Bản án số 259/2026/DS-PT ngày 06/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 259/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 259/2026/DS-PT ngày 06/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 259/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đào Thị Bạch K tranh chấp hợp đồng vay tài sản với Nguyễn Thị B
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 259/2026/DS-PT
Ngày: 06 - 5 - 2026
“V/v Tranh chấp Hợp đồng vay
tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Ly;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn và bà Nguyễn Thị My My.
- Thư phiên tòa: Trương Cm Nhung Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Trần Thị Xuân Linh Byă – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk m
phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 18/2026/TLPT-DS ngày
05 tháng 02 năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự thm số: 52/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố 196/2026/QĐXXPT-DS ngày 23
tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên a số: 263/2026/QĐ-PT ngày 20
tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đào Thị Bạch K, sinh năm: 1966; Số căn cước:
066166000316; Địa chỉ: Thôn V, xã E, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Tổ dân phố C,
thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk). Có mặt.
2. Bị đơn: Nguyn Thị B, sinh m: 1969; Số căn cước:
066169000856; Địa chỉ: Thôn F, E, tỉnh Đắk Lắk (Địa chcũ: Thôn F, E,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk); Vắng mặt.
Người đại diện ủy quyền của bị đơn: Ông Đoàn Quang H, sinh năm:
1973, Số căn cước: 034073024965; Địa chỉ: Thôn H, E, tnh Đắk Lắk (Theo
văn bản ủy quyền ngày 01/4/2026); Có mặt.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Thị H1, sinh năm
1992; Số căn cước: 066192011052; Địa chỉ: Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Chỗ ở:
số B C, xã K tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.
2
Do có kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị B và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Võ Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện quá trình giải quyết ván nguyên đơn Đào Thị
Bạch K trình bày:
Ngày 14/01/2024 bị đơn Nguyn Thị B đến nhà nguyên đơn đặt vấn đề vay
của nguyên đơn số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đng) lãi suất là
3%/tháng thời hạn vay 05 ngày, mục đích vay để đáo hạn ngân hàng cho cháu bị
đơn Thị H1, nếu trả chậm phải chu lãi chậm trả và chi ptố tụng dân sự
theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn nói với B chỉ cho B vay tiền
B chịu trách nhiệm trả cho nguyên đơn; B đã nhất trí đứng ra vay tiền
chịu trách nhiệm. Nguyên đơn yêu cầu phải bảo đảm số tiền vay sử dụng
đúng mục đích trả nợ đúng hạn, bà B cam kết và đề nghị nguyên đơn chuyển
khoản tiền vào tài khoản bà Thị H1 để đáo hạn ngân hàng. Đến ngày
15/01/2024 nguyên đơn chuyển tiền cho vay theo yêu cầu của bà B. Hết thời hạn
05 ngày bị đơn không trả nợ cho nguyên đơn như đã cam kết trong giấy vay tiền.
Nguyên đơn đã điện thoại đòi nợ nhưng bị đơn không trả (có tin nhắn kèm theo).
vậy nguyên đơn bà Đào Thị Bạch K yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, buộc
bị đơn Nguyễn Thị B phải trsngốc 300.000.000 đồng (ba trăm triệu
đồng), tiền lãi quá hạn theo quy định tính từ ngày 19/01/2024 đến 20/02/2025
300.000.000 đồng x 30%/ năm x 13 tháng = 97.500.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau:
Đối với yêu cầu tính i suất trong hạn của khoản nợ 300.000.000 đồng tính từ
ngày 15/01/2024 đến 19/01/2024 là 20%/ năm.
Buộc Nguyễn Thị B phải chịu lãi suất quá hạn của khon vay
300.000.000 đồng bằng 150% lãi trong hạn ktừ ngày 20/01/2024 cho đến khi
bà B trả hết nợ gốc.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:
Giữa b đơn vi nguyên đơn quen biết nhau qua mối quan hệ của nhân viên
ngân hàng giới thiệu nguyên đơn thường xuyên cho vay nóng đáo hạn ngân
hàng. một lần nhân viên ngân hàng giới thiệu nguyên đơn tìm gặp bị đơn tại
ngân hàng đcho vay đáo hạn ngân hàng, chưa đến hn trả nợ nên bị đơn
không vay.
Còn giấy vay tiền ngày 14 tháng 01 m 2024, chữ viết trong giấy vay
không phải chữ của B, chính trong giấy y đsố tài khoản của B
cũng nhấn mạnh giá trị khi tiền vào tài khoản của Nguyễn Thị B
3
0321000617378 ngân ng V, nhưng bà K không chuyn tin như bà đã viết
trong giấy cho B Kim T làm việc trực tiếp với Thị H1 và K
đã đồng ý nhất trí cho bà Võ Thị H1 vay, vay bao nhiêu thì bà B không biết, tin
lãi Th H1 tự thỏa thuận với bà K, K biết rt số tiền trên đã
chuyển cho H1 vay và đã nhận tiền lãi củaH1. Để đảm bảo số tiền vay
H1 cũng thế chấp cho K một thẻ luật mang tên Thị H1, K đã tự
nguyện đồng ý nhận thluật của bà H1 để đảm bảo cho số nợ của H1 đã
vay của K. Chính vậy B yêu cầu Tòa án triệu tập Thị H1 để m
rõ nội dung vụ án và yêu cầu bà Kim sao K1 tài khoản ngân hàng đã chuyển tiền
cho bà H1 vay bao nhiêu, K đã lấy lãi của H1 bao nhiêu. Bà K phải
trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho tòa án trước khi khi kiện bà B. Đề nghị tòa án
xem xét hướng dẫn cho Đào Thị Bạch K chuyn tiền cho H1 vay thì
khởi kiện bà H1, chứ K không chuyển tiền cho B vay thì giấy vay trên
không có giá trị, B không chấp nhận không nợ K. Nếu K chng
cứ chuyển tiền cho H1 vay thì buộc H1 phải trách nhiệm trnợ cho
bà K đúng theo quy định của pháp luật.
Tại bản án dân sthẩm số 52/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đào Thị Bạch K đối với
bị đơn bà Nguyễn Thị B về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Về khoản nợ: Buộc bà Nguyễn ThB phi trả cho Đào Thị Bạch K số
tin 452.966.986 đồng (B1 trăm m mươi hai triệu chín trăm u mươi sáu
nghìn chín trăm tám mươi sáu đồng). Trong đó:
Nợ gốc là 300.000.000 đồng;
Nợ lãi 152.966.986 đồng.
Bà Nguyễn Thị B còn phải tiếp tục trả nợ lãi quá hạn đối với số nợ gốc theo
mức lãi bằng 150% lãi suất trong hạn cho đến khi trả xong số nợ gốc nói trên.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng và
quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 24/10/2025, bị đơn Nguyễn Thị B có đơn kháng cáo. Ngày
31/10/2025, người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan đơn kháng cáo. Cả hai
đều kháng cáo với nội dung đề nghị hủy toàn bộ Bản án dân sự thẩm số
52/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 4 Đắk Lắk vì
K đã chuyn tiền vào số tài khoản của bà Võ Thị H1 nên cho rằng tòa cấp
thẩm xác định Nguyn Th B phải tr n cho nguyên đơn bà K không
đúng.
4
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và
ngưi đại diện y quyền bđơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Thị H1 vắng mt nên không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu
ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự; Về nội dung: Đối với yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị H1 đề nghị
Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm; Đối với yêu cầu kháng cáo của bị
đơn Nguyễn Thị B đề nghHội đồng xét xử không chấp nhận kháng o của
bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ tại hồ ván được thẩm tra tại
phiên a; căn cứ vào kết qutranh tụng tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự,
Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
kháng cáo nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn quy định kháng cáo hợp
lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Người quyền lợi, nghĩa v liên quan Thị H1 kháng cáo đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên a phúc thẩm
ngày 06/5/2026 (không lý do trở ngại khách quan) thì bị coi như từ bviệc
kháng cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của B luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 289, Điều 295, Khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng
dân sự; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị H1.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị B cho rằng tiền vay
chuyển vào tài khoản của H1 nên không đồng ý việc nguyên đơn khi kiện
buộc bà B trả nợ.
Xét thấy: Ti “Giấy vay tiền” đề ngày 14/01/2024 thể hiện nội dung
Nguyễn ThB vay của Đào ThBạch K số tiền 300.000.000 đồng; nhưng
B không thừa nhận chữ ký và chữ viết của bà B trong giấy vay tiền; tuy nhiên tại
Kết luận giám định số 714/KL-KTHS ngày 29/9/2025 của Phòng K2 Công an
tỉnh Đ đã kết luận: Chữ ký, ch viết họ tên “Nguyễn Thị B” đặc biệt dòng
chữ “Em bê đứng ra vay giùm cho cháu thị H1 trả ngân Việt T2” dưới mc
nhận trên Giấy vay tiền do cùng một người (bà Nguyễn Thị B) viết
ra. Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đng vay tài sản
sự thỏa thuận giữa các n. Bà B tự tay viết nội dung “đứng ra vay giùm”
tên xác nhận được xem là đã xác lp giao dịch dân sự với cách bên
5
vay. Bị đơn bà B cho rằng Giấy vay tiền đề ngày 14/01/2024 ghi số i khoản
của bà B nhưng bà K lại chuyển tiền cho bà H1 nên bà B từ chối nghĩa vụ trả nợ.
Tuy nhiên cũng tại Giấy vay tiền có thể hiện nội dung “... Chuyển khoản tài
khoản H1 hoặc chuyển khoản vào số 0231000617378 ngân hàng V Nguyễn Thị
B, có giá trị khi tiền vào tài khoản”. Như vậy, việc nguyên đơn bà K chuyển tiền
vào tài khoản bà H1 đã được các bên thỏa thuận, thống nhất tại Giấy vay tiền.
Việc B vay tiền với mục đích gì không làm thay đổi bản chất việc B
ngưi trực tiếp giao dịch và chịu trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn.
Tại Đơn xin xét xử vng mặt đề ngày 29/9/2025 của Thị H1
trình bày đề nghị Tòa án xem t, giải quyết cho H1 được trả toàn bộ snợ
trong vụ án y cho K tại đơn kháng cáo cho rằng H1 đã nhiều lần
chuyển trả tiền cho Kim T1 gốc lãi vượt quá số tiền bà K đã cho H1
vay. Tuy nhiên, bà H1 không cung cấp được tài liệu, chứng c chứng minh đã
trả cho K khoản tiền vay gốc lãi; theo Điều 370 Bộ luật n sự quy định
về chuyển giao nghĩa vụ “1. Bên nghĩa vụ thể chuyển giao nghĩa vụ cho
ngưi thế nghĩa vụ nếu được bên quyền đồng ý,..” nguyên đơn K bên
cho vay không đồng ý nên không căn cứ để chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho
H1. Do đó bđơn B phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả ncho
nguyên đơn.
Bản án thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn
Nguyễn Thị B phải trả cho nguyên đơn bà Đào Thị Bạch K tổng số tiền
452.966.986 đồng (trong đó số tiền nợ gốc 300.000.000 đồng và số tiền lãi, tiền
lãi qhạn tính đến ngày xét xử thẩm 152.966.986 đồng) căn cứ,
đúng pháp luật. Bị đơn và người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo
nhưng không cung cấp thêm i liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu
cầu kháng cáo của mình.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Bị đơn Nguyễn Thị B kháng cáo không được chấp nhận;
ngưi quyền lợi, nghĩa vliên quan Thị H1 kng cáo nhưng vắng mặt,
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 289, Điều 295, Khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng
6
dân sự; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị H1.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị B. Giữ nguyên bản
án dân sự thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân dân Khu
vực 4 – Đắk Lắk.
Áp dụng Điều 147, Điều 148, Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 370, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 29 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị Bạch K.
Buộc Nguyễn Thị B phải trả cho Đào Thị Bạch K số tiền là
452.966.986 đồng (B1 trăm m mươi hai triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn
chín trăm tám mươi sáu đồng), Trong đó, số tiền nợ gốc 300.000.000 đồng,
tin nợ lãi là 152.966.986 đồng.
Bà Nguyễn Thị B còn phải tiếp tục trả nợ lãi quá hạn đối với số nợ gốc theo
mức lãi bằng 150% lãi suất trong hạn cho đến khi trả xong số nợ gốc nói trên.
2. Về án phí và chi phí tố tụng:
- Về án phí dân sự thẩm: Bị đơn Nguyễn ThB phải chịu 22.118.679
đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn Đào Thị Bạch K số
tin tạm ứng án phí 7.500.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án s0003013 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông
Pắc, nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Đắk Lắk.
- Về án phí dân s phúc thẩm: Bị đơn Nguyn Thị B và người quyền
lợi, nghĩa vliên quan Thị H1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự phúc thẩm, được khấu tr vào số tiền tạm ứng án phí theo Biên lai số
0003449 ngày 28/10/2025 và Biên lai số 0004506 ngày 14/11/2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
- Về chi phí tố tụng: Bị đơn Nguyễn Thị B phải chịu 4.000.000 đồng chi
phí giám định chữ ký, chữ viết. Nguyên đơn Đào Thị Bạch K đã nộp đủ tin tạm
ng chi phí tố tụng 4.000.000 đồng cho cơ quan giám định; Buộc bị đơn Nguyễn
Thị B phải hoàn trả cho nguyên đơn Đào Thị Bạch K số tiền 4.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khoản tiền nêu trên thì còn
7
phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điu 357 Bộ luật Dân sự năm 2015
cho đến khi thi hành xong.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có
quyn thỏa thun thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyn thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Vụ giám đốc, kiểm tra II-TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 4 - Đắk Lắk (2);
- Phòng THADS khu vực 4 - Đắk Lắk
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Quốc Ly
Tải về
Bản án số 259/2026/DS-PT Bản án số 259/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 259/2026/DS-PT Bản án số 259/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất