người có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là có căn
cứ, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị
cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải và áp dụng đối với bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo K mức án 06 tháng tù là phù hợp quy
định của pháp luật và tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ
6
trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác
định không còn tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào đáng lẽ bị cáo được
hưởng nhưng Hội đồng xét xử sơ thẩm chưa áp dụng đối với bị cáo K nên không
có căn cứ giảm hình phạt cho bị cáo K. Xét mặc dù bị cáo K đủ điều kiện để có
thể xem xét cho hưởng án treo, tuy nhiên trong vụ án này, chính bị cáo K là người
đã khởi xướng, gợi ý đưa hối lộ cho bị cáo P, hành vi phạm tội của bị cáo đã ảnh
hưởng xấu đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước và ảnh hưởng xấu đến
hoạt động đúng đắn, bình thường của cơ quan Công an nên Hội đồng xét xử phúc
thẩm không chấp nhận cho bị cáo hưởng án treo.
[5] Từ những nhận định trên, căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 1 Điều 355
và điểm b khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung các năm 2021, 2024, 2025), Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị
của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, không chấp nhận kháng
cáo của bị cáo Bùi Văn K, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh
P, sửa quyết định về hình phạt đối với bị cáo P của bản án sơ thẩm, giảm hình
phạt đối với bị cáo P.
[6] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024,
2025) và điểm b, điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án. Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Mạnh P không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Bùi Văn K
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.
[7] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm a, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024,
2025).
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn K, về việc xin giảm hình
phạt và xin hưởng án treo. Giữ nguyên quyết định hình phạt đối với bị cáo Bùi
Văn K của Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2026/HS-ST ngày 27/01/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực X - Cần Thơ.
Chấp nhận phần kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh P, về việc xin giảm hình
phạt. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh P, về việc xin hưởng án
treo. Sửa phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Trần Mạnh P của Bản án hình
sự sơ thẩm số 03/2026/HS-ST ngày 27/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực X
- Cần Thơ.
7
2. Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 354; điểm s, điểm u khoản 1 Điều 51,
khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 3 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) đối với bị cáo Trần Mạnh P.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh P 01 (một) năm tù về tội “Nhận hối lộ”, thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc ngày
bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 364; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51;
Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm
2017, 2024, 2025) đối với bị cáo Bùi Văn K.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 06 (sáu) tháng tù về tội “Đưa hối lộ”, thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc ngày
bắt bị cáo đi chấp hành án.
4. Về án phí phúc thẩm:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025) và điểm b, điểm h
khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Trần Mạnh P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Xử buộc bị cáo Bùi Văn K chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng
(hai trăm ngàn đồng).
5. Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng
cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
6. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ GĐ, KT 1-TANDTC (01);
- VKSND TP. Cần Thơ (01);
- TAND khu vực X-Cần Thơ (02);
- VKSND khu vực X-Cần Thơ (02);
- THADS TP. Cần Thơ (01);
- CQCSĐT-Công an TP. Cần Thơ (02);
- CQTHAHS-Công an TP. Cần Thơ (02);
- Phòng THADS Khu vực X-Cần Thơ (01);
- UBND, Công an xã Hiệp Hưng (02);
- Bị cáo (02);
- Người TGTT khác (01);
- P.GĐ, KT, TTr & THA-TAND TP. CT (01);
- Phòng HSNV-Công an TP. Cần Thơ (01);
- Lưu HSVA, THS (04).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Lê Thanh Vũ
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 13/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Bản án số 343/2026/DS-PT ngày 06/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 04/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 04/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 04/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm