Bản án số 61/2023/DS-ST ngày 30-09-2023 của TAND TX. Đức Phổ (TAND tỉnh Quảng Ngãi) về về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
61-2023-DS-ST-DUC-PHO-QUANG-NGAI
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
61-2023-DS-ST-DUC-PHO-QUANG-NGAI
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 61/2023/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 61/2023/DS-ST ngày 30-09-2023 của TAND TX. Đức Phổ (TAND tỉnh Quảng Ngãi) về về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Đức Phổ (TAND tỉnh Quảng Ngãi) |
| Số hiệu: | 61/2023/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/09/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyễn Thị Xuân Ty và Lê Văn H, Huỳnh Thị Á tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ ĐỨC PHỔ Độc lập -Tự do -Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 61/2023/DS - ST
Ngày 30/9/2023
V/v: “Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Bà Trương Thị Hương;
2. Bà Huỳnh Thị Thùy Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Ngân, là Thư ký Tòa án nhân dân
thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
tham gia phiên tòa: Ông Trần Phương Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2023/TLST - DS ngày 22 tháng 5
năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 975/2023/QĐXXST – DS, ngày 25 tháng 8 năm 2023 và
Quyết định hoãn phiên tòa số: 1079/2023/QĐST – DS, ngày 14 tháng 9 năm
2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân Ty, sinh năm: 1970 và ông Đặng L,
sinh năm: 1970; cùng địa chỉ: Thôn Vùng 5, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Ông Lộc ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Xuân T theo văn bản ủy quyền đề
ngày 20/7/2023
- Bị đơn: Ông Lê Văn H và bà Huỳnh Thị Á; cùng địa chỉ: Tổ dân phố L,
phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
(Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đặng
L có mặt; bị đơn ông Lê Văn H và bà Huỳnh Thị Á vắng mặt tại phiên tòa lần
thứ 02 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/4/2023; các lời khai và tại phiên tòa
nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 17/01/2019, giữa vợ chồng bà T và vợ chồng bà Á có lập hợp đồng
2
mua bán thức ăn cho gia súc - gia cầm (cám), theo đó bà T, ông L phải cung cấp
cám cho bên ông H, bà Á để chăn nuôi gà, đến tháng 7/2019 là không cung cấp
cám nữa và hai bên đã chốt nợ vào ngày 13/7/2019 có viết giấy nhận nợ là bên
bà Á, ông H có nợ bà T, ông L tổng số tiền mua cám là 176.000.000đ (Một trăm
bảy mươi sáu triệu đồng). Theo như cam kết trong giấy nhận nợ ngày 13/7/2019
bà Á, ông H hứa trả lãi cho ông bà 5.000.000đ/tháng nhưng từ đó đến nay ông
H, bà Á không trả cho ông bà được đồng tiền gốc, lãi nào, dù ông bà đã đòi
nhiều lần.
Nay, ông L, bà T yêu cầu Tòa án buộc ông H, bà Á phải trả cho ông bà số
tiền mua thức ăn gia súc, gia cầm (cám cho gà) còn nợ là 176.000.000đ và tiền
lãi với mức lãi suất 1,125%/tháng, tính từ ngày 13/7/2019 đến ngày 17/3/2023 là
48 tháng với số tiền lãi 95.040.000đ. Tổng số tiền ông bà yêu cầu ông H, bà Á
phải trả là 271.040.000đ (Hai trăm bảy mươi mốt triệu không trăm bốn mươi
nghìn đồng).Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu HĐXX xem xét khoản tiền lãi
đúng theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Lê Văn H và bà Huỳnh Thị Á: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã
tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các các văn bản tố tụng khác cho bị
đơn ông H bà Á nhưng ông H, bà Á không có văn bản trình bày ý kiến đối với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan
đến việc giải quyết vụ án; không tham gia các buổi làm việc, phiên họp, phiên
tòa theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ
án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp
luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của
mình theo đúng quy định của pháp luật; riêng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan thực hiện không đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông L, bà T; buộc ông H, bà Á phải trả cho ông L, bà T số tiền nợ gốc
176.000.000đ; chấp nhận lãi suất chậm trả cho nguyên đơn. Ngoài ra, đương sự
còn chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem
xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
(HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Khi xác lập Hợp đồng mua bán tài sản thì ông Lê Văn H, bà Huỳnh
Thị Á cư trú tại: Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Hiện này,
ông Lê Văn H và bà Huỳnh Thị Á cư trú tại: Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ,
tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Đ thụ lý vụ án “Tranh chấp

3
hợp đồng mua bán tài sản” theo yêu cầu khởi kiện của ông Đặng L, bà Nguyễn
Thị Xuân T là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ
án và các các văn bản tố tụng khác cho bị đơn là ông Lê Văn H, bà Huỳnh Thị Á
theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng
bà Á, ông H không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên
phải chịu hậu quả theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Lê Văn H, bà Huỳnh Thị Á đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; nguyên đơn ông
Đặng L vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa. Do
đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 và khoản 3 Điều
228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét Hợp đồng mua bán
thứa ăn gia súc, gia cầm ngày 17/01/2019 được ký kết giữa hai chủ thể có đầy
đủ năng lực pháp luật, trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, không trái pháp
luật và đạo đức xã hội, hình thức của giao dịch được lập thành văn bản ... nên
hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết theo quy định tại khoản 1 Điều 401
Bộ luật dân sự, theo đó vợ chồng bà T sẽ giao thức ăn gia súc, gia cầm cho vợ
chồng bà Á để chăn nuôi, vợ chồng bà Á sẽ bán gà để trả nợ (theo lứa) hoặc khi
không còn mua cám nữa. Quá trình thực hiện hợp đồng, do vợ chồng bà Á
không có tiền trả nợ như thỏa thuận trong hợp đồng nên ngày 13/7/2019 các bên
đã lập Giấy nhận nợ; vợ chồng bà Á thừa nhận có nợ vợ chồng bà T số tiền mua
cám là 176.000.000đ và hứa trả lãi hàng tháng theo giấy nhận nợ là
5.000.000đ/tháng. Đây được xác định là hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy
định tại Điều 430 Bộ luật dân sự, việc vợ chồng bà Á không trả nợ cho vợ chồng
bà T là vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền theo quy định tại Điều 440 Bộ luật dân
sự. Nay, vợ chồng bà T yêu cầu vợ chồng bà Á có nghĩa vụ thanh toàn số tiền
còn nợ 176.000.000đ là có căn cứ.
[2.2] Đối với yêu cầu về tiền lãi: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi với
mức lãi suất 1,125%/tháng, tính từ ngày 13/7/2019 đến ngày 13/7/2023 với số
tiền lãi: 95.040.000đ. Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu HĐXX xem xét phần
lãi suất cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật: HĐXX xét thấy, đây được
xác định là hợp đồng mua bán hàng hóa chứ không phải hợp đồng vay tài sản
nên không có cở sở để xác định lãi suất. Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 440 Bộ luật
dân sự quy định “Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền
thì phải chịu lãi suất trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ
luật này”. Trong vụ án này, do phía bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của
mình thì phải chịu lãi suất chậm trả. Theo giấy nhận nợ ngày 13/7/2019 nội
dung thể hiện bên phía bị đơn đã được nguyên đơn yêu cầu trả nợ nhiều lần
nhưng bị đơn không trả được như đã hứa nên đã viết giấy nhận nợ ngày
4
13/7/2019 nên thời gian tính lãi chậm trả được tính từ ngày 13/7/2019 đến ngày
xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2023) là 50 tháng 17 ngày, với mức lãi suất chậm trả
là 0,83%/tháng, cụ thể:
- 176.000.000đ x 0,83%/tháng x 50 tháng = 73.040.000đ
- 176.000.000đ x 0,0276%/ngày x 17 ngày = 825.792đ
Như vậy, tổng tiền lãi chậm trả tính đến ngày 30/9/2023 là 73.865.792đ
Theo đó, bị đơn ông H, bà Á phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà T,
ông L số tiền mua cám còn nợ là 176.000.000đ và nợ lãi chậm trả là
73.865.792đ. Tổng cộng, ông H, bà Á phải trả cho ông L, bà T cả gốc lẫn lãi số
tiền 249.865.792đ (Hai trăm bốn mươi chín triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn
bảy trăm chín mươi hai đồng)
[2.3] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông L, bà T
được Tòa án chấp nhận nên ông H, bà Á phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên
giá trị tài sản mà bà Á, ông H phải trả cho ông L, bà T là: 249.865.792đ x 5%
=12.493.289đ (làm tròn 12.493.000đ). Nguyên đơn không phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn
đã nộp.
[3] Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử
nên chấp nhận.
[4] Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39; các Điều 147, 177, 227, 228, 235, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân
sự; các Điều 357, 401, 430, 431, 433, 434 và 440 Bộ luật dân sự; Điều 6, khoản
2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng L, bà Nguyễn Thị Xuân T.
Buộc ông Lê Văn H, bà Huỳnh Thị Á phải có nghĩa vụ trả cho ông Đặng L, bà
Nguyễn Thị Xuân T số tiền mua cám còn nợ 176.000.000đ và nợ lãi chậm trả số
tiền 73.865.792đ. Tổng cộng, ông H, bà Á phải trả cho ông L, bà T cả gốc lẫn lãi
số tiền 249.865.792đ (Hai trăm bốn mươi chín triệu tám trăm sáu mươi lăm
nghìn bảy trăm chín mươi hai đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật dân sự.
2. Về án phí: Ông Lê Văn H, bà Huỳnh Thị Á phải chịu 12.493.289đ (làm
tròn 12.493.000đ) (Mười hai triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông L, bà T 6.776.000đ (Sáu triệu bảy trăm bảy
5
mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông L, bà T đã nộp theo biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005599 ngày 18/5/2023 của Chi cục thi hành
án dân sự thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (30/9/2023); bị đơn vắng mặt tại phiên tòa
có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được
bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND thị xã Đ;
- Chi Cục THADS thị xã Đ;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Bích Vân
6
Các thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
7
8
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm