Bản án số 663/2025/DS-PT ngày 26/12/2025 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 663/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 663/2025/DS-PT ngày 26/12/2025 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 663/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc tháo dỡ bất động sản liền kề” giữa ông Văn Phú S và ông Lê Hùng P.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 663/2025/DS-PT
Ngày: 26-12-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,
buộc tháo dỡ bất động sản liền kề”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết H
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nhân
Bà Lê Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Nai
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Huyền Kim -
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Đồng
Nai (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 357/2025/TLPT-
DS ngày 17/10/2025 v việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc tháo dỡ bất
động sản liền kề”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 20/6/2025
của Toà án nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình phước (nayToà án nhân dân
khu vực 9- Đồng Nai) bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm số 541/2025/QĐXXPT-DS ngày 18 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Văn Phú S, sinh năm 1971; địa chỉ: Khu phố T, phường
T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo ủy quyền của ông S: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm
1997; địa chỉ: Thôn E, T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng (nay Đ, tỉnh Lâm
Đồng); địa chỉ: Số A Â, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (cũ).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông S: Ông Trần Hữu T, sinh
năm 1991 – Công ty L; địa chỉ: Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn:
Ông Hùng P, sinh năm 1982; địa chỉ: KP B, phường T, thành phố Đ,
tỉnh Bình Phước (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
2
+ Bà Nguyễn Thị Thủy T1, sinh năm 1991; địa chỉ: Khu phố X, phường T,
thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai).
+ Bà Phạm Thị Thanh D, sinh năm 1969;
+ Ông Văn Phú T2, sinh năm 1992;
+ Bà Văn Thị Hải Y, sinh năm 1996;
+ Bà Văn Thị Thúy N, sinh năm 2002.
Cùng trú tại: KP T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (nay phường
B, tỉnh Đồng Nai)
+ Thái Thị Thanh T3, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh
Bình Phước (nay xã Đ, tỉnh Đồng Nai).
* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Văn Phú S
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Văn Phú S trình bày:
Trước đây cha m đẻ cho ông S và anh trai ông S tên Văn Phú D1 mỗi
người một thửa đất liền kvới nhau tại khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh
Bình Phước. Ngày 25/02/2008, gia đình ông S được UBND thị Đ cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất H01463/QSDĐ/1060/QĐUB, cấp cho hộ Văn P
S thửa đất số 82, tờ bản đồ số 59, diện tích 93,2m
2
(đất ODT), tọa lạc tại phường
T, thị Đ (nay thành phố Đ), tỉnh Bình Phước, đến tháng 5/2013 ông S xây
nhà 3 lầu thì vợ chồng anh trai ông S là ông Văn Phú D1, Thái Thị Thanh T3
có nhờ dựa vách sàn, cột đà tường bên ông S để xây nhà, vì nhà ông D1 T3 chỉ
xây 1 tường thì ông S đồng ý cho mượn với diện tích đất là 1,2m
2
, chiều cao bức
tường là 13,5m. Sau này ông D1 chết, bà T3 bán phần đất của vợ chồng ông
D1 T3 cho ông Hùng P. Trước khi bán đất T3 nói với bên ông P
căn nhà trên đất chỉ một bức tường đang dụng nhờ vào tường của ông S, ông P
biết điều đó và đồng ý mua, ông P hứa sẽ thương lượng được với ông S. Khi biết
chuyện T3 bán đất của cha mẹ để lại cho ông P, ông S yêu cầu nếu mua đất thì
phải cắt sàn, đà, xây tường, xây cột, đà riêng và trả lại tường cho gia đình ông S.
Ông S cho rằng bức tường và diện tích đất xây dựng bức tường (hiện đang tranh
chấp) là của ông S, do ông S xây dựng và thuộc về căn nhà của ông S.
Ông S khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết buộc ông Hùng P trả lại cho
ông S phần đất ông P đã lấn chiếm diện tích khoảng 1,2m
2
tứ cận như sau: Phía
Đông giáp đường ĐT741 chiều rộng khoảng 10cm; Phía Tây giáp thửa 55
chiều rộng khoảng 10cm; Phía Nam giáp thửa 83 của ông P có chiều dài khoảng
12m; Phía Bắc giáp nhà đất của tôi thửa 82, chiều dài khoảng 12m; Diện tích
đất ông Hùng P lấn chiếm thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 59, tọa lạc tại
phường T, thị Đ (nay thành phố Đ), tỉnh Bình Phước, đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN SDĐ số
H01463/QSDĐ/1060/QĐUB do UBND thị xã Đ cấp ngày /02/2008 cho ông Văn
Phú S yêu cầu ông Hùng P cắt sắt cấy vào trụ, đà , tường nhà của ông S,
3
không cho ông P sử dụng chung bức tường, ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.
- Bị đơn ông Lê Hùng P trình bày:
Vào năm 2021, vợ chồng có nhận sang nhượng của Thái Thị Thanh T3
thửa đất s83, tờ bản đồ số 59 được Ủy ban nhân dân thị Đ cấp giấy chứng
nhận QSDĐ số CH 075741/QSDĐ/1957/QĐUBND ngày 04/6/2018 cho bà Thái
Thị Thanh T3, trên đất 01 căn nhà cấp 03 gồm 01 trệt 02 lầu. Sau khi thanh
toán số tiền 02 bên thỏa thuận sang nhượng thì tiến hành làm hợp đồng CNQSDĐ
đã được Chi nhánh văn phòng đăng đất đai thành phố Đ điều chỉnh trang 03
đứng tên trên giấy chứng nhận đất theo hồ sơ 210531-0105.
Khi nhận sang nhượng nhà đất thì bà T3 có nói với vợ chồng ông P là căn
nhà có một phần bức tường sử dụng nhờ của ông văn P1. Bà T3 nói nội dung
vào năm 2013 thì gia đình ông S gia đình bà T3 tiến hành xây nhà để ở, 02 gia
đình đều xây nhà 01 trệt 02 lầu (03 tầng), xây hết chiều rộng thửa đất chiều dài
khoảng 12m. Do phần đất của gia đình T3 gia đình ông S giáp nhau nên
giữa ông D1 (chồng T3) ông S thống nhất để giảm chi phí cho việc xây dựng
thì ông S cho cho gia đình bà T3 xây dựng gác một bên phần sàn nhà vào các trụ
cột lầu 01, lầu 02 phần mái tôn (02 sàn + mái) vào phần nhà của ông S. Gia
đình bà T3 chỉ phải tiến hành xây dựng đổ móng, trụ 01 bên còn 01 bên tận dụng
xây dựng vào phần móng cột nhà ông S. Phần móng cột do ông S xây dựng cho
gia đình bà T3 sử dụng nhờ thì được xây dựng trên phần diện tích đất của ông S,
chiều cao các trụ cột nhà là khoảng 13,5m. Sau khi đổ trụ và tiến hành xây dụng
thì ông S có xây tường nhà, gia đình T3 đã tận dụng 01 bên bức tường của ông
S tiếp giáp với phần nhà của gia đình T3 sử dụng chứ không tiến hành xây
dựng tường nhà đối với bên phần tiếp giáp đất ông S.
Nay ông S yêu cầu tháo dỡ phần sàn nhà gác trên bức tường và trụ cột của
nhà ông S thì ông P có ý kiến như sau;
Đối với phần diện tích đất thì ông P khẳng định bức tường của ông S,
xây dựng trên phần đất của ông S. Đối với bức tường căn nhà khi nhận sang
nhượng lại thì có sàn nhà lầu 01, lầu 02 gác qua nhà ông S. Chúng tôi đã nói với
ông S là đồng ý trả lại và cho ông S thuê thợ đến cắt và có phương án khắc phục
phần móng để nhà ông P khỏi bị sập nhưng ông S không làm, bản thân ông P cũng
đã liên hệ với một số nhà thầu xây dựng để cắt khắc phục phần móng nhà
nhưng các nhà thầu không phương án trả lời không thể khắc phục phần
móng được, nếu cắt sàn nhà ra khỏi bức tường thì nhà sẽ đổ sập và đổ sập luôn
nhà của ông S.
Sự việc ông S không cho sử dụng chung bức tường dẫn đến thiệt hại rất lớn
đến toàn bộ căn nhà của ông P nếu cắt bỏ, bản thân ông S khi cho sử dụng nhờ
cũng biết được sau này sẽ không thể cắt bỏ phần sàn nhà ra khỏi bức tường nhưng
ông S vẫn cho sử dụng, đây là phần lỗi của ông S. Do đó, nay ông P yêu cầu Tòa
4
án tiến hành giải quyết theo hướng hai bên sẽ sử dụng chung bức tường, mọi chi
phí xây dựng bức tường ông P sẽ chi trả cho ông S 50% giá trị bức tường theo
đúng giá trị mà nhà nước định giá.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Thủy T1 trình
bày: T1 thống nhất nphần trình bày của ông P không trình bày
thêm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Thị Thanh D, ông
Văn Phú T2, bà Văn Thị Thúy N, bà Văn Thị Hải Y trình bày:
Đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không trình
bày gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 20/6/2025 của Toà án
nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình phước (nay là Toà án nhân dân khu vực 9-
Đồng Nai) quyết định:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Văn Phú S về việc buộc ông
Hùng P trả lại phần đất đã lấn chiếm khoảng 1,2m
2
tứ cận: Phía Đông giáp
đường ĐT741 có chiều rộng khoảng 10cm; Phía Tây giáp thửa 55 chiều rộng
khoảng 10cm; Phía Nam giáp thửa 83 chiều dài khoảng 12m; Phía Bắc giáp
thửa 82 có chiều dài khoảng 12m; Diện tích đất ông Hùng P lấn chiếm thuộc
thửa đất số 82, tờ bản đồ số 59, tọa lạc tại phường T, thị Đ (nay thành phố
Đ), tỉnh Bình Phước, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào
sổ cấp GCNSDĐ số H01463/QSDĐ/1060/QĐUB do UBND thị Đ cấp ngày
25/02/2008 cho hộ ông Văn Phú S.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Văn Phú S về việc buộc ông
Lê Hùng P cắt sắt cấy vào trụ, đà nhà của ông S, không cho ông P sử dụng chung
bức tường.
Ông Lê Hùng P có trách nhiệm trả cho ông Văn Phú S số tiền 100.000.000
đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần án phí nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng,
nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Sau khi xét xsơ thẩm ngày 30/6/2025 nguyên đơn ông Văn Phú S đơn
kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông S, buộc ông Lê Hùng P phải tháo dỡ,
di dời sàn, cột dựng trái phép trên bức tường của ông S;
Không chấp nhận nội dung đề nghị của bị đơn về việc hỗ trợ ông S
100.000.000 đồng để sử dụng chung bức tường với nhà ông S.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
5
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Hội đồng xét xử:
Kể từ ngày thụ lý vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử
tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3
Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự, hủy một phần bản án dân sự
thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 20/6/2025 của Toà án nhân dân thị xã Đồng Xoài,
tỉnh Bình phước (nay là Toà án nhân dân khu vực 9- Đồng Nai) bị kháng cáo do
thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong thời hạn luật định, hình thức
nội dung phù hợp các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ
điều kiện thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Việc vắng mặt của Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt
nhưng nguyên đơn người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
mặt tại phiên tòa đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vụ án. Do vậy HĐXX tiến hành
xét xử vụ án theo quy định chung.
[2] Về nội dung vụ án:
Tháng 5/2013, ông S xây căn nhà 3 tầng lầu trên thửa đất số 82, tờ bản đ
số 59, diện tích 93,2m
2
theo GCNQSD đất H01463/QSDĐ/1060/QĐUB, cấp ngày
25/02/2008 cho hộ Văn Phú S, đất tọa lạc tại phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước
(nay thuộc phường B, tỉnh Đồng Nai). Việc xây dựng nhà của ông S bản vẽ
thiết kế Giấy phép xây dựng của quan chức năng. Cùng thời điểm này, vợ
chồng anh trai ông S ông n Phú D1, Thái Thị Thanh T3 cũng xây nhà trên
thừa đất bên cạnh nhưng không bản vẽ thiết kế không giấy phép xây
dựng. Do có mối quan hệ anh em ruột thịt nên ông S đồng ý cho gia đình ông D1,
T3 được đấu nối phần sắt các trụ, đà, sàn sử dụng một mặt bức tường của
nhà ông S để giảm chi phí xây dựng phần móng, cột, đà. Căn nông D1 xây
dạng nhà ống ngang khoảng 3,7m dài 12m cao 3 tầng lầu, một mặt bên đấu nối
với trụ, đà, sàn nhà ông S.
Sau khi ông D1 chết, năm 2021 T3 bán phần đất căn nhà của vợ
chồng ông D1 T3 cho ông Lê Hùng P. Sau đó giữa gia đình ông S và ông P đã
phát sinh tranh chấp. Ông S khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết buộc ông Hùng
P phải cắt sắt cấy vào trụ, đà, sàn nhà của ông S.
Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Văn Phú S đối với bản án
thẩm, HĐXX xét thấy:
Bản vẽ thiết kế và Giấy phép xây dựng thể hiện căn nhà của ông S là công
trình riêng lẻ (theo Điều 2, Giấy phép xây dựng số 274/ GPXD do UBND thị
Đ, tỉnh Bình Phước (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai) cấp ngày 02/5/2013), công
6
trình này không liền kề với các công trình xây dựng khác nhưng khi thi công xây
dựng, ông S lại đồng ý cho gia đình ông D1, bà T3 được đấu nối phần cột, đà, sàn
tông để xây dựng căn nhà 3 tầng lầu không có bản vẽ thiết kế và không giấy
phép xây dựng. Việc làm này của các bên không đúng với nội dung được cấp
phép, vi phạm các quy định của pháp luật về xây dựng. Do các bên vi phạm
nên việc xem xét giải quyết yêu cầu của ông S buộc ông P người mua lại nhà
của gia đình T3 phải cắt sắt đấu nối vào trụ, đà, sàn, tường nhà của ông S
liên quan đến các quy định của pháp luật vkết cấu công trình xây dựng thuộc
thẩm quyền quản lý của các cơ quan chức năng. Do vậy, khi giải quyết vụ án cần
phải có ý kiến, kết luận của các cơ quan quản về xây dựng mới có căn cứ giải
quyết vụ án.
Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét, thẩm định, xác minh thu thập chứng
cứ căn cứ vào Biên bản xác minh tại UBND phường T ngày 18/6/2025 (bút lục
212) với thành phần lãnh đạo cán bộ địa chính của phường cung cấp nội
dung về kết cấu căn nhà của ông Văn Phú S, ông Lê Hùng P cho rằng nếu cắt bỏ
sắt trần, sắt trụ, sắt đà nhà ông P thì sẽ gây sập nhà ông P ảnh hưởng đến nhà
ông S. Xét đại diện UBND phường T cán bộ địa chính của phường những
người không chuyên môn về quản chất lượng công trình xây dựng nên không
được coi là căn cứ để giải quyết vụ án. Để cơ sở giải quyết vụ án, cần phải yêu
cầu đương sự cung cấp các căn cpháp lý, kết luận trưng cầu giám định chuyên
ngành xây dựng của các quan, đơn vchuyên môn về thủ tục pháp xây
dựng, nguyên vật liệu xây dựng, kết cấu của các căn nhà việc tháo dỡ cắt rời
phần đà, sàn, cột căn nhà của ông P theo yêu cầu của ông S đxác định thực
hiện được hay không, hậu quả của việc cắt rời này gây ảnh hưởng đến chính căn
nhà của ông S và ông Phương thế N1. Khi có đủ các căn cứ này mới đủ sở giải
quyết vụ án.
Tòa án cấp thẩm chưa tiến hành các thủ tục trên thu thập chứng cứ
chưa đầy đủ để giải quyết vụ án. Quyết định của bản án án làm ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và không giải quyết triệt để vụ án.
Do việc thu thập chứng cứ chưa được thực hiện đầy đủ tại phiên tòa
phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên cần hủy một phần bản án
thẩm giải quyết yêu cầu buộc tháo dỡ bất động sản liền kề giữa các bên đương sự,
giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân khu vực 9- Đồng Nai giải quyết lại theo
thủ tục chung.
Do đó kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận mt phần.
[3] Án pdân sự thẩm chi phí tố tụng: sẽ được xem xét giải quyết
khi vụ án được giải quyết lại.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: nguyên đơn không phải chịu.
[5] Quan điểm của Đại diện VKS nhân dân tỉnh Đ căn cứ được HĐXX
chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
7
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Văn Phú S;
Hủy một phần Bản án dân sự thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 20/6/2025
của Toà án nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình phước (nayToà án nhân dân
khu vực 9- Đồng Nai) về việc giải quyết yêu cầu buộc tháo dỡ bất động sản liền
kề.
Giao hồ sơ vụ án về cho Toà án nhân dân khu vực 9- Đồng Nai thụ lý, giải
quyết lại theo thủ tục chung.
Án phí dân s thẩm và chi phí t tng: s đưc xem xét x lý khi v án
đưc gii quyết li.
Án phí dân sự phúc thẩm: ông Văn Phú S không phải chịu; Hoàn trả cho
ông S số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai
thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0028685 ngày 14/7/2025 của Thi hành
án dân sự tỉnh Đồng Nai (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9- Đồng Nai).
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật theo quy định.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND khu vực 9- Đồng Nai;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 9 Đồng
Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Viết Hòa
Tải về
Bản án số 663/2025/DS-PT Bản án số 663/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 663/2025/DS-PT Bản án số 663/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất