Bản án số 670/2025/DS-PT ngày 26/12/2025 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 670/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 670/2025/DS-PT ngày 26/12/2025 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 670/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà Nguyễn Thị C khởi kiện tranh chấp HĐ tặng cho
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG NAI Độc lập – Tự do Hạnh phúc
Bản án số: 670/2025/DS-PT
Ngày: 26-12-2025
V/v Hủy HĐ tặng cho QSDĐ;
Đòi lại QSDĐ
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Thảo
Bà Phan Thị Thu Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Hoàng Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ số: 606/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2025
về việc: “Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Đòi lại quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 23/2025/DS-ST ngày 06-9-2025 của Tòa án
nhân dân Tòa án nhân dân Khu vực 7- Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 639/2025/QĐ-PT ngày
09 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1 Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1948;
Địa chỉ: Ấp P, xã L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của bà C: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1975
Địa chỉ: Tổ A, ấp P, L, tỉnh Đồng Nai người đại diện theo ủy quyền
(văn bản ủy quyền ngày 21/7/2022).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Tấn T,
sinh năm 1976 - Công ty L1 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: A, tổ C, khu phố G, phường T, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1980; bà Trần Thị Kim H, sinh năm
1986.
Địa chỉ: Tổ I, ấp P, xã L, tỉnh Đồng Nai.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Trần Thị Kim H:
Nguyễn Thành L - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ
ng M, ông T, bà H, ông L có mặt, bị đơn ông S có đơn xét xử vắng mặt).
*Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Kim H.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/5/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày
14/9/2022, và quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông
Nguyễn Văn M trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 92, tờ 49, 6029,0m
2
là của Nguyễn Thị C khai
hoang khoảng từ năm 1978. C canh tác sử dụng ổn định ngày 30/6/2006
C được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 476265.
Do con gái lấy chồng ở xa nên bà C với con trai Nguyễn Văn S, trên thửa đất số
92 02 căn nhà, 01 căn nhà nhỏ diện tích 4m x 4m do tự xây vào năm
1984, căn nhà lớn diện tích 40m2 (5m x 8m) xây vào năm 1989. Ông S
Trần Thị Kim H bắt đầu chung sống với nhau từ tháng 6/2004, đăng kết
hôn cùng bà, năm 2017 vợ chồng ông S cần tiền để làm ăn nên mới
giao nhà đất cho vợ chồng ông S thửa đất số 92, tờ bản đồ số 49 để thế chấp vay
tiền Ngân hàng vốn làm ăn. vậy C mới làm hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất kết giữa C ông S, H ngày 08/6/2017 được UBND xã L
chứng thực số 149/2017, quyển số 01/2017-SCT/HĐ,GD ngày 08/6/2017. Vợ
chồng ông S được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh Đ cập nhật biến
động (trang 4) trên giấy chứng nhận vào ngày 12/6/2017. Sau đó ngày 26/6/2017
được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số CI 209007. Tại UBND L. Trước khi ký kết hợp đồng tặng cho, có thỏa
thuận miệng bên ngoài, ông S, H phải chăm sóc nuôi dưỡng C. Ngày
17/4/2022, C bị ông S đuổi ra khỏi nhà vứt quần áo ra sân hàng xóm làm
chứng, đồng thời ông S ng thừa nhận và người làm chứng ông Nguyễn Văn H1,
ông Nguyễn Đức T1 cán bộ Tư pháp xã L thừa nhận.
Ông M đồng ý với Trích lục đo vẽ số 8883/2022 ngày 25/10/2022 của Văn
phòng đăng đất đai tỉnh Đ-Chi nhánh Đ; Chứng thư thẩm định giá số
278/TĐG-CT ngày 15/12/2022 của Công ty cổ phần T2.
Nay bà C yêu cầu Tòa án giải quyết: Huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất được UBND L chứng thực số 149/2017, quyển số 01/2017 SCT-HĐ,GD
ngày 08/6/2017 đối với quyền sử dụng đất tại thửa 92, tờ bản đồ số 49 xã L.
Buộc ông S, bà H phải trả lại quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 92, tờ
bản đồ số 49, diện tích 6029,0m
2
tại p P, xã L. C đồng ý trả lại cho ông S,
H giá trị tài sản cây trồng, nhà đã đầu tư, trồng trọt, ng cấp, sửa chữa tạm
tính là 100.000.000 đồng.
*Tại bản tự khai ngày 14/7/2022, biên bản lấy lời khai ngày 26/6/2025, ngày
29/8/2025, biên bản đối chất ngày 26/6/2025 trong quá trình giải quyết vụ án b
đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:
Nguồn gốc thửa đất đúng như C đã trình bày. Ngày 08/6/2017 C
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ông S, H hoàn toàn tự nguyện, theo ý
chí của các bên. Sau khi được mtặng cho thì được cập nhật trang 4 trên giấy
chứng nhận ngày 12/6/2017 đối với thửa 60, 92. Cùng năm 2017 ông bà H
đi vay Ngân hàng N2 chi nhánh Đ Phòng G để vay số tiền 100.000.000 đồng
3
sử dụng vào mục bán mua bán điều lá, xoài lá. Do làm ăn thua lnên không
tiền trả nợ Ngân hàng nên sau đó đã bán thửa đất số 60, diện tích khoảng 3.990m
2
để trả nợ cho Ngân hàng.
Hiện nay vợ chồng ông đã ly hôn theo bản án Hôn nhân gia đình số
64/2024/HNGĐ-ST ngày 28/6/2024 của TAND huyện Định Quán (nay TAND
khu vực 7 – Đồng Nai) nên không còn là vợ chồng.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được kết giữa bà C với ông S,
H ngày 08/6/2017 được UBND L chứng thực, trong hợp đồng không ghi
điều kiện kèm theo vào nội dung hợp đồng nhưng có thỏa thuận miệng bên ngoài,
ông phải có nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng bà C. Ông S thừa nhận có đuổi bà C ra
khỏi nhà và vứt quần áo ra sân, hiện không chăm sóc nuôi dưỡng bà C.
Hiện nay bà H đang quản lý sử dụng thửa đất này, bà C đang được vợ chồng
chị gái chăm sóc nuôi dưỡng.
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C. Ông không đồng ý
trả lại thửa đất số 92, tờ bản đồ số 49, ấp P, L cho C. Ông S không yêu
cầu phản tố. Việc C đồng ý trả lại cho ông S H giá trị tài sản cây trồng,
nhà ở đã đầu tư, trồng trọt, nâng cấp, sửa chữa tạm tính 100.000.000 đồng (một
trăm triệu đồng) thì ông S không có ý kiến gì, không yêu cầu đối với số tiền này.
*Quá trình t tng b đơn bà Trn Th Kim H trình bày:
Ông S và bà H bắt đầu chung sống với nhau từ tháng 6/2004, có đăng ký kết
hôn tại UBND L. Đến tháng 4/2022 H ông S không còn chung sống với
nhau, ông S bỏ nhà đi, không về thăm con lần nào. Tháng 6/2024 H ông S
đã ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
Khi lập gia đình, H ông S sinh sống cùng Nguyễn Thị C. Nguồn
gốc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 49, tọa lạc xã L là tài sản hợp pháp của bà C.
Trước đó C thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền
đưa cho bà Nguyễn Thị M1 (là con gái bà C) làm ăn, sau này bà C nói bà H, ông S
chuộc giấy chứng nhận quyền sdụng đất về để C sang tên qua cho ông S,
H. Ngày 08/6/2017 C cùng với ông S, H ra UBND xã L để kết hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 92, 60.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà C và ông S, H
ngày 08/6/2017 được UBND L chứng thực; hợp đồng này không ghi điều
kiện kèm theo vào nội dung như C trình bày. Việc ông M cho rằng thỏa
thuận bên ngoài là phải nuôi dưỡng chăm sóc C nghĩa vụ của con cái đối với
cha mẹ của mình, đó không phải sự thỏa thuận, không việc C bị đuổi ra
khỏi nhà. Hợp đồng hai bên tự nguyện tặng cho thể hiện ý chí của mình, không bị
ai ép buộc, đúng hình thức và nội dung, được chứng thực đúng trình tự thủ tục luật
định.
H, đồng ý với trích lục đo theo yêu cầu thửa đất bản đồ địa chính số
8883/2022 ngày 25/10/2022; Chứng thư thẩm định giá s 278/TĐG-CT ngày
15/12/2022.
Tại Bản án số: 23/2025/DS-ST ngày 06-9-2025 của Tòa án nhân dân Khu
vc 7 - Đồng Nai đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C về việc tranh
chấp hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, tranh chấp đòi tài sản quyền s
4
dụng đất.
Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được UBND L chứng thực số
149/2017, quyển số 01/2017 SCT-HĐ,GD ngày 08/6/2017 đối với quyền sử
dụng đất tại thửa 92, tờ bản đồ số 49 xã L.
Buộc ông Nguyễn Văn S, Trần Thị Kim H phải trả lại quyền sử dụng đất
đối với thửa đất số 92, tờ bản đồ số 49, ấp P, L cùng tài sản gắn liền với đất là
nhà ở, công trình xây dựng cây trồng trên đất. Tại phiên tòa C tự nguyện
đồng ý thanh toán cho ông S, H giá trị tài sản cây trồng, nhà đã đầu tư,
nâng cấp, sửa chữa là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) nên ghi nhận.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng cáo
theo quy định.
Ngày 18/9/2025 bị đơn Trần Thị Kim H kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm sửa án thẩm theo hướng không chấp nhận u cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia
phiên tòa phúc thẩm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy
định của pháp luật từ khi thụ đến khi xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
đúng thành phần, đảm bảo vô tư khách quan, trình tự phiên tòa được Hội đồng xét
xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thư thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Các
đương s đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp
luật.
Về đề xuất đường lối giải quyết vụ án: Tòa án cấp thẩm xét xử đúng quy
định, đnghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Trần Thị Kim
H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị Kim H làm trong thời
hạn luật định, đóng tạm ứng án phí theo quy định nên được xem xét theo thủ tục
phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn:
Về nguồn gốc thửa đất số 92, tờ bản đồ 49, L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai
(nay xã L, tỉnh Đồng Nai) diện tích 6029,0m
2
trước đây của Nguyễn
Thị C; ngày 30/6/2006 C được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AE 476265. Ngày 08/6/2017 C làm Hợp đồng tặng cho bà H và
ông S thửa đất số 60, 92, tờ 49, diện tích 10.028,0m
2
được UBND L chứng
thực số 149/2017, quyển s01/2017-SCT/HĐ,GD. Ngày 12/6/2017, ông S, bà H
5
được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-Chi nhánh Đ cập nhật biến động (trang 4).
Ngày 26/6/2017 ông S, H được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 209007 đối với thửa đất số 92.
H kháng cáo cho rằng Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã hoàn
thành, bà và ông S đã quản lý, sử dụng thửa đất, giữa các bên không có thỏa thuận
điều kiện khi kết hợp đồng tặng cho nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C.
Nhận thấy, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 08/6/2017 được
kết giữa C với ông S, H về hình thức được thực hiện đúng theo quy định;
các bên tham gia ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự
nguyện, việc lập hợp đồng đảm bảo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định được
UBND L đã chứng thực. Theo C thì tặng cho ông S H quyền sdụng
đất trên phải điều kiện, cụ thể vợ chồng ông S phải nghĩa vụ chăm sóc nuôi
dưỡng C nhưng ông S không thực hiện theo điều kiện của hợp đồng. Ông S
H không n quan tâm, chăm sóc bà C lúc ốm đau, ông S đã ném quần áo và đuổi
ra khỏi nhà, hiện ông S H đã ly hôn không còn chăm sóc bà, đã phải
về nhà con gái để sinh sống.
H thì cho rằng việc bà C đề nghị hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất và yêu cầu ông S bà H trả lại quyền sử dụng đất là do ông S và bà H đã ly hôn,
không sống chung với nhau chứ không có việc ông S đuổi bà C như bà C và ông S
trình bày. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa C với H, ông S đã
hiệu lực, các bên không thỏa thuận điều kiện khi giao kết hợp đồng, nên hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 08/6/2017 được công nhận.
Xét thấy, tuy hợp đồng giữa các bên không thỏa thuận bằng văn bản
nhưng được ông S C thừa nhận, đồng thời theo lời khai của ông Nguyễn Đức
T1 cán bpháp L là người soạn thảo hợp đồng, thực hiện thủ tục chứng
thực hợp đồng cho các bên đã xác định, giữa các bên thỏa thuận điều kiện bên
ngoài như C đã trình bày (Bl 240). Do vậy, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất số 149/2017/Quyển số 01/2017 -STC-HD,GD được UBND L chứng thực
ngày 08/6/2017 được kết giữa C với ông S, H đối với thửa đất số 92, tờ
bản đồ số 49, L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai hợp đồng tặng cho điều kiện.
Ông S, bà H đã vi phạm điều kiện không chăm sóc, nuôi dưỡng bà C nên vi phạm
điều kiện của hợp đồng. Căn cứ Điều 462, 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa
án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của C, hủy hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất; yêu cầu ông S, H trả lại thửa đất số 92, tờ bản đồ số 49,
diện tích 6029,0m
2
tại xã L có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của C đề nghị
hỗ trợ thêm cho Hằng số tiền là 400.000.000 đồng, tổng cộng 500.000.000
6
đồng để bà H tìm nơi ở mới, được bà H đồng ý. Do vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận
sự thỏa thuận của các bên.
[4] Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 209007 ngày
26/6/2017 được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông S, H đối với
thửa 92, tờ bản đồ số 49, L. Xét thấy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông S bà N bằng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Căn cứ Công văn
số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết
phải hủy giấy chứng nhận, căn cứ bản án của Tòa án, quan Nhà nước
thẩm quyền thu hồi để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho C theo
quy định. Tòa án cấp thẩm không tuyên C được quyền liên hệ với quan
Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thiếu
sót, cần rút kinh nghiệm.
[5] H kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được chng c mi, nên
không chp nhn kháng cáo ca Trần Thị Kim H, gi nguyên bản án sơ thẩm
ca Tòa án nhân dân Khu vc 7 Đồng Nai.
[6] Về chi phí tố tụng: Tòa án cấp thẩm xác định đúng theo quy định tại
Điều 157, 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[7] Về án phí: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn Trần Thị Kim H
không được chấp nhận nên phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng, được trừ vào
tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[9] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và b
đơn Trần Thị Kim H đề nghị ghi nhận việc thỏa thuận của các đương sự phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của Trần Thị Kim H.
Sửa Bản án dân sự thẩm: 23/2025/DS-ST ngày 06-9-2025 của Tòa án
nhân dân Tòa án nhân dân Khu vc 7 Đng Nai.
Căn cứ Điều 166, 357, 423, 462, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị C về việc
tranh chấp hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Tranh chấp đòi tài sản
quyền sử dụng đất.
2. Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được kết giữa Nguyễn
7
Thị C với ông Nguyễn Văn S, Trần Thị Kim H được UBND L chứng thực
số 149/2017, quyển số 01/2017 SCT-HĐ,GD ngày 08/6/2017 đối với quyền sử
dụng đất tại thửa đất số 92, tờ bản đồ số 49, xã L, tỉnh Đồng Nai.
3. Buộc ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Kim H phải trả lại quyền sử dụng
đất là thửa đất số 92, tờ bản đồ số 49, diện tích 6029,0m
2
, tọa lạc tại ấp P, L,
tỉnh Đồng Nai cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất nở, công trình xây dựng
và cây trồng trên đất cho bà Nguyễn Thị C.
4. Ghi nhận việc Nguyễn Thị C tự nguyện thanh toán cho ông Nguyễn
Văn S số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng); Trần Thị Kim H s
tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
5. Nguyễn Thị C được quyền liên hệ với quan thẩm quyền để làm
thủ tục đăng đất đai, nhà tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của
pháp luật.
6. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn S, Trần Thị Kim H phải trả cho
Nguyễn Thị C chi phí tố tụng số tiền 46.119.000 đồng (Bốn ơi sáu triệu
một trăm mười chín nghìn đồng), mỗi người phải trả 23.059.500 đồng (Hai
mươi ba triệu không trăm năm mươi chín nghìn năm trăm đồng).
7. Về án phí: Ông Nguyễn Văn S, Trần Thị Kim H mỗi người phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm stiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); Trần Thị
Kim H phải chịu án pdân sự phúc thẩm s tiền là 300.000 đồng, được tr vào
tin tm ng án phí do H đã nộp, ti Biên lai s 0001625 ngày 24/9/2025 ca
Phòng Thi hành án dân s khu vc 7- Đồng Nai.
8. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải
thi hành án chưa thi hành thì còn phải chịu khoản lãi tương ứng với khoản tiền
thời gian chưa thi hành án xong theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân
sự năm 2015.
9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b Điều 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án.
10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND Khu vực 7;
- Phòng THADS Khu vực 7;
- Các đương sự;
- Lưu: VT; hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Nhung
8
9
10
11
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND Khu vực 7;
- Phòng THADS Khu vực 7;
- Các đương sự;
- Lưu: VT; hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Nhung
12
13
14
15
16
17
18
Tải về
Bản án số 670/2025/DS-PT Bản án số 670/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 670/2025/DS-PT Bản án số 670/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất