Bản án số 692/2026/HNGĐ-ST ngày 16/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 692/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 692/2026/HNGĐ-ST ngày 16/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Số hiệu: 692/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 692/2026/HNGĐ-ST Bản án số 692/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 692/2026/HNGĐ-ST Bản án số 692/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
Bản án số: 692/2026/HNGĐ- ST
Ngày: 16/7/2026
V/v: Tranh chấp HN-GĐ.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tư do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Trí
- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Bôi và ông Nguyễn Đức Trọng;
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký Tòa án;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội tham gia phiên toà: Bà
Nguyễn Hoàng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 16/7/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, xét xử sơ
thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 498/2026/TLST-HNGĐ ngày
22/05/2026, về việc“Tranh chấp Hôn nhân gia đình”, theo Q định đưa vụ án ra xét
xử số: 329/2026/QĐST-HNGĐ ngày 30/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 -
Hà Nội, giữa:
-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1992; CCCD số: 00119204xxxx;
nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn P, xã H, thành phố Hà Nội. (Có mặt).
-Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 1980; CMND số: 02608000xxxx; nơi
ĐKHKTT: Thôn T, xã T, tỉnh P; nơi tạm trú và nơi ở hiện tại: Thôn P, xã H, thành
phố Hà Nội. (Xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Về phía nguyên đơn: Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản khai, lời khai và các
tài liệu chứng cứ kèm theo trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị N
trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn Đức Q quen nhau vào năm 2013
tại thành phố Hồ Chí Minh. Thời điểm đó, tôi đang là sinh viên năm cuối trường
Trung cấp Thông tin truyên thông thành phố Hồ Chí Minh và anh Q đang làm lái xe
taxi. Chúng tôi tự do tìm hiểu nhau khoảng 6 tháng thì Q định kết hôn. Tại thời điểm
kết hôn, chúng tôi hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và được hai bên gia đình
ủng hộ, tổ chức lễ cưới theo đúng phong tục tập quán của địa phương. Chúng tôi có
đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T, tỉnh P)
2
vào ngày 30/5/2014. Sau khi kết hôn, anh Q đăng ký tạm trú và chúng tôi sinh sống
ổn định tại thôn P, xã H, thành phố Hà Nội.
Quá trình chung sống chúng tôi sống hòa thuận đến năm 2020 thì phát sinh
mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng có to tiếng, cãi vã. Nguyên nhân là do chúng tôi bất
đồng quan điểm sống, không hòa hợp về tính cách, không tìm được tiếng nói chung
trong hôn nhân. Thời gian này, chúng tôi vẫn sống cùng nhà với nhau nhưng hai bên
không còn quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với nhau những vấn đề phát sinh trong đời
sống chung. Do mâu thuẫn trầm trọng và không tự hòa giải được nên chúng tôi đã
nhiều lần Q định sống ly thân nhưng sau đó hai bên lại quay lại chung sống với nhau.
Lần cuối cùng chúng tôi sống với nhau được khoảng 3 tháng nhưng sau đó mâu thuẫn
lại tiếp tục phát sinh và không thể tự hòa giải được nên chúng tôi đã sống ly thân và
chấm dứt quan hệ tình cảm từ tháng 4/2025 đến nay. Trong thời gian ly thân, chúng
tôi vẫn liên lạc với nhau qua điện thoại nhưng chỉ trao đổi những vấn đề liên quan
đến con chung, không đề cập đến vấn đề đoàn tụ, không thực hiện bất kỳ biện pháp
gì để cải thiện quan hệ vợ chồng. Hai bên gia đình có biết mâu thuẫn vợ chồng giữa
tôi và anh Q, có khuyên giải nhưng do chúng tôi không tìm được tiếng nói chung nên
hòa giải không thành. Nay, tôi xác định không còn tình cảm với anh Q và nhận thấy
chúng tôi không còn khả năng đoàn tụ nên tôi đề nghị Tòa án giải Q cho tôi được ly
hôn với anh Q. Quá trình Tòa án giải Q vụ án, anh Q có biết lịch làm việc theo thông
báo, giấy báo của Tòa án nhưng anh Q không đến Tòa.
- Về tài sản chung, công sức, công nợ của vợ chồng: Không yêu cầu tòa giải Q.
- Về con chung: Tôi và anh Q có hai con chung là Nguyễn Ngọc H, sinh ngày
11/12/2014 và Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 20/6/2020. Cả hai con đều đang ở
với tôi. Cháu H chuẩn bị lên lớp 7, cháu K chuẩn bị vào lớp 1. Anh Q vẫn quan tâm,
có trách nhiệm với các con chung, vẫn gửi tiền về cho tôi để nộp tiền học cho các
cháu. Ly hôn, tôi có nguyện vọng nuôi cả hai cháu và yêu cầu anh Q có nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi chung cho hai cháu với mức 1.000.000 đồng/ tháng/ con (2.000.000 đồng/
tháng/ 2 cháu). Hiện tại, anh Q vẫn đang làm lái xe. Tôi là lao động tự do (kinh doanh
hoa quả cùng mẹ đẻ) thu nhập 10.000.000 đồng/ tháng. Hàng tháng, mẹ tôi trả lương
cho tôi bằng tiền mặt.
Hiện tại, tôi và các con đang ở cùng bố mẹ đẻ tại thôn P, xã H, thành phố Hà
Nội. Sau ly hôn, tôi vẫn sống cùng với bố mẹ tôi tại địa chỉ trên.
*Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Q, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thông
báo, giấy báo và các văn bản tố tụng có liên quan cho anh Q nhưng anh vẫn vắng
mặt các buổi làm việc trực tiếp tại Tòa án. Qua trao đổi trên điện thoại và Zalo anh Q
mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng trường hợp cô N cương Q ly hôn thì anh cũng
đồng ý; về con chung anh Q đồng ý để chị N nuôi dưỡng cả 02 con chung, trường
hợp chị N đi lấy người khác thì anh có quan điểm thay đổi nuôi con sau; về góp phí
tổn nuôi con do hiện tại anh Q công việc không ổn định nên xin tạm hoãn hơn 01 năm
rồi anh có nghĩa vụ cấp dưỡng sau; về tài sản vợ chồng không có tài sản nên không
đề nghị giải Q. Do anh bận công việc và phải làm ăn xa nên xin xét xử vắng mặt tại
phiên tòa ngày 16/7/2026.
3
*Đại diện gia đình bà Trịnh Thị V, sinh năm 1973; CCCD số 00117303xxxx;
ngày cấp: 17/8/2021; nơi thường trú: Thôn P, xã H, thành phố Hà Nội, trình bày: Tôi
là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị N. Chị N và anh Q tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn,
có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật và có tổ chức lễ cưới theo đúng
phong tục của địa phương. Sau khi kết hôn, chị N và anh Q đăng ký tạm trú và sinh
sống tại thôn P, xã H, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống gia đình tôi nhận thấy
giữa chị N và anh Q đã nhiều lần phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng thường xuyên
cãi nhau. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do hai bên không hợp nhau, không hòa
hợp về tính cách, không tìm được tiếng nói chung và do anh Q là người lành tính,
không tự Q được các vấn đề phát sinh trong đời sống chung mà vẫn phụ thuộc vào ý
kiến của mẹ anh Q. Gia đình hai bên có biết mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh
Q, có hòa giải nhưng không thành do chị N và anh Q không tìm được tiếng nói chung,
đã sống ly thân từ khoảng tháng 5/2025 đến nay. Kể từ thời điểm đó, chị N và các
con chung về sống cùng vợ chồng tôi tại thôn P, xã H, thành phố Hà Nội. Đây là nhà
riêng của vợ chồng tôi, chúng tôi có xây 01 ngôi nhà 3 tầng (50m2/ 1 sàn xây dựng),
mẹ con chị N ở phòng riêng tại tầng 3.
Chị N và anh Q có hai con chung là cháu Nguyễn Ngọc H, sinh ngày
11/12/2014 và cháu Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 20/6/2020. Các cháu đi học gần
nhà nêNgọc Hng ngày các cháu tự đi học, các cháu tự vệ sinh cá nhân. Chúng tôi
không phải chăm sóc, phục vụ các cháu.
Chị N và anh Q không có tài sản chung, nợ chung.
Nay, chị N xin ly hôn anh Q thì tôi để nghị Tòa án giải Q theo quy định của
pháp luật. Trường hợp, sau ly hôn, chị N và các cháu vẫn sống cùng nhà với vợ chồng
tôi. Chúng tôi cam kết tạo mọi điều kiện về chỗ ở, hỗ trợ về kinh tế nếu chị N cần thì
để đảm bảo chị N có đủ điều kiện để nuôi các con. Chị N đang kinh doanh (bán hoa
quả) cùng với tôi. Hàng tháng, tôi vẫn trả chị N 10.000.000 đồng/ tháng tiền lương,
tôi trả bằng tiền mặt. Ngoài ra, tôi vẫn chu cấp tiền ăNgọc Hng tháng cho mẹ con chị
N.
Hiện tại, tôi bận công việc nên từ chối tham gia tố tụng tại Tòa án, đề nghị Tòa
án không triệu tập tôi. Tôi giữ nguyên ý kiến, quan điểm như trên và không bổ sung
thêm ý kiến nào khác.
*Xác minh tại địa phương: Qua xác minh tại chính quyền địa phương được
cung cấp như sau: Về hôn nhân, chị N và anh Q kết hôn tự nguyện có đăng ký kết
hôn, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo đúng phong tục, tập quán của địa
phương. Sau khi kết hôn, anh Q đăng ký tạm trú và cùng chị N sinh sống ổn định tại
thôn thôn P, xã H, thành phố Hà Nội. Trong thời gian chung sống ở địa phương do
hai bên bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp về tính cách, không tìm được tiếng
nói chung nên hai bên đã phát sinh mâu thuẫn. Do mâu thuẫn trầm trọng nên chị N
và anh Q đã sống ly thân từ giữa năm 2025. Chị N và các con đang sống tại nhà mẹ
đẻ là bà Trịnh Thị V tại thôn P, xã H, thành phố Hà Nội.
- Về con chung: Chị N và anh Q có 2 con chung là cháu Nguyễn Ngọc H và
cháu Nguyễn Ngọc Minh K. Cả hai cháu đang ở cùng chị N. Trong thời kỳ hôn nhân
4
chị N và anh Q buôn bán hoa quả cùng bà V. Hiện tại, chị N vẫn làm công việc trên
cùng bà V.
- Về tài sản chung, nợ chung của chị N và anh Q chính quyền địa phương không
quản lý.
Đề nghị Tòa án giải Q vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa vắng mặt anh Q nên Tòa án không tiếNgọc Hnh hòa giải được
theo quy định. Chị N giữ nguyên quan điểm về hôn nhân, về tài sản và nuôi con nhưng
chị N xin thay đổi quan điểm về góp phí tổn nuôi con. Chị xin được nuôi cả 02 con
chung nhưng không đề nghị anh Q phải góp phí tổn nuôi con. Đề nghị tòa giải Q ly
hôn theo quy định của pháp luật.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội tham gia phiên toà
trình bày quan điểm:
- Về tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, Thẩm phán, Thư ký
được phân công giải Q vụ án đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền; thu thập
chứng cứ, chấp hành đúng pháp luật tố tụng; các đương sự như nguyên đơn đã thực
hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo đúng quy định của pháp
luật; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa; về thời hạn
chuẩn bị xét xử và Q định đưa vụ án ra xét xử kèm gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên
cứu đúng thời hạn quy định tại Điều 203 và Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Trên cơ sở nội dung vụ án và diễn biến tại phiên tòa. Căn cứ
theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83
Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N và
cần xử cho chị N được ly hôn anh Q theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Chị N và anh Q có hai con chung là Nguyễn Ngọc H, sinh
ngày 11/12/2014 và Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 20/6/2020. Ly hôn, giao cả hai
con cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con
trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có Q định thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị N không đặt ra để giải Q nên cần
hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Q cho đến khi có yêu cầu hoặc cho đến
khi có Q định thay đổi khác.
- Về tài sản chung, công sức và công nợ chung: Chị N xin tự thỏa thuận và không
đề nghị giải Q.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Q
và chị N có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
5
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và quan điểm của đại diện
Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Đức Q có nơi thường trú tại thôn T, xã T, tỉnh
P; hiện tạm trú và sinh sống tại thôn P, xã H, thành phố Hà Nội nên việc chị N có đơn
xin ly hôn và đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội giải Q việc ly hôn là đúng
với quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Trong
quá trình giải Q vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án giao, gửi
và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng có mặt nguyên
đơn, vắng mặt bị đơn (xin xét xử vắng mặt). Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng
dân sự Toà án vẫn tiếNgọc Hnh xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh Q, kết hôn trên cơ sở
tự nguyện, có sự tìm hiểu, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T,
huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T, tỉnh P) vào ngày 30/5/2014. Đây là hôn
nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống theo chị N: Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận,
hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng có to tiếng, cãi
vã. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp về tính cách,
không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Thời gian này, anh chị vẫn sống
cùng nhà với nhau nhưng hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với nhau
những vấn đề phát sinh trong đời sống chung. Do mâu thuẫn trầm trọng và không tự
hòa giải được nên anh Q và chị N đã nhiều lần Q định sống ly thân nhưng sau đó hai
bên lại quay lại chung sống với nhau. Lần cuối cùng anh Q và chị N sống với nhau
được khoảng 3 tháng nhưng sau đó mâu thuẫn lại tiếp tục phát sinh và không thể tự
hòa giải được nên hai bên đã sống ly thân và chấm dứt quan hệ tình cảm từ tháng
4/2025 đến nay. Về phía anh Q trong suốt quá trình tố tụng đều đã được giao gửi,
thông báo các văn bản tố tụng nhưng đều vắng mặt (lý do đi làm ăn xa) và có quan
điểm qua điện thoại và Zalo, về hôn nhân anh mong muốn các con có một gia đình
hoàn chỉnh nhưng nếu cô N cương Q xin ly hôn anh cũng nhất trí; về tài sản không
có và không đề nghị giải quyêt; về con chung trước mắt anh nhất trí để cô N nuôi
dưỡng cả 02 con chung, khi nào cô N đi lấy người khác thì anh xin thay đổi nuôi con
sau; về góp phí tổn nuôi con trước mắt công việc của anh Q chưa ổn định nên xin
hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng hơn 01 năm. Đồng thời do bận đi làm ăn xa không về được
nên anh xin được xét xử vắng mặt.
Qua quan điểm của đại diện gia đình là bà Trịnh Thị V (mẹ đẻ chị N) và qua
xác minh tại địa phương.
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh Q là trầm trọng, vợ
chồng không còn hạnh phúc và đã ly thân từ tháng 4/2025 cho đến nay (chị N và các
con ở tại nhà bố mẹ đẻ chị N tại thôn P, xã H, thành phố Hà Nội). Cho thấy, mục đích
hôn nhân giữa chị N và anh Q không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài
nên cần áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn xin
6
ly hôn của chị N và cần xử cho chị N được ly hôn anh Q là phù hợp với quy định của
pháp luật.
Về con chung: Chị N và anh Q có hai con chung là Nguyễn Ngọc H, sinh ngày
11/12/2014 và Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 20/6/2020. Cả hai con đều đang ở
với chị N. Ly hôn, chị N có nguyện vọng nuôi cả hai con và tại phiên tòa chị không
yêu cầu anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi chung. Anh Q trước mắt anh cũng đồng ý
với quan điểm nuôi con của chị N.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay cả hai con đều đang sinh sống ổn định cùng
chị N, việc học tập, sinh hoạt của các con đều được bảo đảm. Xét điều kiện chăm sóc,
nuôi dưỡng của chị N, quyền lợi về mọi mặt của các con và nguyện vọng của con
chung sau khi bố, mẹ ly hôn. Cần giao cả 02 con chung cho chị Nguyễn Thị N được
trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi các con trưởng
thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có Q định thay đổi khác. Anh Q có quyền đi lại
thăm hỏi, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị N xin rút yêu cầu nên Tạm hoãn nghĩa vụ góp
phí tổn nuôi con cho anh Q cho đến khi có yêu cầu hoặc cho đến khi có Q định thay
đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về tài sản, công sức, các khoản vay, cho vay của vợ chồng: chị N xin tự thỏa
thuận và không đặt ra để giải Q.
Về án phí: chị N phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp
luật; các bên đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 58; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật
Hôn nhân và gia đình; Điều 144; Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 266, Điều 271
và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Q số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh
Nguyễn Đức Q;
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Đức Q;
2. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Ngọc H, sinh ngày
11/12/2014 và Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 20/6/2020.
Giao con Nguyễn Ngọc H và con Nguyễn Ngọc Minh K cho chị N được trực
tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi con chung trưởng thành
(đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có Q định thay đổi khác. Anh Q có quyền đi lại thăm
hỏi, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ góp phí tổn nuôi con cho anh Q
cho đến khi có yêu cầu hoặc cho đến khi có Q định thay đổi khác.
7
3. Về tài sản chung, công sức và công nợ chung của vợ chồng: Tự thỏa thuận
không đặt ra để giải Q.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo
biên lai thu số 0012401 ngày 22/05/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
5. Về quyền kháng cáo: Chị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án; anh Q vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND thành phố Hà Nội;
- VKS ND khu vực 11- HN;
- PTHADS khu vực 11 – HN;
- UBND xã T - P;
- Các đương sự;
- Lưu HS.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 692/2026/HNGĐ-ST Bản án số 692/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 692/2026/HNGĐ-ST Bản án số 692/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất