Bản án số 720/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 720/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 720/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 720/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Cụ Võ Văn P1 và cụ Lê Thị C1 có 08 người con, chết lần lượt vào ngày 03/10/2016 và 31/7/2018, để lại di sản gồm quyền sử dụng đất và nhà ở thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ số 32; ngoài ra còn có hai thửa đất đã bị thu hồi và các đồng thừa kế không yêu cầu chia thừa kế.Ngày 02/11/2005, cụ P1 và cụ C1 lập di chúc để lại cho ông Võ Phương T căn nhà số H và 120m² đất, cho bà Võ Thị Phượng C 60m² đất. Năm 2017, cụ C1 đồng ý cho vợ chồng ông T xây nhà trên phần đất 120m²; hiện vợ chồng ông T đang quản lý, sử dụng nhà đất.Ông T khởi kiện yêu cầu chia di sản theo di chúc, đề nghị được hưởng căn nhà cấp 4 gắn liền với 132,9m² đất và phần đất đã xây nhà có diện tích 105m², cùng thuộc thửa đất số 480.Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 200/2026/DS-ST ngày 30/5/2026, Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai chấp nhận yêu cầu khởi kiện, chia cho ông T quyền sử dụng 132,9m² đất cùng căn nhà cấp 4 trên đất, đồng thời chia thêm 80m² đất thuộc cùng thửa đất; buộc bà Võ Kim P và anh Võ Minh T1 giao lại nhà, đất theo quyết định cho ông T.Ngày 08/6/2026, bà Võ Thị Phương C kháng cáo, yêu cầu sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. Ngày 12/6/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai ban hành Quyết định kháng nghị số 113/QĐ-VKSKV1-DS, đề nghị sửa bản án sơ thẩm.Tại phiên tòa phúc thẩm, bà C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai rút một phần nội dung kháng nghị.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 720/2026/DS-PT Bản án số 720/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 720/2026/DS-PT Bản án số 720/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 720/2026/DS-PT
Ngày: 29 – 9 – 2026
V/v “Tranh chấp chia di sản
thừa kế theo di chúc”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn An
Ông Trần Nam Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lâm Đông Đông - Thư ký viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên tòa:
ông Phùng Đức Nam - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23/9 và 29/9/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 605/2026/DS-PT
ngày 21/8/2026 về việc: “Tranh chấp chia di sản thừa kế theo di chúc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 200/2026/DS-ST ngày 20/5/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 701/2026/QĐ-PT ngày 27/8/2026 của
Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Phương T, sinh năm 1973; Số CCCD
*********xxx, cấp ngày 12/8/2021, nơi cấp: Cục trưởng CSQLHC về TTXH; Địa
chỉ: số H, tổ I, khu phố C, phường T, thành phố Đồng Nai – có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1971;
Số CCCD *********xxx, cấp ngày 23/3/2022, nơi cấp: Cục trưởng CSQLHC về
TTXH; Địa chỉ: số B N, tổ E, khu phố B, phường T, thành phố Đồng Nai – có mặt.
- Bị đơn: Bà Võ Thị Thu H1, sinh năm 1971; Số CCCD *********xxx, cấp
ngày 19/4/2021, nơi cấp: Cục trưởng CSQLHC về TTXH; Địa chỉ: Số B T,
phường T, thành phố Đồng Nai – vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Bà Võ Thỵ V, sinh năm 1959; Số CCCD 07515900xxx, cấp ngày
16/9/2021, nơi cấp: Cục trưởng CSQLHC về TTXH; Địa chỉ: Số A, Hương lộ I, ấp
T, phường T, thành phố Đồng Nai – có mặt.
2. Bà Võ Thị Đ, sinh năm 1961, Số CCCD *********xxx, cấp ngày
12/8/2021, nơi cấp: Cục trưởng CSQLHC về TTXH; Địa chỉ: Tổ A, khu phố A,
phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, thành phố Đồng Nai) –
vắng mặt.
3. Bà Võ Kim P, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số H, tổ I, khu phố C, phường T,
thành phố Đồng Nai – có mặt.
4. Bà Võ Kim L, sinh năm 1966; Địa chỉ: số A, khu phố B, phường T, thành
phố Đồng Nai – có mặt.
5. Bà Võ Kim L1, sinh năm 1969; Số CCCD *********xxx, cấp ngày
28/6/2021, nơi cấp: Cục trưởng CSQLHC về TTXH; Địa chỉ: số D B, tổ E, khu
phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay lả phường T, thành phố Đồng
Nai) – có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà V, bà Đ, bà P, bà L, bà L1: Bà Võ Thị
Phương C, sinh năm 1976; Địa chỉ: H, tổ I, khu phố C, phường T, thành phố Đồng
Nai – có mặt.
6. Bà Võ Thị Phương C, sinh năm 1976; Số CCCD *********xxx, cấp ngày
31/8/2021, nơi cấp: Cục trưởng CSQLHC về TTXH; Địa chỉ: số H, tổ I, khu phố
C, phường T, thành phố Đồng Nai – có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà C: Ông Cồ Lê H2, sinh năm
1972; Số CCCD *********xxx, cấp ngày 20/01/2022, nơi cấp: Cục trưởng
CSQLHC về TTXH; địa chỉ: Công ty TNHH Đ2 L, phường X, Thành phố Hồ Chí
Minh – có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà C: Ông Đoàn Nguyễn Hải L2, sinh
năm 2000; Số CCCD *********xxx, cấp ngày 25/02/2025, nơi cấp: Bộ Công an;
Địa chỉ: B L, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh – có mặt.
7. Bà Trịnh Thị Thùy D, sinh năm 1973; Số CCCD *********xxx, cấp ngày
12/8/2021, nơi cấp: Cục trưởng CSQLHC về TTXH; địa chỉ: Số H, tổ I, khu phố
C, phường T, thành phố Đồng Nai – có mặt.
8. Bà Võ Phương Q, sinh năm 1996; Số CCCD *********xxx, cấp ngày
09/9/2022, nơi cấp: Cục trưởng CSQLHC về TTXH; địa chỉ: Số H, tổ I, khu phố
C, phường T, thành phố Đồng Nai – vắng mặt.
9. Bà Võ Phương Quỳnh G, sinh năm 2003; Số CCCD *********xxx, cấp
ngày 02/7/2021, nơi cấp: Cục trưởng CSQLHC về TTXH; đia chỉ: Số H, tổ I, khu
phố C, phường T, thành phố Đồng Nai – vắng mặt.
3
10. Ông Võ Minh T1, sinh năm 2001; địa chỉ: Số H, tổ I, khu phố C, phường
T, thành phố Đồng Nai – vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Võ Văn H3, sinh năm 1946; địa chỉ: Số H, tổ I, khu phố C, phường
T, thành phố Đồng Nai – vắng mặt.
2. Bà Võ Thị S, sinh năm 1958; Số CCCD 07515800xxx, cấp ngày
31/8/2021, nơi cấp: Cục trưởng CSQLHC về TTXH; địa chỉ: Số H, tổ I, khu phố
C, phường T, thành phố Đồng Nai – có mặt.
Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 –
Đồng Nai và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị
Phương C đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 200/2026/DS-ST ngày 30/5/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Võ Phương T, do ông Trần Thanh H là người đại diện
theo ủy quyền trình bày:
Cụ Võ Văn P1, sinh năm 1938, chết ngày 03/10/2016 và cụ Lê Thị C1, sinh
năm 1940, chết ngày 31/7/2018. Cụ P1 và cụ C1 có 08 người con gồm: Bà Võ Thỵ
V, sinh năm 1959; bà Võ Ngọc Đ1, sinh năm 1961; bà Võ Kim P, sinh năm 1963;
bà Võ Kim L, sinh năm 1966; bà Võ Kim L1, sinh năm 1969; bà Võ Thị Thu H1,
sinh năm 1971; ông Võ Phương T, sinh năm 1973; bà Võ Thị Phương C, sinh năm
1976.
Cụ P1 và cụ C1 khi chết để lại các di sản:
1. Quyền sử dụng đất có diện tích 338m
2
, thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ số
32, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (cũ) và Căn nhà cấp 4, diện tích xây
dựng 113,2m
2
tại địa chỉ 8, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (cũ)
thuộc thửa đất trên; đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 881284, do UBND thành phố B cấp
ngày 05/3/2012; đã hủy bỏ thu hồi đất.
2. Quyền sử dụng đất có diện tích 144,1m
2
, thuộc thửa đất số 276, tờ bản đồ
số 32, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (cũ); thửa đất này chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hiện nay thửa đất đã bị thu hồi và các đồng
thừa kế đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ; không yêu cầu chia thừa kế đối với phần
này.
3. Quyền sử dụng đất có diện tích 180,8m
2
, thuộc thửa đất số 331, tờ bản đồ
số 32, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (cũ); thửa đất này chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hiện nay thửa đất đã bị thu hồi và các đồng
4
thừa kế đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ; không yêu cầu chia thừa kế đối với phần
này.
Ngày 02/11/2005, cụ P1 và cụ Công lập di chúc có nội dung như sau:
“Chúng tôi có căn nhà số H khóm I - phường T - Thành phố B - Tỉnh Đồng
Nai và diện tích đất là 700m
2
. Nay trong lúc vợ chồng tôi còn mạnh khỏe, minh
mẫn, sáng suốt, không có sự ép buộc của bất cứ một ai, chúng tôi quyết định sau
này sẽ để lại cho:
Con tên: Võ Phương T, sinh năm 1973, hiện cư ngụ tại 815/6, khóm I -
phường T, Căn nhà số H khóm I - phường T - Thành phố B - Tỉnh Đồng Nai và
120m
2
đất.
Con tên: Võ Thị Phượng C2, sinh năm 1976, hiện cư ngụ tại H khóm I,
phường T 60m
2
đất.”
Quá trình sử dụng các di sản mà ông T được cho theo di chúc:
1. Đối với căn nhà cấp 4 tại địa chỉ 8, khu phố C, phường T thành phố B,
tỉnh Đồng Nai (cũ) thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ số 32, vợ chồng ông T đang
quản lý, sử dụng. Quá trình sử dụng, vợ chồng ông T đã sửa chữa và có hiện trạng
như theo bản vẽ (diện tích xây dựng trệt 141m
2
, diện tích xây dựng gác 29,1m
2
,
tổng diện tích sử dụng 170,1m
2
).
2. Đối với phần diện tích đất 120m
2
ông T được cho theo di chúc; năm 2017
cụ C1 đồng ý cho vợ chồng ông T xây nhà trên đất; vợ chồng ông T đã xây dựng
01 căn nhà cấp 3, có diện tích 105m
2
trên thửa đất số 480, tờ bản đồ số 32, phường
T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (cũ).
Kết quả đo đạc và thẩm định giá tài sản thì đồng ý, không có ý kiến.
Yêu cầu khởi kiện: Chia thừa kế theo di chúc ngày 02/11/2005 của cụ P1 và
cụ C1, ông T được hưởng di sản theo di chúc là căn nhà số H, khu phố C, phường
T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (cũ), gắn liền với phần đất có diện tích theo kết quả
đo đạc là 132,9m
2
và phần đất ông T đã xây nhà có diện tích 105m
2
thuộc thửa đất
số 480, tờ bản đồ số 32, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn bà Võ Thị Thu H1 trình bày: Bà thống nhất với phần trình bày của
ông T về quan hệ hôn nhân và những người con của cụ P1 và cụ C1, thời điểm cụ
P1 và cụ C1 chết; thống nhất về di sản mà cụ P1 và cụ C1 để lại. Đối với yêu cầu
khởi kiện của ông T thì bà đồng ý, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà V, Đ1, P, L, L1, C2, do bà Võ
Thị Phương C đại diện trình bày:
Bà thống nhất với phần trình bày của ông T về quan hệ hôn nhân và những
người con của cụ P1 và cụ C1, thời điểm cụ P1 và cụ C1 chết; thống nhất về di sản
mà cụ P1 và cụ C1 để lại.
5
Về di sản: Khi chết thì cụ P1 và cụ C1 để lại di sản là căn nhà có diện tích
178,5m
2
và diện tích đất 421,7m
2
tọa lạc tại địa chỉ số H, khóm C, phường T, thành
phố B, tỉnh Đồng Nai, thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ 32 phường T, đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4701081533, cấp năm 2003. Ngoài ra cụ
P1 và cụ C1 có hai thửa ruộng khác tại phường T, diện tích cụ thể thì bà không
nắm được.
Về di chúc: Ông T cung cấp di chúc của cụ P1 và cụ Công lập năm 2005, bà
cho rằng di chúc này là giả tạo, bà đã yêu cầu Trưng cầu giám định dấu vân tay của
người lập di chúc và chữ ký, chữ viết của hai người làm chứng là ông Võ Văn H3
và bà Võ Thị S. Nội dung của di chúc không rõ ràng: Không xác định được diện
tích đất 700m
2
trong di chúc; trong di chúc có cho bà C 60m
2
đất là không đúng vì
bà C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất 83,7m
2
. Đối
với yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của ông T thì bà không đồng ý.
Bà đưa ra phương án hòa giải là chia cho ông T phần đất ông T đã xây nhà
và ở trên đất có diện tích đo đạc là 80m
2
; đối với căn nhà số H do cha mẹ để lại thì
không đồng ý chia mà để thờ cúng cha mẹ.
Kết quả đo đạc và thẩm định giá tài sản thì đồng ý, không có ý kiến.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà C trình bày:Di chúc cụ P1,
cụ C1 là di chúc không hợp pháp vì người lập di chúc không minh mẫn trong khi
lập di chúc; nội dung của di chúc không rõ ràng, không xác định được việc cho căn
nhà số H có gắn liền với đất hay không, không xác định được phần đất 120m
2
được
cho theo di chúc thuộc thửa đất nào; hình thức của di chúc không đảm bảo, người
làm chứng không thừa nhận việc ký tên trong di chúc, không có hồ sơ lưu trữ việc
chứng thực di chúc. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
- Người làm chứng ông Võ Văn H3 trình bày: Ông được các cháu của ông
cho xem bản di chúc cụ P1 và cụ Công lập, ông khẳng định ông không ký tên trong
bản di chúc, chữ viết tên Võ Văn H3 trong di chúc không phải là chữ viết của ông,
ông cũng không ra phường ký tên làm chứng trong bản di chúc.
- Người làm chứng bà Võ Thị S trình bày: Bà được các cháu của bà cho xem
bản di chúc cụ P1 và cụ Công lập, bà khẳng định bà không ký tên trong bản di
chúc, chữ viết tên Võ Thị S trong di chúc không phải là chữ viết của bà, bà cũng
không ra phường ký tên làm chứng trong bản di chúc.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 200/2026/DS-ST ngày 30/5/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã quyết định:
6
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Phương T về việc
tranh chấp chia di sản thừa kế theo di chúc đối với bị đơn bà Võ Thị Thu H1.
Chia cho ông Võ Phương T được quyền sử dụng diện tích đất 132,9m
2
,
thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ 32, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, phần
đất được giới hạn bởi các điểm (1’, 2’, 3’, 4’, 5’, 7’, 8’, 9’, 10’, 11’, 12’, 13’, 1’)
theo Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất số 4102/2026 ngày 10/4/2026 của Văn phòng
đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai và căn nhà cấp 4 trên phần đất nêu trên có kết cấu:
Mái tôn, trần tôn lạnh, sàn gác gỗ, cột BTCT + gạch, tường gạch, nền gạch men,
cửa sắt + kính, có diện tích xây dựng trệt 141,0m
2
, diện tích xây dựng gác 29,1m
2
,
theo Bản vẽ hiện trạng nhà ngày 18/12/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh
Đồng Nai – Chi nhánh B. Buộc bà Võ Kim P, anh Võ Minh T1 giao lại nhà, đất
nêu trên cho ông Võ Phương T.
Chia cho ông Võ Phương T được quyền sử dụng diện tích đất 80m
2
, thuộc
thửa đất số 480, tờ bản đồ số 32, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, phần đất
được giới hạn bởi các điểm (21’, 5, 17’, 18’, 19’, 20’, 21’), theo Phiếu đo đạc
chỉnh lý thửa đất số 4102/2026 ngày 10/4/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh
Đồng Nai.
Ông Võ Phương T có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích
đất nêu trên theo quy định của Luật đất đai.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và
quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 12/6/2026 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai
ban hành Quyết định kháng nghị số 113/QĐ-VKSKV1-DS đề nghị Tòa án nhân
dân thành phố Đồng Nai căn cứ nội dung quyết định kháng nghị xét xử phúc thẩm
sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 200/2026/DS-ST ngày 30/5/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 1 - Đồng Nai.
Ngày 08/6/2026 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Phương C
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số
200/2026/DS-ST ngày 30/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai rút một phần nội dung
kháng nghị số 113/QĐ-VKSKV1-DS ngày 12/6/2026 của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân khu vực 01 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai phát biểu:
7
Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc
thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Với những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận
kháng cáo của bà C và căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận
một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng
Nai sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của
phía nguyên đơn về việc hổ trợ chi phí di dời, tạo điều kiều cho người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có thời gian lưu cư 03 tháng và sửa về cách tuyên án nhằm
đảm bảo cho việc thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Đồng Nai.
[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 1- Đồng Nai và đơn kháng cáo của bà Võ Thị Phương C làm trong
thời hạn luật định, có hình thức, nội dung và phạm vi kháng cáo, kháng nghị phù
hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện được xem
xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà Võ Thị Phương C, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bà C cho rằng di chúc của cụ P1 và cụ Công lập năm 2005 là giả tạo, nội
dung của di chúc không xác định được diện tích đất 700m
2
trong di chúc; trong di
chúc có cho bà C 60m
2
đất là không đúng vì bà C đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất với diện tích đất 83,7m
2
.
Xét thấy, các đương sự chỉ tranh chấp đến căn nhà ở địa chỉ 8, khu phố C,
phường T, thành phố B, có diện tích xây dựng 113,2m
2
, nhà cấp 4, số tầng 1. Tại
thởi điểm mở thừa kế, di sản cụ P1 và cụ C1 để lại đối với thửa đất số 480, tờ bản
đồ số 32, phường T là Quyền sử dụng đất có diện tích 338m
2
và nhà ở cấp 4 có
diện tích 113,2m
2
tại địa chỉ 8, khu phố C, phường T, thuộc thửa đất số 480, tờ bản
đồ 32, phường T;
Về tính hợp pháp của giấy di chúc:
Giấy di chúc ngày 02/11/2005 của cụ P1, cụ C1 được lập thành văn bản, có
chứng thực của UBND phường T; do vậy Giấy di chúc của cụ P1, cụ C1 là loại “Di
chúc bằng văn bản có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn” theo
quy định tại Điều 653 Bộ luật Dân sự 1995.
8
Trong Giấy di chúc có điểm chỉ của người lập di chúc là cụ P1, cụ C1; Tòa án
đã thực hiện giám định dấu vân tay của người lập di chúc, theo kết luận giám định
số 1877/C09B ngày 02/4/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ
Chí Minh, kết luận dấu vân tay của người lập di chúc trên Giấy di chúc và trên các
mẫu so sánh là dấu vân tay của cùng một người. Đồng thời trong Giấy di chúc
người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân đã ký vào bản di chúc, có
số chứng thực 31 ngày 08/11/2005. Như vậy, Giấy di chúc đã được người lập di
chúc điểm chỉ và người thẩm quyền chứng thực đã ký vào bản di chúc, đã tuân thủ
về mặt hình thức của Di chúc theo quy định tại khoản 1 Điều 661 Bộ luật Dân sự
1995.
Về người làm chứng trong di chúc: Theo quy định tại khoản 2 Điều 661 Bộ
luật Dân sự 1995, đối với hình thức di chúc bằng văn bản có chứng thực của Ủy
ban nhân dân thì người làm chứng chỉ bắt buộc khi người lập di chúc không đọc
được, không nghe được, không ký, không điểm chỉ được. Tại phần lời chứng của
người có thẩm quyền chứng thực, tại thời điểm chứng thực ông P1, bà C1 có đủ
năng lực hành vi dân sự, phù hợp với đạo đức xã hội, người lập di chúc đã đọc lại
di chúc, đồng ý ký tên và lăn tay. Như vậy, Giấy di chúc của cụ P1, cụ C1 không
cần thiết bắt buộc phải có người làm chứng; Tuy nhiên, kết luận giám định khẳng
định chữ ký đứng tên Võ Thị S (người làm chứng) trên tài liệu cần giám định so
với chữ ký đứng tên Võ Thị S trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người
ký ra.
Về nội dung của di chúc: Người lập di chúc là Võ Văn P1, sinh năm 1938 và
Lê Thị C1, sinh năm 1940; người được hưởng di sản là Võ Phương T, Võ Thị
Phượng C2; di sản để lại là: Căn nhà số H, khóm I, phường T, thành phố B, tỉnh
Đồng Nai và diện tích đất 700m
2
; nội dung của di sản trong Di chúc phù hợp với di
sản cụ P1, cụ C1 để lại vào thời điểm mở thừa kế. Ngoài tài sản nói trên, cụ P1, cụ
C1 không còn tài sản nào khác. Như vậy, về nội dung di chúc phù hợp với quy
định tại Điều 656 Bộ luật Dân sự 1995.
Đối với ý kiến của bà C2 cho rằng cụ P1, cụ C1 lúc lập di chúc không minh
mẫn là không có căn cứ vì sau ngày lập di chúc 13 năm sau hai cụ mới qua đời.
Từ những phân tích nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm xác định giấy di chúc ngày
02/11/2005 của cụ P1, cụ C1 là di chúc hợp pháp nên xem xét chia di sản theo nội
dung của giấy di chúc là phù hợp, có căn cứ. Do vậy, việc bà C2 kháng cáo cho
rằng di chúc không hợp pháp, người làm chứng ông Võ Văn H3 và bà Võ Thị S
không chứng kiến việc lập di chúc là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét
xử chấp nhận.
9
[3] Xét kháng nghị của Quyết định kháng nghị số 113/QĐ-VKSKV1-DS của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai, Hội đồng xét xử thấy
rằng:
[3.1] Nội dung kháng nghị về việc không công nhận hiệu lực của di chúc ngày
02/11/2005 vì di chúc ngày 02/11/2005 của cụ P1, cụ C1 được đánh máy nên phải
có 02 người làm chứng. Tuy nhiên ông H3 và bà S không chứng kiến việc cụ P1,
cụ Công lập di chúc, không xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký
vào bản di chúc. Do đó, hình thức của di chúc lập ngày 02/11/2005 và được Ủy
ban nhân dân phường T chứng thực vào ngày 08/11/2005 không tuân thủ về mặt
hình thức của di chúc theo quy định của pháp luật.
Xét thấy nội dung nêu trên tại phiên toà phúc thẩm Đại diện Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Đồng Nai đã rút và xác định Giấy di chúc ngày 02/11/2005
của cụ P1, cụ C1 có hình thức và nội dung được thực hiện theo đúng quy định tại
các Điều 650, 652 và 653, 657 Bộ luật Dân sự 1995 nên được xem là di chúc hợp
pháp và đề nghị công nhận di chúc nên không có căn cứ cho rằng di chúc vô hiệu.
Mặt khác, sau ngày lập di chúc, ông T xây nhà ở phía đối diện nhà cha mẹ số
815/6, lúc này không ai trong gia đình thắc mắc khiếu nại gì. Ngày 03/10/2016, cụ
P1 chết, ngày 31/7/2018 cụ C1 chết. Như vậy, từ ngày lập di chúc đến ngày 02 cụ
chết, 02 cụ không lập bản di chúc nào khác thay thế tờ di chúc ngày 02/11/2005
này, cũng như không có ý kiến nào khác về việc giao quyền tài sản cho người con
khác.
Hồ sơ vụ án còn thể hiện, sinh thời cụ P1, cụ C1 đều đã tặng cho các con 01
phần đất riêng để ổn định cuộc sống. Riêng ông T là người sau cùng được cha mẹ
giao lại 01 phần đất để ở và giao căn nhà số H là nơi 02 cụ sinh sống, thờ cúng cho
ông T.
Về nội dung của di chúc: cụ P1, cụ C1 định đoạt như sau:
"…Chúng tôi có căn nhà số H, khóm I, phường T, Tp ., tỉnh Đồng Nai và diện
tích đất là 700m
2
…
Con tên: Võ Phương T, sinh năm 1973, hiện cư ngụ 815/6 khóm I, phường T
căn nhà số H khóm I, phường T, thành phố B, Đồng Nai và 120m
2
đất.
Xét thấy: Việc giao cho ông T căn nhà số H gắn liền với diện tích đất (sau khi
đo đạc thực tế diện tích đất 132,9m2, thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ 32, phường
T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, phần đất được giới hạn bởi các điểm (1’, 2’, 3’, 4’,
5’, 7’, 8’, 9’, 10’, 11’, 12’, 13’, 1’) dựa trên nội dung di chúc là phù hợp, có căn cứ.
Do đó, nội dung kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-
Đồng Nai về việc đề nghị tuyên bố di chúc vô hiệu là không có cơ sở để xem xét.
Mặc khác, về nội dung này đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai
10
đã rút và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận hiệu lực của di chúc là có
căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Đối với nội dung kháng nghị về cách tuyên của Tòa án sơ thẩm:
- Bản án sơ thẩm tuyên xử: "Ông Võ Phương T có quyền, nghĩa vụ liên hệ với
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất nêu trên theo quy định của Luật đất đai". Với phần
tuyên xử này là chưa phù hợp, bởi sau khi chia cho ông T được quyền sử dụng diện
tích đất 80m
2
và quyền sử dụng căn nhà số 815/6 gắn liền với diện tích đất
132,9m
2
, thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ 32, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng
Nai thì vẫn còn một phần đất còn lại của cụ P1, cụ C1 chưa được chia thừa kế theo
pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ được tuyên cho ông T có quyền sử dụng đất, nhà
ở theo như nội dung di chúc để lại. Việc kê khai, đăng ký đất đai, thực hiện các thủ
tục xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần phải đảm bảo đúng quy
định của Luật đất đai và quy định tách thửa của UBND thành phố Đ hiện nay.
Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai về
phần này có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.3]. Đối với kháng nghị về việc xem xét công sức bảo quản, giữ gìn tài sản
của bà Võ Kim P, anh Võ Minh T1 là người đang ở trên căn nhà số H: Hội đồng
xét xử, xét thấy:
Theo lời trình bày của các anh chị em trong gia đình và chính bà P thừa nhận,
bà P không sinh sống trực tiếp với cha mẹ tại căn nhà đang tranh chấp mà bà P
thường xuyên sinh sống cùng bà Đ1 ở L và chỉ đi đi về về thăm ba mẹ. Đến năm
2008, mẹ con bà P, anh T1 mới quay về sống cùng với cụ P1, cụ C1, bà P khẳng
định quá trình chung sống không tôn tạo xây dựng thêm công trình nào hay có
công sức bảo quản, giữ gìn nhà và quá trình Toà án giải quyết vụ án bà P, anh T1
không yêu cầu độc lập liên quan đến di sản cũng như công sức đóng góp, giữ gìn,
bảo quản tài sản. Tuy nhiên, từ sau khi cụ C1 chết năm 2018, bà P, anh T1 vẫn
đang ở tại căn nhà cha mẹ cho đến nay nên cũng cần xem xét một phần đến công
sức bảo quản, trông coi tài sản cũng như tạo điều kiện cho hai mẹ con được lưu cư
01 thời gian để bà P, anh T1 tìm nơi ở mới là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Võ Phương T tự nguyện đồng ý hỗ
trợ cho bà P, anh T1 số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng và tạo
điều kiện cho bà P, anh T1 được lưu cư tại căn nhà nói trên 03 tháng kể từ ngày
bản án có hiệu lực pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử cần ghi nhận tự nguyện hỗ
trợ của nguyên đơn ông T đối với bà P, anh T1 nhằm thể hiện tính nhân đạo, mối
quan hệ tình thân trong gia đình và đảm bảo việc giải quyết triệt để vụ án.
11
Từ những phân tích trên, xét thấy 02 nội dung trong Quyết định kháng nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai về điều chỉnh cách
tuyên và xem xét liên quan đến công sức bảo quản, trông coi tài sản, cũng như tạo
điều kiện cho bà P, anh T1 được lưu cư (tình tiết mới phát sinh tại tòa phúc thẩm)
là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà C2 phải chịu theo quy định.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tại
phiên tòa được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà C2 đề nghị
Hội đồng xét xử không công nhận di chúc và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị Phương C.
Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 113/QĐ-VKSKV1-DS ngày
12/6/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 200/2026/DS-ST ngày 30/5/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp
dụng các Điều 653, 655, 656, 661 Bộ luật Dân sự 1995; Áp dụng Điều 659 Bộ luật
Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Phương T về việc
tranh chấp chia di sản thừa kế theo di chúc đối với bị đơn bà Võ Thị Thu H1.
Chia cho ông Võ Phương T được quyền sử dụng diện tích đất 132,9m
2
,
thuộc thửa đất số 480, tờ bản đồ 32, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, phần
đất được giới hạn bởi các điểm (1’, 2’, 3’, 4’, 5’, 7’, 8’, 9’, 10’, 11’, 12’, 13’, 1’)
theo Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất số 4102/2026 ngày 10/4/2026 của Văn phòng
đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai và căn nhà cấp 4 trên phần đất nêu trên có kết cấu:
Mái tôn, trần tôn lạnh, sàn gác gỗ, cột BTCT + gạch, tường gạch, nền gạch men,
cửa sắt + kính, có diện tích xây dựng trệt 141,0m
2
, diện tích xây dựng gác 29,1m
2
,
theo Bản vẽ hiện trạng nhà ngày 18/12/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh
Đồng Nai – Chi nhánh B. Buộc bà Võ Kim P, anh Võ Minh T1 giao lại nhà, đất
nêu trên cho ông Võ Phương T.
12
Chia cho ông Võ Phương T được quyền sử dụng diện tích đất 80m
2
, thuộc
thửa đất số 480, tờ bản đồ số 32, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, phần đất
được giới hạn bởi các điểm (21’, 5, 17’, 18’, 19’, 20’, 21’), theo Phiếu đo đạc
chỉnh lý thửa đất số 4102/2026 ngày 10/4/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh
Đồng Nai (nay là thành phố Đồng Nai).
Ông Võ Phương T có quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích đất được
nhận theo di chúc và theo kết quả giải quyết của Tòa án. Ông T có nghĩa vụ liên hệ
với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để kê khai, đăng ký đất
đai theo quy định của pháp luật.
Ông Võ Phương T có nghĩa vụ hỗ trợ cho bà Võ Kim P, anh Võ Minh T1 số
tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng và cho bà P, anh T1 được lưu cư
thời gian 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Phương T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
trên giá trị được chia là 106.424.520 (một trăm lẻ sáu triệu bốn trăm hai mươi bốn
nghìn năm trăm hai mươi) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là
12.000.000 (mười hai triệu) đồng theo biên lai số 000473 ngày 18/4/2019 của Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Ông Võ Phương T còn phải nộp tiếp
số tiền án phí là 94.424.520 (chín mươi bốn triệu bốn trăm hai mươi bốn nghìn
năm trăm hai mươi) đồng.
- Bà Võ Thị Phương C phải chịu số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được
trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai
thu tiền số 0015612 ngày 24/6/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Đồng Nai.
3. Về chi phí tố tụng:
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá: Ông T được
chia thừa kế theo di chúc nên ông T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định
tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá; ông T đã tạm ứng các chi phí này và đã thanh toán
xong.
- Về chi phí giám định: Bà C phải chịu toàn bộ chi phí về giám định; các chi
phí này bà C đã tạm ứng và đã thanh toán xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
13
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân TP Đồng Nai;
- TAND KV 1 - Đồng Nai;
- THADS TP Đồng Nai;
- VKSNDKV 1 – Đồng Nai;
- PTHADS KV 1 -Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Thị Nga
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 720/2026/DS-PT Bản án số 720/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 720/2026/DS-PT Bản án số 720/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất