Bản án số 656/2026/DS-PT ngày 21/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 656/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 656/2026/DS-PT ngày 21/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 656/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Võ Công Tạo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 656/2026/DS-PT Bản án số 656/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 656/2026/DS-PT Bản án số 656/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 656/2026/DS-PT
Ngày 21-7-2026
V/v tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
và tài sản trên đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Văn Thông
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Phạm Thị Thu Trang
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thư Linh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Lê Thị Ngọc Phấn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 243/2026/TLPT-DS ngày 02 tháng 4 năm
2026 về “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 03/2026/DS-ST ngày 28/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 557/2026/QĐ-PT ngày
01/6/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 733/QĐ-HPT ngày 01/7/2026 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Thị H2, sinh năm 1963. Địa chỉ: khóm T, phường N, tỉnh Vĩnh
Long; có mặt.
1.2. Ông Văn C, sinh năm 1969. Địa chỉ: khóm T, phường N, tỉnh Vĩnh
Long; có mặt.
1.3. Ông Văn T, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp T, N, tỉnh Vĩnh Long;
mặt.
1.4. Thị Diệu N, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp T, N, tỉnh Vĩnh Long;
có mặt.
2. Bị đơn: Ông Công T1, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp T, N, tỉnh Vĩnh
Long; có mặt.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông Công T1: Ông Nguyễn Hoàng V,
sinh năm 1992. Địa chỉ: Số A, Quốc lộ F, ấp P, xã B, tỉnh Vĩnh Long; có mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Võ Thị Diệu T2, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp T, N, tỉnh Vĩnh Long;
có mặt.
3.2. Đồng Thị L, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp T, N, tỉnh Vĩnh Long;
đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Người có kháng cáo: Bị đơn ông Công T1, người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan bà Đồng Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đngày 08-02-2023, các bản tự khai cùng ngày 25-01-
2024, và trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm các nguyên đơn Thị
H2, ông Văn C, ông Văn T, bà Võ Thị Diệu N, người đại diện theo ủy quyền
của các nguyên đơn là ông Sơn Thái H cùng trình bày:
Cha mẹ của các nguyên đơn cụ Văn T3 cụ Ngô Thị H1, cụ T3 đã
chết ngày 21-7-1994, cụ H1 đã chết ngày 26-02-2016. Cụ T3 và cụ H1 tất cả 06
người con gồm Võ Thị H2, Võ Văn C, Võ Văn T, Võ Thị Diệu T2, Công T1 và
Thị Diệu N. Ngoài ra, hai cụ không con chung, con riêng nào khác. Sinh
thời, hai cụ tạo lập được tài sản chung gồm quyền sdụng đất thửa số 473 diện
tích 3.320m
2
loại đất trồng lúa thửa số 474 diện tích 6.030m
2
loại đất - quả,
cùng tờ bản đồ số 5, cùng tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Nay là ấp
T, N, tỉnh Vĩnh Long), do hộ Ngô Thị H1 đứng tên quyền sử dụng, được Ủy
ban nhân dân huyện C (cũ) cấp giấy cùng ngày 13-7-1996. Hiện nay bản gốc hai
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà N và H2 đang cất giữ. Trên hai thửa
đất, cụ T3 và cụ H1 trồng nhiều cây dừa. Thửa số 473 ông T người trực tiếp
cải tạo đất lúa lên vườn, trồng thêm một số cây dừa. Trên thửa số 474 hiện
một căn nhà cấp 4, chuồng bò, một vài bụi chuối và bưởi của ông Công T1
trồng một căn nhà cột cây lợp của N; Diện tích còn lại của 02 thửa đất
tài sản trên đất hiện do ông T1 đang trực tiếp quản lý. Ông T1 hưởng huê lợi toàn
bộ dừa trên đất, hàng tháng chia tiền dừa khoảng 200.000 đồng đến 300.000
đồng cho bà N hưởng, nhưng từ tháng 02 năm 2023 khi phát sinh tranh chấp vụ án
chia thừa kế thì ông T1 không chia tiền dừa cho N nữa. Do anh chị em trong
gia đình nên trước nay không khiếu nại với địa phương về việc ông T1 chiếm giữ
hết huê lợi từ cây trồng;
Quá trình quản lý đất, ông T1 bỏ công sức để cải tạo đất hay không thì các
nguyên đơn không thấy, không biết. Trước khi cụ Trương chết tsống cùng các
người con, do các con cùng chăm sóc, phụng dưỡng cụ. Còn trước khi cụ H1 chết
thì sống chung bà N, cũng thời gian cụ H1 cùng ông T1, nhưng giữa mẹ con
sống chung không hòa thuận, cụ H1 mới về cùng với N cho đến khi qua đời.
Hiện nay, cụ T3 do ông C trực tiếp thờ cúng, cụ H1 do ông Trung trực T4 thờ
cúng. Hàng năm đám giỗ hai cụ do ông Tông C làm, các anh chị em về nhà hai
3
ông dự đám giỗ (Không mặt ông T1, còn việc ông T1 thờ cúng cha mẹ hay
không thì các nguyên đơn không biết. Hiện nay mộ cha mẹ được chôn cất trên đất
thửa số 474, ngoài ra không mộ ai khác, nmồ làm hàng rào cửa rào
nhưng ông T1 khóa cửa nên anh chị em không thể vào để viếng mộ cha mẹ được.
Cụ T3 và cụ H1 chết không để lại di chúc, anh chị em trong gia đình đã nhiều lần
yêu cầu ông T1 chia thừa kế di sản của cha mẹ chết để lại, nhưng ông T1 không
đồng ý;
Trước đây khi cha mẹ còn sống chia cho ông C 02 công đất chia cho
ông T hơn 2,6 công đất, đã sang tên xong. Đối với H2, T2, N chưa được
cha mẹ chia tài sản. Ông T1 con trai út tự ý chiếm giữ đất đai tài sản cha mẹ,
chưa được chia riêng tài sản. Cha mẹ còn sống nợ tiền bên ngoài khoảng
40.000.000 đồng, nhưng ông T1 đã nhận lãnh 02 chiếc ghe của cha mẹ để trả toàn
bộ nợ xong;
Nay các nguyên đơn yêu cầu giải quyết: Giao ông T1 hưởng thừa kế các phần
đất trên đồ khu đất hiệu B và A1 gồm diện tích 920,5m
2
+ 1.161,2m
2
=
2.081,7m
2
; Giao T2 hưởng thừa kế các phần đất trên đồ khu đất hiệu B3
A6 gồm diện tích 509m
2
+ 491m
2
= 1.000m
2
; Các phần đất còn lại trên đồ
khu đất hiệu B1, A2, B2, A3, A4, A5 gồm diện tích 842,5m
2
+ 499,9m
2
+
425,9m
2
+ 576,6m
2
+ 972,3m
2
+ 944,8m
2
= 4.262m
2
thì 04 nguyên đơn yêu cầu
được hưởng chung, tự phân chia diện ch đất với nhau, không yêu cầu chia tách
riêng từng phần đất của từng người cụ thể. Đối với tài sản gắn liền trên 4.262m
2
đất
này thì nguyên đơn xin được hưởng luôn, không trả giá trị cho ai, kể cả nếu cây
trồng hay vật kiến trúc của ông T1 trên đất. Phần diện tích nguyên đơn yêu cầu
hưởng chênh lệch ít hơn so với nội dung đơn kiện thì phía nguyên đơn t
nguyện rút lại một phần yêu cầu. Đối với nhà mồ và một lối đi vào nhà mồ ký hiệu
A trên Sơ đồ khu đất diện tích 128,5m
2
phía nguyên đơn yêu cầu giao cho cả 6 anh
em gồm 04 nguyên đơn, ông T1 T2 cùng đứng tên quyền sử dụng chung để
anh em thuận tiện đi lại trông coi hương hỏa mồ mã cha mẹ.
* Tại đơn phản tố ngày 19-3-2024, bản tự khai ngày 07-3-2024 trong quá
trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Công T1 người đại diện hợp pháp của bị
đơn là ông Nguyễn Hoàng V cùng trình bày:
Ông T1 thống nhất các thông tin về cha mẹ và các người con chung, cha mẹ
không con riêng nào khác. Đối với yêu cầu khởi kiện của c nguyên đơn, yêu
cầu độc lập của bà T2 vị trí chiết tách thửa bổ sung thì ông T1 không đồng ý;
Đối với ông Văn C, trước đây khi cụ T3, cụ H1 còn sống đã cho 02 công
ruộng tại ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (cũ). Sau đó, ông C đã bán đất để mua
lại đất khác tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (cũ). Ông C đã được cha mẹ
chia tài sản xong, nên nay hai thửa đất số 473, 474 không quyền yêu cầu chia
nữa;
Đối với ông Võ Văn T, trước đây cụ T3, cụ H1 đã cho 2.600 đất lúa vị trí giáp
ranh thửa số 473 tại ấp T, Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (cũ). Ông T đã được cha
mẹ lúc còn sống chia tài sản xong, nay hai thửa đất số 473, 474 không quyền
yêu cầu chia nữa;
4
Đối với các Thị Diệu H2, Thị Diệu N, Võ Thị Diệu T2, lúc cụ T3,
cụ H1 còn sống có ý định chia phần mỗi người 1.000m
2
đất (tổng cộng 03 người là
3.000m
2
) theo hướng chia từ kênh xẻ dọc từ ngoài vào trong cho đến hết đất đ
mỗi người đều mặt tiền (tức mỗi người được một phần diện tích thửa số 473
một phần diện tích thửa số 474), chiều ngang mặt tiền mỗi người khoảng 14,2
mét, chiều dài khoảng 70 mét. Thứ tự chia hưởng theo hướng mặt tiền từ kênh nhìn
vào, từ phải qua trái N, H2, T2. Nhưng sau khi cha mẹ chết đến trước
khi nhận được thông báo thụ vụ án của Tòa án, các không yêu cầu ông T1
chia đất. Trong 3.000m
2
này trừ phần diện tích căn nhà của N đang thì diện
tích còn lại của 02 thửa đất hiện do ông T1 vợ Đồng Thị L trực tiếp quản
lý, sử dụng gìn giữ. Sau khi cha mẹ qua đời, ông T1 quản đất trồng dừa.
Đến khi ông Tạo L1 gia đình với bà L thì hai vợ chồng cùng nhau dùng tiền
công sức chung để cải tạo, bón phân, bồi bùn, chăm sóc cây cho đến nay. Quá trình
hưởng hoa lợi từ cây trồng trên đất, mặc dừa do ông T1 trồng, nhưng ông T1
vẫn đồng ý chia tiền dừa cho các chị em gái tương ứng diện tích đất 1.000m
2
ý
nguyện cha mẹ cho họ;
Ông T1 con trai út, trực tiếp phụng dưỡng cha mẹ khi tuổi già, là người
đang thờ cúng cha mẹ, quản chăm sóc mồ mã, đồng thời thay mặt gia đình giao
thiệp đám tiệc với hàng xóm, địa phương. Nên cần ưu tiên cho ông T1 được hưởng
thừa kế nhiều
đất mới công bằng đúng với ý kiến cha mẹ. Lúc còn sống cha mẹ
cũng nói rõ việc chia đất cho ông T1 hưởng gồm cả nền mộ, khi này các con và
người thân cận trong gia đình đều biết, đồng ý. Ngoài ra, sau khi cha mẹ chết có để
lại một số nợ lớn gồm nợ Ngân hàng 35.000.000 đồng, nợ Tám C1 08 chỉ vàng
24K, nợ chú Út Nghe 01 cây vàng 24K, ông T1 đã phải cố gắng làm kiếm tiền trả
thay hết số nợ của cha mẹ;
Nay ông T1 chỉ đồng ý chia cho bà N, H2, T2 mỗi người khoảng
1.000m
2
(theo số liệu đo đạc gồm các phần B2 + A3, A4, A5 trên đồ khu đất).
Ông T1 không đồng ý chia đất ở vị trí B3 + A6 bằng 1.000m
2
cho bà T2. Phần diện
tích còn lại của 02 thửa đất số 473 474 cha mẹ đã tặng cho ông T1, nên ông T1
yêu cầu được hưởng gồm luôn toàn bộ tài sản gắn liền trên đất. Khi này ông T1
không yêu cầu N, H2, T2 trả giá trị đất hay cây trồng lại cho ông T1.
Trường hợp Tòa án phân chia thừa kế hai thửa số 473, 474 theo pháp luật không
như đề xuất của ông T1, thì ông T1 yêu cầu người nào được chia kỷ phần thừa kế
phải bồi hoàn giá trị đất cho ông T1 bằng 30% giá trị diện tích đất họ được hưởng
đối với cây trồng, công trình kiến trúc trên đất phải trả gtrị đầy đủ theo kết
quả thẩm định giá cho ông T1. Riêng đối với nhà mồ và lối đi là phần A trên Sơ đồ
khu đất, ông T1 yêu cầu được đứng tên quyền sử dụng riêng cam kết tạo mọi
điều kiện thuận lợi để anh chị em vào trông coi hương hỏa mồ cha mẹ, chứ
không đồng ý 06 anh chị em cùng đứng tên.
* Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 17-11-2025, các bản tự khai ngày 11-3-2024,
21-3-2024 trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Võ Thị Diệu T2 trình bày:
thống nhất thông tin về cha mẹ cha mẹ chỉ 06 người con chung.
một trong 06 người con của T3, cụ H1. Vhai thửa đất số 473 và 474
5
thống nhất xác định di sản của cha mẹ chết để lại. Cha mẹ trồng sẵn nhiều
cây dừa trên đất, qtrình vợ chồng ông Công T1, Đồng Thị L sinh sống
trên đất trồng thêm dừa ông Văn T (anh của bà) cũng trồng dừa trên
đất, nhưng không biết mỗi người trồng bao nhiêu cây. biết vợ chồng ông
T1 cũng bỏ nhiều công sức để cải tạo tạo, san lắp cát thêm trên đất cho bằng
phẳng đxây chuồng trại chăn nuôi. Nhưng đối với thửa đất s473 thì từ đất lúa
lên vườn do ông T cải tạo đất. Về việc nợ của cha mẹ thì chỉ biết số nợ Ngân
hàng đã trả xong, chứ không biết các khoản nợ khác, cũng không biết trả
nợ bằng tiền của ai, chỉ biết thời điểm trả nợ ông T1 đang sống cùng cụ H1.
Trước khi cụ H1 chết có thời gian sống cùng ông T1, nhưng do mẹ con không hợp
ý, nên cụ H1 đã về sống cùng em gái Thị Diệu N đến khi cụ H1 qua
đời. Hiện nay cụ T3 do ông C thờ cúng, cụ H1 do ông T thờ cúng. Còn ông T1 sau
này cũng thờ cúng cụ H1. Mồ cha mẹ do ông T1 hiện đang trông coi nhưng
khóa cửa nên không ai vào được;
Trong vụ án này, yêu cầu độc lập xin chia hưởng 1.000m
2
đất cùng cây
trồng gắn liền trên đất trong di sản do cha mẹ chết để lại. Vị trí đất trên đồ khu
đất ký hiệu B3 + A6 gồm diện tích 509m
2
+ 491m
2
= 1.000m
2
. Kỷ phần thừa kế bà
xin hưởng có chênh lệch giá trị so với kỷ phần chia cho những anh chị em khác thì
vẫn thống nhất, không yêu cầu khác. Đối với nhà mồ và lối đi phần A trên
đồ khu đất cũng thống nhất cả 06 anh em cùng đứng tên đất chung chứ
không giao nhân người nào đứng tên đthuận tiện đi lại, trông coi hương hỏa
mồ mã cha mẹ.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn Đồng Thị L
trình bày: vông Công T1, hoàn toàn thống nhất trình bày của chồng
ông Công T1, không đồng ý chia đất theo yêu cầu của nguyên đơn, chỉ
đồng ý chia đất theo ý kiến của ông T1. Bà không có yêu cầu độc lập.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Vĩnh Long đã đưa
vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa thẩm; các đương sự mặt thống nhất kết quả khảo sát, đo
đạc đất theo ng văn số 545/CNHCL ngày 25-11-2024 Công n số
282/CNKV9 ngày 12-12-2025 của Văn phòng đăng đất đai tỉnh T - Chi nhánh
huyện C (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ - Vĩnh Long) cung cấp; riêng phía bị đơn
không đồng ý chiết tách chia thừa kế theo yêu cầu của các nguyên đơn. Qua đo
đạc, diện tích đất của hai thửa số 473 474 đều bị giảm so với được cấp trong
giấy chứng nhận quyền sdụng, nên nguyên đơn, bị đơn tự nguyện rút một phần
yêu cầu diện tích chênh lệch so với đơn yêu cầu ban đầu. Các đương sự không nộp
thêm tài liệu, chứng cứ, không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Phía
nguyên đơn xuất trình bản gốc hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa số
473, 474 vẫn đang quản lý.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 03/2026/DS-ST ngày 28/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 - Vĩnh Long đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 5, 26, 39, 70, 91, 92, 144, 147, 157, 158, 165, 166, 227,
6
228, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 357, 468, 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660
của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 3, 4, 5, 11, 17, 25, 26, 31, 133, 136, 137, 236 của Lut
Đất đai năm 2024;
Căn cứ vào Nghị định số: 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của
Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp,
phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai;
Căn cứ vào Điều 17 Luật phí và lệ phí;
Căn cứ vào các Điều 12, 14, 15, 26, 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Chp nhn mt phn yêu cu khi kin ca Thị H2, ông Văn C,
ông Võ Văn T, Võ Thị Diệu N;
Chp nhn mt phn yêu cầu phản tố của ông Võ Công T1;
Chp nhn yêu cầu độc lập của bà Thị Diệu T2.
1. Xác định thửa đất số 473, diện tích theo giấy chứng nhận là 3.320m
2
, thực
đo theo hiện trạng 2.697,9m
2
, loại đất trồng lúa; thửa đất s 474, diện tích
theo giấy chứng nhận là 6.030m
2
, thực đo theo hiện trạng 4.774,3m
2
, loại đất ở -
quả, cả hai thửa đất cùng tờ bản đồ số 5, cùng tọa lạc tại ấp T, N, tỉnh Vĩnh
Long là di sản của c Võ Văn T3 và c Ngô Thị H1 chết để li.
2. Xác định hàng thừa kế của c Văn T3 và c Ngô Thị H1 gồm 06
người là: Thị H2, Văn C, Văn T, Thị Diệu T2, Công T1, Thị
Diệu N.
3. Chia thừa kế cho Thị H2, ông Văn C, ông Văn T bà
Thị Diệu N được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất tổng diện tích 4.262m
2
gồm
din tích 1.268,4m
2
, loại đất trồng a, thuộc một phần thửa số 473 và din tích
2.993,6m
2
,
loại đất - quả, thuộc một phần thửa s 474, cùng tờ bản đồ số 5, cùng
tọa lạc tại ấp T, xã N, tỉnh Vĩnh Long.
* Vị trí diện tích đất 1.268,4m
2
là các phần B1, B2 trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp các phần A2, A3 của thửa số 474 có s đo lần lượt
18,00 mét; 12,97 mét.
- Hướng tây giáp thửa số 468 có s đo lần lượt 14,74 mét; 1,04 mét; 11,94
mét và giáp thửa số 472 có số đo là 14,41 mét.
- Hướng nam giáp phần B3 của thửa số 473 có s đo là 36,74 mét.
- Hướng bắc giáp phần A4 của thửa số 474 có s đo là 32,48 mét.
* Vtrí diện tích đất 2.993,6m
2
là các phn A2, A3, A4, A5 trên đồ khu
7
đất:
- Hướng đông giáp rạch có s đo lần lượt là 3,83 mét; 13,09 mét; 12,87 mét;
9,55 mét; 7,01 mét; 6,11 mét; 4,13 mét.
- Hướng tây giáp các phần B1, B2 của thửa số 473 có s đo lần lượt 18,00
mét; 12,97 mét; giáp thửa số 468 s đo 12,95 mét; giáp thửa số 447 s đo
là 33,44 mét.
- Hướng nam giáp phần A6 của thửa số 474 số đo 47,22 mét giáp
phần B2 của thửa số 473 có s đo là 32,48 mét.
- Hướng bắc giáp rạch có s đo 24,38 mét giáp thửa số 447 có s đo
38,06 mét.
(Kèm theo Công văn s282/CNKV9 ngày 12-12-2025 đồ khu đất của
Chi nhánh Văn phòng Đ - Vĩnh Long).
Thị H2, ông Võ Văn C, ông Văn T Thị Diệu N được
hưởng i sn gn liền trên đất
gồm tài sản trên phần A5 của đồ khu đất không
tranh chấp; 15 (mười lăm) cây dừa 30 năm, 27 (hai mươi bảy) cây dừa 25 năm, 45
(bốn mươi lăm) cây dừa 10 năm, 03 (ba) cây bưởi 05 năm, 40 (bốn mươi) bụi
chuối, 01 (một) chuồng bò trên các phần A2, A3, A4, B1, B2 của Sơ đồ khu đất.
Buộc Thị H2, ông Văn C, ông Văn T, Thị Diệu N phải
thanh toán giá trị tài sản trên đất gồm 03 (ba) cây bưởi 05 năm, 40 (bốn mươi) bụi
chuối, 01 (một) chuồng cho ông Công T1 bằng số tiền 22.755.000 (hai
mươi hai triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn) đồng.
Buc ông Công T1, bà Đồng Thị L phải giao cho Thị H2, ông
Văn C, ông Văn T, Thị Diệu N quyền quản lý, sdụng kỷ phần thừa kế
din tích 1.268,4m
2
, thuộc một phần thửa số 473 và diện tích 2.993,6m
2
, thuộc một
phần thửa số 474 cùng tài sn gn lin với đất đã nêu; không được ngăn cản bà H2,
ông C, ông T, bà N sử dụng đất.
4. Chia thừa kế cho ông Võ Công T1 được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất
tổng diện tích 2.081,7m
2
gồm diện tích 920,5m
2
, loại đất trồng lúa, thuộc một
phần thửa số 473 và diện tích 1.161,2m
2
,
loại đất - quả, thuộc một phần thửa s
474, cùng tờ bản đồ số 5, cùng tọa lạc tại ấp T, N, tỉnh Vĩnh Long. Những tài
sản gắn liền trên đất này
thuộc sở hữu của ông Công T1. ông Công T1
được hưởng số tiền giá trị tài sản bằng 22.755.000 (hai mươi hai triệu bảy trăm
năm mươi lăm nghìn) đồng do Thị H2, ông Võ Văn C, ông Văn T
Võ Thị Diệu N thanh toán lại.
Ông Công T1 được đứng tên quyền sử dụng đất din tích 128,5m
2
, loại
đất - quả, thuộc một phần thửa s 474, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp T, N, tỉnh
Vĩnh Long. Nhưng do đây đất khuôn viên nmồ lối đi vào nhà mồ, nên
buộc ông Công T1 gia đình ông T1 không được ngăn cản thân tộc, dòng họ
thăm viếng, trông nom, gìn giữ, tu bổ phần đất này.
* Vị trí diện tích đất 920,5m
2
là phần B trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp phần A1 của thửa số 474 có s đo là 25,26 mét.
- Hướng tây giáp thửa số 472 có s đo là 26,66 mét.
8
- Hướng nam giáp rạch có số đo lần lượt là 6,94 mét; 18,25 mét; 11,53 mét.
- Hướng bắc giáp phần B3 của thửa số 473 có s đo 37,06 mét.
* Vị trí diện tích đất 1.161,2m
2
là phn A1 trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp phần A của thửa số 474 có s đo lần lượt 4,43 mét;
1,52 mét; 4,68 mét; 1,47 mét; 10,07 mét; 9,72 mét.
- Hướng tây giáp phần B của thửa số 473 có s đo là 25,26 mét.
- Hướng nam giáp rạch có số đo lần lượt là 16,38 mét; 16,33 mét; 12,19 mét;
9,32 mét và giáp phần A của thửa số 474 có s đo lần lượt là 4,72 mét; 6,29 mét.
- Hướng bắc giáp phần A6 của thửa số 474 có s đo 47,40 t giáp
phần A của thửa số 474 có số đo lần lượt là 4,48 mét; 5,91 mét.
* Vị trí diện tích đất 128,5m
2
là phần A trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp rạch có s đo lần lượt là 13,04 mét; 13,35 mét.
- Hướng tây giáp phần A1 của thửa s474 có s đo lần lượt 4,43 mét;
1,52 mét; 4,68 mét; 1,47 mét; 10,07 mét; 9,72 mét.
- Hướng nam giáp rạch số đo 5,45 mét và giáp phần A1 của thửa số
474 có s đo lần lượt là 4,72 mét; 6,29 mét.
- Hướng bắc giáp phần A6 của thửa số 474 có s đo là 3,04 mét và giáp phần
A1 của thửa số 474 có s đo lần lượt là 4,48 mét; 5,91 mét.
(Kèm theo Công văn s282/CNKV9 ngày 12-12-2025 đồ khu đất của
Chi nhánh Văn phòng Đ - Vĩnh Long).
Võ Thị H2, ông Võ Văn C, ông Võ Văn T, bà Thị Diệu N, Võ Thị
Diệu T2 không được ngăn cản ông Công T1 vợ Đồng Thị L sử dụng
đất.
Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Công T1 đối với
diện tích chênh lệch yêu cầu được chia hưởng thừa kế đã nêu theo đơn phản tố
phần yêu cầu các nguyên đơn thanh toán 30% tiền giá trị đất, cây dừa trên đất.
5. Chia thừa kế cho Thị Diệu T2 được hưởng thừa kế quyền sử dụng
đất tổng diện tích 1.000m
2
gồm diện tích 509m
2
, loại đất trồng lúa, thuộc một
phần thửa số 473 và din tích 491m
2
,
loại đất - quả, thuộc một phần thửa s 474,
cùng tờ bản đsố 5, cùng tọa lạc tại ấp T, N, tỉnh Vĩnh Long. Những cây trồng
gn liền trên đất này
thuộc sở hữu của bà Võ Thị Diệu T2.
* Vị trí diện tích đất 509m
2
là phần B3 trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp phần A6 của thửa số 474 có s đo là 12,39 mét.
- Hướng tây giáp thửa số 472 có s đo là 15,62 mét.
- Hướng nam giáp phần B của thửa số 473 có số đo là 37,06 mét.
- Hướng bắc giáp phần B1 của thửa số 473 có s đo 36,74 mét.
* Vị trí diện tích đất 491m
2
là phần A6 trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp rạch có s đo là 8,00 mét.
9
- Hướng tây giáp phần B3 của thửa số 473 có s đo là 12,39 mét.
- Hướng nam giáp phần A1 của thửa số 474 số đo 47,40 mét giáp
phần A của thửa số 474 có số đo là 3,04 mét.
- Hướng bắc giáp phần A2 của thửa số 474 có s đo là 47,22 mét.
(Kèm theo Công văn s282/CNKV9 ngày 12-12-2025 đồ khu đất của
Chi nhánh Văn phòng Đ - Vĩnh Long).
Thị H2, ông Văn C, ông Văn T, Thị Diệu N, ông
Công T1 và bà Đồng Thị L không được ngăn cản bà Võ Thị Diệu T2 sử dụng đất.
6. Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn đối với diện tích đất
tranh chấp chênh lệch giữa đo đạc thực địa so với nội dung đơn khởi kiện, đơn
phản tố, do các đương sự tự nguyện rút một phần.
7. Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật ối với các trường hợp quan
thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
8. Để đảm bo cho vic thi thành án, đề ngh các bên đương s gi nguyên
hin trạng đt tranh chp. Nghiêm cm việc đào phá, hy hoi làm thay đổi hin
trạng đất, không được chuyển nhượng hoc thc hin bt c hình thc nào khi
chưa được s cho phép của quan thm quyền. Khi án hiệu lực pháp luật
các bên có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục
chỉnh lý, thay đổi, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
9. V chi ph t tng:
9.1. Về chi phí thẩm định, định giá tài sản và cung cấp thông tin đất:
Thị H2, ông Văn C, ông Văn T, Thị Diệu N, ông
Công T1, Thị Diệu T2 mỗi người phải chịu chi phí thẩm định, định giá tài
sản 1.088.000 (một triệu không trăm tám mươi tám nghìn) đồng. H2, ông C,
ông T, N được hoàn trả lại số tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản, cung cấp
thông tin đất bằng 2.176.000 (hai triệu một trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng khi thu
được từ ông T1, T2 mỗi người 1.088.000 (một triệu không trăm tám mươi
tám nghìn) đồng tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
9.2. V án phí dân s sơ thẩm:
- Min nộp toàn bộ tiền án phín s sơ thẩm cho bà Võ Thị H2.
- Ông Văn C, ông Văn T, bà Võ Thị Diệu N phải chịu tiền án phí dân
sự thẩm 18.945.000 (mười tám triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng,
được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 6.750.000 (sáu triệu bảy trăm năm mươi
nghìn) đồng theo các Biên lai thu số 00017948, 00017949, 00017950 cùng ngày
23-10-2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long (cũ). Nên ông C, ông
T, N còn phải nộp thêm tiền án phí dân sthẩm 12.195.000 (mười hai
10
triệu một trăm chín mươi lăm nghìn) đồng.
- Ông Công T1 phải nộp tiền án phí dân sự thẩm 11.428.000 (mười
một triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp là
18.000.000 (mười tám triệu) đồng theo Biên lai thu số 0002463 ngày 19-3-2024 tại
Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long (cũ). Nên hoàn trả lại cho ông T1 tiền
tạm ứng án phí dân sthẩm 6.572.000 (sáu triệu năm trăm bảy mươi hai
nghìn) đồng.
- Thị Diệu T2 phải nộp tiền án phí dân sự thẩm là 5.299.000 (năm
triệu hai trăm chín mươi chín nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp
2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu số 0009667 ngày 17-11-2025 của Cục
thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Nên T2 còn phải nộp thêm tiền án phí dân
sự sơ thẩm là 3.299.000 (ba triệu hai trăm chín mươi chín nghìn) đồng.
- Đương sự còn lại trong vụ án không chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự
và việc thi hành Bản án theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/02/2026, bị đơn ông Công T1 người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà Đồng Thị L kháng cáo Bản án sơ thẩm, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm
sửa Bản án sơ thẩm:
- Không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Văn C, ông Văn T;
không chia thừa kế cho ông C, ông T được hưởng di sản;
- Không tuyên cho các nguyên đơn hưởng chung các phần B1, A2, B2, A3,
A4, A5 theo đồ khu đất kèm theo Công văn số 282/CNKV9 ngày 12/12/2025
của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực 9 - Vĩnh Long;
- Chia cho Thị H2 được hưởng phần A4 theo đồ khu đất kèm theo
Công văn số 282/CNKV9 ngày 12/12/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất
đai khu vực 9 - nh Long;
- Chia cho Thị Diệu N được hưởng phần A5 theo đkhu đất kèm
theo Công văn số 282/CNKV9 ngày 12/12/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai khu vực 9 - Vĩnh Long;
- Chia cho Thị Diệu T2 được hưởng phần B2 A3 theo đồ khu
đất kèm theo Công văn số 282/CNKV9 ngày 12/12/2025 của Chi nhánh Văn
phòng Đ - Vĩnh Long;
- Buộc Thị H2, Thị Diệu N, Thị Diệu T2 phải hoàn thoái cho
ông, bà 30% giá trị quyền sử dụng đất được chia và giá trị cây trồng trên đất do vợ
chồng ông, bà có công gìn giữ, tôn tạo làm tăng giá trị di sản.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các nguyên đơn Thị H2, ông Văn C, ông Văn T, Thị
Diệu N trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Công
T1 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đồng Thị L. Các nguyên đơn yêu
cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
11
- Bị đơn ông Công T1 người đại diện theo ủy quyền của ông T1
ông Nguyễn Hoàng V trình bày: Không đồng ý với Bản án thẩm; yêu cầu Hội
đồng xét x chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Công T1, sửa Bản án
thẩm. Ông Võ Công T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị Diệu T2 trình bày: Yêu
cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Kháng cáo của bị đơn ông Công T1 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Đồng Thị L còn trong hạn luật định, nội dung đảm bảo theo quy định tại
Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ
đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Căn cứ Điều 148; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng áp
phí và lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Công T1 người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đồng Thị L;
- Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 03/2026/DS-ST ngày 28/01/2026
của Tòa án nhân khu vực 11 - Vĩnh Long.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Công T1 và người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Đồng Thị L phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định
tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 do kháng cáo không
được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ đã được thẩm tra công khai
tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét
kháng cáo của bị đơn ông Công T1 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Đồng Thị L; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của bị đơn ông Công T1 người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà Đồng Thị L trong hạn 15 ngày theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, hình thức nội dung đơn kháng cáo đúng theo quy định tại Điều
272 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long thụ vụ án
theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định tại Điều 285 của Bộ luật Ttụng dân sự
năm 2015.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đồng
Thị L đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Đồng Thị L.
12
[2] Về nội dung:
Các nguyên đơn Thị H2, ông Văn C, ông Võ Văn T Thị
Diệu N khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Văn
T3 và cụ Ngô Thị H1 là quyền sử dụng thửa đất số 473 và thửa đất số 474, cùng tờ
bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp T, xã N, tỉnh
Vĩnh Long). Cụ thể: Các nguyên đơn yêu cầu được hưởng chung phần đất hiệu
B1, A2, B2, A3, A4 A5 trên đồ khu đất, tổng diện tích 4.262m²; không
đồng ý thanh toán giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế khác; không đồng ý
hoàn trả giá trị cây trồng hoặc công trình kiến trúc cho ông Công T1. Đối với
phần đất hiệu A, diện tích 128,5m² khu nhà mồ lối đi vào khu mộ của cụ
Văn T3 cụ Ngô Thị H1, các nguyên đơn yêu cầu giao tất cả các đồng thừa
kế cùng đứng tên quyền sử dụng để thuận tiện cho việc quản lý, thờ cúng chăm
sóc phần mộ của cha mẹ. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, các
nguyên đơn cung cấp chứng cứ Trích lục khai tử của cụ Ngô Thị H1 (bút lục số
23); Trích lục khai tử của cụ Võ Văn T3 (bút lục số 24); Bản sao giấy khai sinh của
Võ Thị H2, ông Võ Văn C, ông Văn T và bà Võ Thị Diệu N (bút lục số 4-7).
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị Diệu T2 yêu cầu độc
lập, yêu cầu chia di sản của cha mẹ cụ Văn T3 cụ Ngô Thị H1 để lại.
T2 yêu cầu được nhận 1.000m² đất cùng tài sản gắn liền với đất, tại vị trí hiệu
B3 A6 trên đồ khu đất. Trường hợp giá trị phần tài sản được nhận chênh
lệch ít hơn so với kỷ phần được nhận thì bà vẫn thống nhất không có yêu cầu gì
thêm.
Bị đơn ông Võ Công T1 thống nhất về quan hnhân thân, nguồn gốc 02 thửa
đất số 473 474 tài sản chung do cụ Văn T3 và cụ Ngô Thị H1 tạo lập
trong thời kỳ hôn nhân; ngoài tài sản này thì cụ H1 cụ T3 các phần đất khác
đã cho ông T và ông C, còn lại 02 thửa đất này đã giao cho ông. Tuy nhiên; ông T1
cũng đồng ý chia cho Võ Thị Diệu N, Thị H2 Thị Diệu T2 mỗi
người 1.000m² đất theo ý nguyện của cha mẹ, tương ứng với các phần đất hiệu
B2, A3, A4 A5 trên đồ khu đất; không đồng ý giao cho T2 phần đất
hiệu B3 và A6 tổng diện tích 1.000m². Trường hợp Tòa án xác định 02 thửa đất
số 474 473 di sản chia thừa kế thì ông T1 yêu cầu phản tố, yêu cầu
những người được hưởng di sản phải thanh toán cho ông 30% giá trị phần diện tích
đất được chia để ghi nhận công sức quản lý, tôn tạo, duy trì làm gia tăng giá trị
di sản; đồng thời yêu cầu các đồng thừa kế thanh toán giá trị cây trồng, vật kiến
trúc trên đất theo kết quả định giá. Đối với phần đất ký hiệu A trên sơ đồ khu đất là
khu nhà mồ lối đi vào mộ, ông T1 yêu cầu được đứng tên quyền sử dụng riêng
cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho các anh, chị, em vào thăm viếng, chăm sóc,
hương khói phần mộ của cha mẹ, không đồng ý việc 06 anh, chị, em cùng đứng tên
quyền sử dụng phần đất này.
Bản án thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn
yêu cầu độc lập của Thị Diệu T2 về việc chia di sản thừa kế của cụ Văn
T3 cụ Ngô Thị H1; chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Công T1.
Không đồng ý với Bản án sơ thẩm, bị đơn ông Công T1 và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Đồng Thị L kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa
13
Bản án sơ thẩm theo hướng: không chia thừa kế cho ông Võ Văn C và ông Võ Văn
T; yêu cầu phân chia lại vị tđất cho các đồng thừa kế khác; yêu cầu các đồng
thừa kế Thị H2, bà Thị Diệu N Thị Diệu T2 nghĩa vụ
hoàn trả 30% giá trị quyền sử dụng đất giá trị cây trồng trên đất cho vợ chồng
ông T1, bà L.
Xét thấy: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, lời trình bày của các
đương sự (bút lục số 155-160, 234-239, 240-246, 257-266) có cơ sở xác định:
Phần đất thuộc thửa đất số 473 thửa đất số 474, cùng tờ bản đồ số 05, tọa
lạc tại ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp T, xã N, tỉnh Vĩnh Long) là tài
sản chung của cụ Văn T3 và cụ Ngô Thị H1 tạo lập trong thời kỳ hôn nhân.
Ngày 13/7/1996, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh (cũ) cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho hộ cụ Ngô Thị H1, do cụ Ngô Thị H1 là đại
diện hộ đứng tên. Hiện 02 thửa đất này do vợ chồng ông Võ Công T1, bà Đồng Th
L quản lý, sử dụng. Quá trình giải quyết, ông T1 cho rằng khi còn sống đã được
cha mẹ phân chia giao cho vợ chồng ông, tuy nhiên ông T1 không chứng cứ
chứng minh có việc tặng cho này, hiện các đồng thừa kế khác không thừa nhận, do
đó không có căn cứ để xác định phần đất thuộc thửa số 473 và thửa số 474 đã được
tặng cho vợ chồng ông T1. Do vậy, phần đất thuộc thửa s473 và thửa số 474 vẫn
thuộc khối tài sản của cụ H1 và cụ T3.
Về di sản: Cụ Văn T3 chết ngày 21/7/1994 cụ Ngô Thị H1 chết ngày
26/02/2016, hai cụ chết không để lại di chúc. Do đó, tài sản của hai cụ quyền sử
dụng đất thuộc thửa đất số 473 và 474 được xác định là di sản thừa kế của cT3
cụ H1 để lại.
Về thời hiệu: Căn cứ Giấy chứng tử của cụ Võ Văn T3 và cụ Ngô Thị H1, căn
cứ Điều 611 Điều 623 Bộ luật Dân sự, thời điểm mở thừa kế của cụ T3 ngày
21/7/1994, của cụ H1 là ngày 26/02/2016. Tính đến thời điểm các nguyên đơn khởi
kiện yêu cầu chia thừa kế thì thời hiệu vẫn còn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của các
nguyên đơn thuộc trường hợp còn thời hiệu theo quy định tại Điều 611 Điều
623 Bộ luật Dân sự.
Về người thừa kế: Các đương sự đều xác nhận cụ Văn T3 cụ Ngô Thị
H1 có 06 người con chung, gồm: Bà Thị H2, ông Văn C, ông Văn T, bà
Thị Diệu T2, ông Công T1 bà Thị Diệu N. Ngoài những người này,
cụ T3 và cụ H1 không người con chung, con riêng nào khác. Căn cứ Điều 651
Bộ luật Dân sự, xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Văn T3 cụ Ngô Thị
H1 gồm 06 người con Thị H2, ông Văn C, ông Văn T, Thị
Diệu T2, ông Võ Công T1 và bà Võ Thị Diệu N.
Xét yêu cầu chia thừa kế: Di sản của cụ Võ Văn T3 và cụ Ngô Thị H1 là phần
đất thuộc thửa đất số 473 và thửa đất số 474. Cụ T3 và cụ H1 chết không để lại di
chúc; do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự thì di sản của hai cụ
được chia theo pháp luật những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng
phần di sản bằng nhau theo quy định tại khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự. Xét
thấy; Thị H2, ông Văn C, ông Văn T Thị Diệu N những
người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Văn T3 cụ Ngô Thị H1, quyền
khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật. Do đó, Tòa án cấp
14
sơ thẩm thụ lý, giải quyết và phân chia di sản thừa kế của cụ Võ Văn T3 và cụ Ngô
Thị H1 cho các đồng thừa kế phù hợp với quy định tại Điều 660 Bộ luật Dân s
năm 2015.
* Xét yêu cầu kháng cáo của ông Võ Công T1 và bà Đồng Thị L về việc không
chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Văn C ông Văn T: Xét thấy sau
khi xét xử sơ thẩm ông Công T1 bà Đồng Thị L kháng cáo yêu cầu sửa Bản
án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Văn C
ông Văn T, do hai ông đã được cụ T3 cụ H1 cho đất xong, cụ thể cho
ông C 02 công đất, cho ông T 2.600m² đất lúa nên không đồng ý chia thừa kế cho
ông C và ông T. Xét thấy, các đương sự đều thống nhất khi còn sống cụ T3 cụ
H1 đã tặng cho ông C ông T phần đất khác việc tặng cho này đã hoàn thành.
Tuy nhiên việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ T3, cụ H1 với ông C ông T
là giao dịch dân sự độc lập, được thực hiện khi các cụ còn sống, không phải là việc
phân chia di sản thừa kế. Mặt khác, ông T1 L không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ chứng minh việc tặng cho này nhằm thay thế quyền hưởng di sản thừa kế
của ông C ông T hoặc các ông đã từ chối nhận di sản theo quy định của pháp
luật. Do đó, việc ông C ông T đã được cha mẹ tặng cho tài sản khi còn sống
không làm chấm dứt quyền hưởng di sản thừa kế đối với phần di sản của cụ T3
cụ H1. Mặt khác, không quy định người đã được cha mẹ tặng cho tài sản khi còn
sống thì không được hưởng thừa kế đối với phần di sản còn lại của cha mẹ sau khi
chết. Do đó, ông Văn C và ông Võ Văn T vẫn thuộc trường hợp được hưởng
phần di sản như các đồng thừa kế khác. Vì vậy, kháng cáo của ông Võ Công T1
Đồng Thị L về việc yêu cầu không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông C và
ông T là không có căn cứ chấp nhận.
* Xét yêu cầu kháng cáo của Công T1 Đồng Thị L về việc yêu cầu
các đồng thừa kế khác thanh toán 30% giá trị quyền sử dụng đất: Xét thấy ông T1
người trực tiếp quản lý, sử dụng di sản sau khi cụ H1 chết, chăm sóc, cải tạo
đất, trồng thêm cây dừa quản lý phần mộ của cha mẹ. Tuy nhiên, ông T1 không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cụ thể chi phí đầu tư, nguồn tiền sử
dụng để cải tạo đất, giá trị công sức đóng góp hoặc chứng cứ chứng minh đã dùng
tài sản riêng để thanh toán các khoản ncủa cha mẹ. Mặt khác, trong thời gian
quản , sử dụng di sản, ông T1 người trực tiếp thụ hưởng toàn bộ hoa lợi phát
sinh từ di sản. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án, các đồng thừa kế còn lại
đều thống nhất giao cho ông T1 phần đất tổng diện ch 2.081,7m² (theo đồ
đo đạc phần đất hiệu B A1) cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất. Trong
khi đó, tổng diện tích di sản còn lại để phân chia sau khi trừ diện tích khu mộ và lối
đi chung là 7.215,2m² chia đều cho 06 đồng thừa kế thì mỗi kphần tương ứng
1.202,53m². Như vậy, diện tích đất thực tế ông T1 được nhận lớn hơn một kỷ phần
thừa kế theo quy định pháp luật, bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của ông T1.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận việc ông T1 yêu cầu các đồng thừa kế
khác thanh toán cho ông T1 30% giá trị quyền sử dụng đất đối với kỷ phần được
nhận là căn cứ và phù hợp Án lệ số 05/2016/AL ngày 06/4/2016. Đối với giá trị
cây trồng, công trình trên đất do ông T1 trồng xây dựng, Toà án cấp thẩm đã
xem xét và căn cứ và Biên bản thẩm định, buộc các đồng thừa kế khác hoàn trả giá
15
trị theo kết quả định giá là phù hợp. vậy, kháng cáo của ông T1 và L không
có căn cứ chấp nhận.
* Xét yêu cầu kháng cáo của ông Võ Công T1 Đồng Thị L về việc yêu
cầu phân chia lại vị trí đất: Xét thấy ông T1 L kháng cáo không đồng ý việc
Tòa án cấp thẩm giao cho Thị H2, ông Văn C, ông Văn T
Thị Diệu N được hưởng chung các phần đất tại vị trí hiệu B1, A2, B2, A3,
A4, A5. Đồng thời, ông T1 Luận đề N1 chia lại theo hướng giao cho H2
nhận phần A4, bà N nhận phần A5, T2 nhận các phần B2 và A3. Thấy rằng việc
phân chia di sản bằng hiện vật phải bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đồng thừa
kế, phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất và nguyện vọng của các đồng thừa
kế; quá trình giải quyết vụ ánH2, ông C, ông T N thống nhất nhận chung
phần diện tích đất được chia và tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án
phân chia cụ thể phần đất của từng người. Việc Tòa án cấp thẩm ghi nhận stự
nguyện của các đương sự phân chia di sản theo hiện trạng sử dụng đất phù
hợp quy định tại Điều 660 Bộ luật Dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông T1 và bà L
không cung cấp được căn cứ chứng minh phương án chia lại di sản theo ý kiến của
ông, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế phù hợp hơn
phương án Tòa án cấp thẩm đã quyết định; hơn nữa các đương sự khác đều
đồng ý không kháng cáo. Mặt khác, ông T1 L không chứng minh được
khó khăn, hay không thuận tiện trong quá trình sử dụng, quản lý phần ông T1 được
nhận. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông T1 và bà L.
Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy Bản án thẩm tuyên là căn cứ,
đúng quy định của pháp luật. Kháng cáo của bị đơn ông Công T1 người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đồng Thị L là không căn cứ chấp nhận, nên
Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[3] Đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long không
chấp nhận kháng cáo của ông Công T1 Động Thị L2, giữ nguyên Bản án
sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông
Công T1 và bà Đồng Thị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 148; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Công T1 người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đồng Thị L.
Giữ nguyên Bản án thẩm số: 03/2026/DS-ST ngày 28/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 - Vĩnh Long.
Căn cứ vào các Điều 5, 26, 39, 70, 91, 92, 144, 147, 157, 158, 165, 166, 227,
228, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 357, 468, 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660
của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 3, 4, 5, 11, 17, 25, 26, 31, 133, 136, 137, 236 của Lut
16
Đất đai năm 2024;
Căn cứ vào Nghị định số: 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của
Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp,
phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai;
Căn cứ vào Điều 17 Luật phí và lệ phí;
Căn cứ vào các Điều 12, 14, 15, 26, 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Chp nhn mt phn yêu cu khi kin ca bà Võ Thị H2, ông Võ Văn C, ông
Võ Văn T, bà Võ Thị Diệu N;
Chp nhn mt phn yêu cầu phản tố của ông Võ Công T1;
Chp nhn yêu cầu độc lập của bà Võ Thị Diệu T2.
1. Xác định thửa đất số 473, diện tích theo giấy chứng nhận 3.320m
2
, thực
đo theo hiện trạng 2.697,9m
2
, loại đất trồng lúa; thửa đất s 474, diện tích
theo giấy chứng nhận là 6.030m
2
, thực đo theo hiện trạng là 4.774,3m
2
, loại đất -
quả, cả hai thửa đất cùng tờ bản đồ số 5, cùng tọa lạc tại ấp T, N, tỉnh Vĩnh
Long là di sản của c Võ Văn T3 và c Ngô Thị H1 chết để li.
2. Xác định hàng thừa kế của c Văn T3 và c Ngô Thị H1 gồm 06
người là: Thị H2, Văn C, Văn T, Thị Diệu T2, Công T1, Thị
Diệu N.
3. Chia thừa kế cho Thị H2, ông Văn C, ông Văn T
Thị Diệu N được hưởng thừa kế quyền sdụng đất tổng diện tích 4.262m
2
gồm
din tích 1.268,4m
2
, loại đất trồng lúa, thuộc một phần thửa số 473 và din tích
2.993,6m
2
,
loại đất - quả, thuộc một phần thửa s 474, cùng tờ bản đồ số 5, cùng
tọa lạc tại ấp T, xã N, tỉnh Vĩnh Long.
* Vị trí diện tích đất 1.268,4m
2
là các phần B1, B2 trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp các phần A2, A3 của thửa số 474 có s đo lần lượt
18,00 mét; 12,97 mét.
- Hướng tây giáp thửa s468 có s đo lần lượt là 14,74 mét; 1,04 mét; 11,94
mét và giáp thửa số 472 có số đo là 14,41 mét.
- Hướng nam giáp phần B3 của thửa số 473 có s đo là 36,74 mét.
- Hướng bắc giáp phần A4 của thửa số 474 có s đo là 32,48 mét.
* Vị trí diện tích đất 2.993,6m
2
là các phần A2, A3, A4, A5 trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp rạch có s đo lần lượt 3,83 mét; 13,09 mét; 12,87 mét;
9,55 mét; 7,01 mét; 6,11 mét; 4,13 mét.
- Hướng tây giáp các phần B1, B2 của thửa số 473 có s đo lần lượt 18,00
mét; 12,97 mét; giáp thửa số 468 s đo 12,95 mét; giáp thửa số 447 s đo
là 33,44 mét.
17
- Hướng nam giáp phần A6 của thửa số 474 số đo 47,22 mét giáp
phần B2 của thửa số 473 có s đo là 32,48 mét.
- Hướng bắc giáp rạch có s đo 24,38 mét giáp thửa số 447 s đo
38,06 mét.
(Kèm theo Công văn số 282/CNKV9 ngày 12-12-2025 đồ khu đất của
Chi nhánh Văn phòng Đ - Vĩnh Long).
Thị H2, ông Văn C, ông Văn T Thị Diệu N được
hưởng i sn gn liền trên đất
gồm tài sản trên phần A5 của đồ khu đất không
tranh chấp; 15 (mười lăm) cây dừa 30 năm, 27 (hai mươi bảy) cây dừa 25 năm, 45
(bốn mươi lăm) cây dừa 10 năm, 03 (ba) cây bưởi 05 năm, 40 (bốn mươi) bụi
chuối, 01 (một) chuồng bò trên các phần A2, A3, A4, B1, B2 của Sơ đồ khu đất.
Buộc Thị H2, ông Văn C, ông Văn T, Thị Diệu N phải
thanh toán giá trị tài sản trên đất gồm 03 (ba) cây bưởi 05 năm, 40 (bốn mươi) bụi
chuối, 01 (một) chuồng cho ông Công T1 bằng số tiền 22.755.000 (hai
mươi hai triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn) đồng.
Buc ông Công T1, Đồng Thị L phải giao cho Thị H2, ông Võ
Văn C, ông Văn T, Thị Diệu N quyền quản lý, sdụng kỷ phần thừa kế
din tích 1.268,4m
2
, thuộc một phần thửa số 473 và diện tích 2.993,6m
2
, thuộc một
phần thửa số 474 cùng tài sn gn lin với đất đã nêu; không được ngăn cản bà H2,
ông C, ông T, bà N sử dụng đất.
4. Chia thừa kế cho ông Công T1 được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất
tổng diện tích 2.081,7m
2
gồm diện tích 920,5m
2
, loại đất trồng lúa, thuộc một
phần thửa số 473 và diện tích 1.161,2m
2
,
loại đất - quả, thuộc một phần thửa s
474, cùng tờ bản đồ s5, cùng tọa lạc tại ấp T, xã N, tỉnh Vĩnh Long. Những tài
sản gắn liền trên đất này
thuộc sở hữu của ông Công T1. ông Công T1
được hưởng số tiền giá trị tài sản bằng 22.755.000 (hai mươi hai triệu bảy trăm
năm mươi lăm nghìn) đồng do Thị H2, ông Văn C, ông Văn T và bà
Võ Thị Diệu N thanh toán lại.
Ông Võ Công T1 được đứng tên quyền sử dụng đất diện tích 128,5m
2
, loại đất
- quả, thuộc một phần thửa s 474, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp T, N, tỉnh
Vĩnh Long. Nhưng do đây đất khuôn viên nhà mồ lối đi vào nhà mồ, nên
buộc ông Công T1 gia đình ông T1 không được ngăn cản thân tộc, dòng họ
thăm viếng, trông nom, gìn giữ, tu bổ phần đất này.
* Vị trí diện tích đất 920,5m
2
là phần B trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp phần A1 của thửa số 474 có s đo là 25,26 mét.
- Hướng tây giáp thửa số 472 có s đo là 26,66 mét.
- Hướng nam giáp rạch có số đo lần lượt là 6,94 mét; 18,25 mét; 11,53 mét.
- Hướng bắc giáp phần B3 của thửa số 473 có s đo 37,06 mét.
* Vị trí diện tích đất 1.161,2m
2
là phn A1 trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp phần A của thửa số 474 có s đo lần lượt là 4,43 mét; 1,52
mét; 4,68 mét; 1,47 mét; 10,07 mét; 9,72 mét.
- Hướng tây giáp phần B của thửa số 473 có s đo là 25,26 mét.
18
- Hướng nam giáp rạch số đo lần lượt 16,38 mét; 16,33 mét; 12,19 mét;
9,32 mét và giáp phần A của thửa số 474 có s đo lần lượt là 4,72 mét; 6,29 mét.
- Hướng bắc giáp phần A6 của thửa số 474 s đo là 47,40 mét và giáp phần
A của thửa số 474 có số đo lần lượt là 4,48 mét; 5,91 mét.
* Vị trí diện tích đất 128,5m
2
là phần A trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp rạch có s đo lần lượt là 13,04 mét; 13,35 mét.
- Hướng tây giáp phần A1 của thửa số 474 có s đo lần lượt là 4,43 mét; 1,52
mét; 4,68 mét; 1,47 mét; 10,07 mét; 9,72 mét.
- Hướng nam giáp rạch số đo 5,45 mét và giáp phần A1 của thửa số 474
có s đo lần lượt là 4,72 mét; 6,29 mét.
- Hướng bắc giáp phần A6 của thửa s474 có s đo 3,04 mét giáp phần
A1 của thửa số 474 có s đo lần lượt là 4,48 mét; 5,91 mét.
(Kèm theo Công văn số 282/CNKV9 ngày 12-12-2025 đồ khu đất của
Chi nhánh Văn phòng Đ - Vĩnh Long).
Thị H2, ông Văn C, ông Văn T, Thị Diệu N, Thị
Diệu T2 không được ngăn cản ông Công T1 vợ Đồng Thị L sử dụng
đất.
Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Võ Công T1 đối với diện
tích chênh lệch yêu cầu được chia hưởng thừa kế đã nêu theo đơn phản tố phần
yêu cầu các nguyên đơn thanh toán 30% tiền giá trị đất, cây dừa trên đất.
5. Chia thừa kế cho Thị Diệu T2 được hưởng thừa kế quyền sử dụng
đất tổng diện tích 1.000m
2
gồm din tích 509m
2
, loại đất trồng lúa, thuộc một
phần thửa số 473 và din tích 491m
2
,
loại đất - quả, thuộc một phần thửa s 474,
cùng tờ bản đsố 5, cùng tọa lạc tại ấp T, N, tỉnh Vĩnh Long. Những cây trồng
gn liền trên đất này
thuộc sở hữu của bà Võ Thị Diệu T2.
* Vị trí diện tích đất 509m
2
là phần B3 trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp phần A6 của thửa số 474 có s đo là 12,39 mét.
- Hướng tây giáp thửa số 472 có s đo là 15,62 mét.
- Hướng nam giáp phần B của thửa số 473 có số đo là 37,06 mét.
- Hướng bắc giáp phần B1 của thửa số 473 có s đo 36,74 mét.
* Vị trí diện tích đất 491m
2
là phần A6 trên Sơ đồ khu đất:
- Hướng đông giáp rạch có s đo là 8,00 mét.
- Hướng tây giáp phần B3 của thửa số 473 có s đo là 12,39 mét.
- Hướng nam giáp phần A1 của thửa số 474 số đo là 47,40 mét giáp
phần A của thửa số 474 có số đo là 3,04 mét.
- Hướng bắc giáp phần A2 của thửa số 474 có s đo là 47,22 mét.
(Kèm theo Công văn số 282/CNKV9 ngày 12-12-2025 đồ khu đất của
Chi nhánh Văn phòng Đ - Vĩnh Long).
Thị H2, ông Văn C, ông Văn T, Thị Diệu N, ông
Công T1 và bà Đồng Thị L không được ngăn cản bà Võ Thị Diệu T2 sử dụng đất.
19
6. Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn đối với diện tích đất
tranh chấp chênh lệch giữa đo đạc thực địa so với nội dung đơn khởi kiện, đơn
phản tố, do các đương sự tự nguyện rút một phần.
7. Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ktừ ngày đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
8. Để đảm bo cho vic thi thành án, đ ngh các bên đương s gi nguyên
hin trạng đt tranh chp. Nghiêm cm việc đào phá, hy hoi làm thay đổi hin
trạng đất, không được chuyển nhượng hoc thc hin bt c hình thc nào khi
chưa được s cho phép của quan thm quyền. Khi án hiệu lực pháp luật
các bên có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục
chỉnh lý, thay đổi, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
9. V chi ph t tng:
9.1. Về chi phí thẩm định, định giá tài sản và cung cấp thông tin đất:
Thị H2, ông Văn C, ông Văn T, Thị Diệu N, ông
Công T1, Thị Diệu T2 mỗi người phải chịu chi phí thẩm định, định giá tài
sản 1.088.000 (một triệu không trăm tám mươi tám nghìn) đồng. H2, ông C,
ông T, N được hoàn trả lại số tiền chi pthẩm định, định giá tài sản, cung cấp
thông tin đất bằng 2.176.000 (hai triệu một trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng khi thu
được từ ông T1, T2 mỗi người 1.088.000 (một triệu không trăm tám mươi
tám nghìn) đồng tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
9.2. V án phí dân s sơ thẩm:
- Min nộp toàn bộ tiền án phín s sơ thẩm cho bà Võ Thị H2.
- Ông Văn C, ông Văn T, Thị Diệu N phải chịu tiền án phí dân
sự thẩm là 18.945.000 (mười tám triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng,
được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 6.750.000 (sáu triệu bảy trăm năm mươi
nghìn) đồng theo các Biên lai thu số 00017948, 00017949, 00017950 cùng ngày
23-10-2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long (cũ). Nên ông C, ông
T, N còn phải nộp thêm tiền án phí dân sự thẩm 12.195.000 (mười hai
triệu một trăm chín mươi lăm nghìn) đồng.
- Ông Công T1 phải nộp tiền án phí dân sự thẩm 11.428.000 (mười
một triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp
18.000.000 (mười tám triệu) đồng theo Biên lai thu số 0002463 ngày 19-3-2024 tại
Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long (cũ). Nên hoàn trả lại cho ông T1 tiền
tạm ứng án phí dân sthẩm là 6.572.000 (sáu triệu năm trăm bảy mươi hai
nghìn) đồng.
- Thị Diệu T2 phải nộp tiền án phí dân sự thẩm 5.299.000 (năm
triệu hai trăm chín mươi chín nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp
2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu số 0009667 ngày 17-11-2025 của Cục
thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Nên T2 còn phải nộp thêm tiền án phí dân
20
sự sơ thẩm là 3.299.000 (ba triệu hai trăm chín mươi chín nghìn) đồng.
- Đương sự còn lại trong vụ án không chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
9.3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Công T1 phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu
trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng
án phí, lệ phí Toà án số 0002977 ngày 13/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Vĩnh Long.
- Bà Đồng Thị L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ
vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án
phí, lệ phí Toà án số 0002976 ngày 13/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh
Long.
10. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 71, 72
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật
Thi hành án dân sự.
11. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 11 - Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 11 - Vĩnh Long;
- Phòng GĐKT, TT&THA TAND tỉnh;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tôn Văn Thông
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 656/2026/DS-PT Bản án số 656/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 656/2026/DS-PT Bản án số 656/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất