Bản án số 798/2026/DS-PT ngày 23/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 798/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 798/2026/DS-PT ngày 23/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 798/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa 01 phần bản án sơ thẩm về thời gian trả tiền thuê đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 798/2026/DS-PT
Ngày: 23-4-2026
V/v tranh chấp hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trúc.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Huỳnh;
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết.
- Tphiên tòa: Trần Hoài Thu TTòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 23 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ
số 117/2026/TLPT-DS ngày 08 tháng 01 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp
đồng thuê quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 292/2025/DS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1374/2026/QĐ-PT ngày
06 tháng 3 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 4431/2026/QĐ-
PT ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Trà Thị Hồng T, sinh năm 1976, địa chỉ: số A, khu phố Đ, phường T,
Thành phố Hồ C Minh. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
2. Bà Trà ThHồng P, sinh năm 1984; đa chỉ: số C, khu phố Đ, phường T,
Thành phố Hồ C Minh. Có mặt.
3. Bà Trà Thị Hồng N, sinh năm 1982; địa chỉ: khu phố E, xã X, tỉnh Đồng
Nai. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
4. Trà Thị Hồng T1, sinh năm 1978; địa chỉ: số B, khu phố Đ, phường
T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
2
5. Ông TVăn K, sinh năm 1974; địa chỉ: B, khu phố Đ, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Hồng P1, sinh năm 1982; địa chỉ: số I, Xóm G, khu phố T,
phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Hồng P1: Ông Nguyễn
Thế T2, sinh năm 1982; địa chỉ liên lạc: số I, đường số A, phường H, Thành phố
Hồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày
08/5/2025). Vắng mặt.
2. Bà Trịnh Thị Xuân M, sinh năm 1985, địa chỉ: số I, Xóm G, khu phố T,
phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bđơn Trịnh Thị Xuân M: Ông Nguyễn
Thế T2, sinh năm 1982; địa chỉ liên lạc: số I, đường số A, phường H, Thành phố
Hồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày
12/5/2025). Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH K1; địa chỉ: số I, N, khu phố T, phường D, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Đỗ Đức H, sinh năm 1964 - Luật sư Phòng
pháp chế công ty, địa chỉ: số I, N, khu phố T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh,
là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 25/8/2025). Có mặt.
2. Thị Ú, sinh năm 1950; địa chỉ: số B, khu phố Đ, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin giải quyết vng mt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Hồng P1 và bà Trịnh Thị Xuân M;
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH K1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên
tòa, nguyên đơn trình bày:
Trà Thị Hồng T, Trà Thị Hồng P, TThị Hồng N, Trà Thị
Hồng T1ông Trà Văn K (sau viết tắt là T, bà P, bà N, bà T1, ông K) là chủ
sở hữu các thửa đất số 5970, 5971, 5972, 5973, 5974, cùng tờ bản đồ số 4TDH.B,
toạ lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố
Đ, phường T, Thành phố Hồ CMinh) theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: số BG 984887 vào sổ số
CH06349 do Ủy ban nhân dân (sau viết tắt là UBND) thị xã D, tỉnh Bình Dương
cấp ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đứng tên ông TVăn
K; số BG 984888 vào sổ số CH06343 do UBND thị xã D, tỉnh Bình Dương cấp
ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đứng tên Trà Thị Hồng
3
T1; số BG 984889 vào sổ số CH06344 do UBND thị xã D, tỉnh Bình Dương cấp
ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đứng tên Trà Thị Hồng
N; số BG 984890 vào sổ số CH06346 do UBND thị xã D, tỉnh Bình Dương cấp
ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đứng tên Trà Thị Hồng
P; số BG 984891 vào sổ số CH06345 do UBND thị D, tỉnh Bình Dương cấp
ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đứng tên Trà Thị Hồng
T.
Ngày 15/4/2016, các ông, bà: Trà Thị Hồng T, Trà Thị Hồng P, Trà Thị
Hồng N, Trà Thị Hồng T1Trà Văn K ủy quyền cho bà Võ Thị Ú (sau viết tắt
là bà Ú) để Ú thực hiện việc cho thuê các thửa đất nói trên theo Hợp đồng ủy
quyền ngày 15/4/2016, được công chứng tại Văn phòng C. Đồng thời, cũng trong
ngày 15/4/2016, bà Ú thay mặt cho các ông, bà: T, P, N, T1, K (bên cho thuê) ký
Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Hồng P1 (bên thuê) tại Văn
phòng C.
Nội dung của Hợp đồng thuê như sau: Bên thuê đồng ý thuê 05 thửa đất số:
5970 (diện tích 236m
2
CLN), 5971 (diện tích 228,3m
2
CLN), 5972 (diện tích
220,8m
2
CLN), 5973 (diện tích 213m
2
CLN), 5974 (diện tích 226,3m
2
CLN), cùng
tờ bản đồ số 4TDH.B nêu trên với tổng diện tích đất thuê là 1.124,4m
2
. Thời hạn
5 năm ngay sau ký hợp đồng. Giá thuê ban đầu là 8.000.000 đồng/tháng, có thỏa
thuận tăng giá sau 2 năm t5–10%. Phương thức thanh toán bằng tiền mặt một
tháng một lần vào ngày 01 dương lịch hàng tháng. Tiền đặt cọc thuê 16.000.000
đồng. Mục đích thuê trồng cây. Tuy nhiên, sau khi bên cho thuê bàn giao đất
cho bên thuê thì bên thuê không trồng cây như trong hợp đồng đã ký kết mà bên
thuê làm chỗ giữ xe ô tô. Quá trình thực hiện hợp đồng thuê đất thì bên thuê đã
nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê đất đã được bên cho thuê nhiều lần
nhắc nhở, đã từng khởi kiện bên thuê ra Tòa án nhân dân thị An vào năm
2017 để yêu cầu chấm dứt hợp đồng cho thuê đất, nhưng bên thuê hứa hẹn xin
thanh toán tiền thuê đất còn thiếu tại Giấy cam kết ngày 07/11/2018 nên bên cho
thuê đã rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Khi hết hạn hợp đồng thuê đất vào ngày 15/4/2021, bên cho thuê không
muốn tiếp tục tiếp Hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất với bên thuê nữa. Vợ
chồng ông Nguyễn Hồng P1 Trịnh Thị Xuân M (sau viết tắt là ông P1,
M) có đến nhà gặp bà Ú và các con của bà Ú để xin tiếp tục thuê 05 thửa đất nêu
trên, Ú các con của Ú mới tiếp tục cho vợ chồng ông P1 M thuê
đất tiếp, nhưng giữa các bên không thêm hợp đồng cho thuê đất khác
chỉ thoả thuận bằng lời nói, thời hạn thuê là 01 năm, giá thuê 17.000.000
đồng/tháng, tiền thuê thanh toán vào ngày 01 đến 05 dương lịch hàng tháng. Quá
trình thuê thì ông P1 M trả tiền thuê đầy đủ, nhưng từ tháng 10/2023, ông
P1 M liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Dù được nhắc nhở, các khoản
thanh toán đều không đúng hạn và không đầy đủ cụ thể như sau:
- Ngày 20/11/2023: thanh toán 10.000.000 đồng, nợ 43.000.000 đồng tiền
thuê của tháng 9, tháng 10 và tháng 11 năm 2023.
4
- Ngày 06/12/2023: thanh toán 10.000.000 đồng, nợ 50.000.000 đồng tiền
thuê của tháng 10, tháng 11, tháng 12 năm 2023.
- Ngày 25/01/2024: thanh toán 10.000.000 đồng, nợ 57.000.000 đồng tiền
thuê của tháng 10, tháng 11 và tháng 12 năm 2023, tháng 01 năm 2024.
- Ngày 28/02/2024: thanh toán 50.000.000 đồng, còn nợ 24.000.000 đồng
tiền thuê tháng 01, tháng 02 năm 2024.
Đến ngày 14/9/2024, ông P1 và bà M không trả tiền thuê và cũng không di
dời tài sản. Do đó, bà T, P, bà N, bà T1 và ông K đã khởi kiện ông P1 bà M,
yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên chấm dứt Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất bằng lời nói vào ngày
15/4/2021 giữa các nguyên đơn bà T, bà P, bà N, bà T1ông K với ông Nguyễn
Hồng P1 và bà Trịnh Thị Xuân M;
- Buộc ông P1 M tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản giao trả lại các
quyền sử dụng đất choT, bà P, bà N, bà T1 và ông K.
- Yêu cầu ông P1 và bà M thanh toán toàn bộ tiền thuê còn thiếu gồm:
+ Thanh toán stiền thuê đất còn thiếu của tháng 01/2024 7.000.000
đồng (bảy triệu đồng);
+ Thanh toán số tiền thuê đất còn thiếu tháng 02/2024 đến thời điểm xét xử
thẩm tháng 9/2025, tạm tính 19 tháng x 17.000.000 đồng = 323.000.000
đồng (ba trăm hai mươi ba triệu đồng).
Tổng cộng số tiền thuê đất mà ông P1 và bà M phải thanh toán là
330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi triệu đồng).
Quá trình giải quyết vụ án, các nguyên đơn đã thay đổi một phần yêu cầu
khởi kiện không yêu cầu ông P1 bà M trách nhiệm thanh toán tiền lãi
chậm trả với s tiền 28.469.000 đồng.
Tại phiên tòa, các nguyên đơn xác định hợp đồng cho thuê đất mà các bên
đã vào ngày 15/4/2016 đã chấm dứt do hết thời hạn 05 năm nhưng các bên
không tiến hành thanh lý hợp đồng, sau đó tiếp tục thoả thuận cho thuê miệng và
cho thuê theo từng năm. Hợp đồng cho thuê công chứng thì chỉ mình ông
P1 thuê, còn hợp đồng cho thuê miệng thì cả ông P1 M đều trực tiếp thoả
thuận thuê đất, quá trình trả tiền thuê đất do M trực tiếp thanh toán bằng tiền
mặt, M nhắn tin zalo cho Ú về việc xin trả chậm tiền thuê đất nên nguyên
đơn vẫn giữ nguyên đối tượng bị khởi kiện ông P1 M. Đối với phần tài
sản bị đơn đã đầu trên đất không thể di dời được thì c nguyên đơn
đồng ý thanh toán lại cho bị đơn theo giá do Hội đồng định giá đã định giá vào
ngày 03/4/2025; đối với những tài sản di dời được thì yêu cầu bị đơn di dời ra
khỏi đất của các nguyên đơn đtrả lại đất cho các nguyên đơn. Đối với số tiền đặt
cọc của 02 tháng 34.000.000 đồng (17.000.000 đồng/tháng) thì các nguyên đơn
đồng ý trả lại cho bị đơn, nhưng phải khấu trừ vào số tiền mà bị đơn còn thiếu ca
5
các nguyên đơn. Trong trường hợp, Tòa án tuyên hợp đồng thuê quyền sdụng
đất vô hiệu thì các nguyên đơn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Hồng P1
và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thống nhất trình bày:
Từ năm 2016, ông P1 thuê khoảng 1.100m² đất tại khu phố Đ, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh của các nguyên đơn bà T, bà P, bà N, bà T1ông K do
Thị Ú đại diện, giá 8.000.000 đồng/tháng trong 05 năm đầu, đặt cọc
16.000.000 đồng, hợp đồng dài hạn 05 năm.
Sau đó, hết thời hạn thuê đất 05 năm, bà Ú và các con của bà Ú (tức là các
nguyên đơn) lấy lý do ông P1 đóng tiền trễ nên gia hạn từngm và tăng giá tiền
thuê mặt bằng là 17.000.000 đồng/tháng.
Trên diện ch đất thuê, ông P1 đã đầu gần 01 tỷ đồng xây dựng nhà
xưởng, lắp đặt máy móc để kinh doanh dịch vụ bãi xe, sửa chữa – bảo dưỡng ô
hoạt động ổn định suốt 09 năm liền. Từ tháng 02 đến tháng 5 năm 2024, do
tình hình kinh doanh gặp khó khăn, ông P1 nợ 04 tháng tiền thuê với tổng số tiền
75.000.000 đồng. Ông P1 có xin chậm trả, nhưng bà Ú hai người con (ông K,
T) không thông cảm còn tự ý khóa cổng garage ô tô, nhiều lần đuổi nhân
viên và bảo vệ ra khỏi xưởng, làm cho hoạt động kinh doanh garage ô tô bị đình
trệ, không nguồn thu nhập, làm cho garage ô tô lâm vào cảnh mất khả năng chi
trả kinh phí. Hành động cưỡng chế của Ú và các con đã gây thiệt hại lớn cho
hoạt đng kinh doanh của garage ô , là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng
trái pháp luật, hành vi cưỡng đoạt tài sản, xâm phạm chỗ ở của người khác, thiệt
hại về tài sản, cụ thể: đầu tư ban đầu vào xưởng: 1.100.000.000 đồng; doanh thu
bị mất do ngưng hoạt động 6 tháng: 900.000.000 đồng; thiệt hại về thương hiệu,
hội kinh doanh: 6.000.000.000 đồng; chi phí di dời, xây mới: 500.000.000
đồng; hỗ trợ người lao động: 120.000.000 đồng; lãi suất ngân hàng: 150.000.000
đồng; tài sản bị mất, hư hỏng do cưỡng chế: 100.000.000 đồng. Do đó, ông P1 đã
nộp đơn phản tố ngày 17/1/2025, yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Đề nghị Thị Ú đại diện phía nguyên đơn các nguyên đơn bồi
thường toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền là 8.870.000.000 đồng (tám tỷ tám trăm
bảy mươi triệu đồng);
- Đề nghị bà Võ Thị Ú đại diện phía nguyên đơn và các nguyên đơn trả lại
số tiền đã nhận cọc 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) bồi thường số
tiền tương đương với tiền nhận cc là 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng).
Tuy nhiên, sau khi Tòa án ra thông báo cho ông P1 nộp tiền tạm ứng án phí
thì ông P1 không có tiền đnộp và Tòa án đã ra thông báo trả lại đơn phản tố cho
ông P1.
do trên, ông P1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Ngoài ra, ông P1 còn đề nghị Tòa án chuyển h cho quan điều
tra làm rõ dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự trong vụ việc này.
6
Tại phiên tòa, người đại diện của bị đơn xác định là hợp đồng cho thuê đất
các bên đã vào ngày 15/4/2016 chưa chấm dứt, sau khi hết thời hạn 05 năm
nhưng các bên không tiến hành thanh hợp đồng cứ tiếp tục gia hạn hợp đồng
thuê, mà không tiến hành ký kết hợp đồng thuê mới, việc gia hạn hợp đồng thuê
này chỉ là thoả thuận miệng, giá thuê là 17.000.000 đồng/tháng. Do đó, hợp đồng
thuê này chỉ có ông P1 ký, còn M không có liên quan gì đến việc thuê đất, sở
dĩ bà M thanh toán tiền thuê cho bà Ú là do ông P1 nhờ bà M là vợ đến nhà bà Ú
thanh toán dùm cho ông P1. Tiền thanh toán tiền thuê đất là của ông P1. Vì vậy,
các nguyên đơn xác định M bị đơn là không đúng. Ông P1 xác định chỉ nợ
lại tiền thuê đất của các nguyên đơn số tiền 75.000.000 đồng, nhưng do hiện tại
ông P1 đang khó khăn về tài chính nên chưa thể thanh toán số tiền này được cho
các nguyên đơn. Ông P1 đề ngh được tiếp tục hợp đồng thuê đất.
Tại phiên tòa, ông P1 trình bày bổ sung: Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
vẫn hiệu lực pháp luật, do các nguyên đơn người liên quan Ú đã tự ý
khoá cửa garage ô nên gây cản trở cho việc kinh doanh của ông P1, nên đề nghị
Tòa án chuyển hồ sang quan điều tra đlàm hành vi trái pháp luật của
họ. Ông P1 xác định chỉ chiếm giữ mặt bằng đến tháng 6/2024, còn từ cuối tháng
6/2024 đến nay để trống mặt bằng không kinh doanh, ng không bàn giao đất
cho các nguyên đơn nên trong khoảng thời gian này ông P1 không phải chịu tiền
thuê mặt bằng. Trong trường hợp, Tòa án tuyên hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
vô hiệu thì ông P1 đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo li khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trịnh Thị Xuân M
và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Giữa M Ú, cũng như các con của Ú (tức các nguyên đơn)
hoàn toàn không có bất kỳ giao dịch nào. Sau khi tìm hiểu thì được biết chồng
M là ông P1 thuê đất của họ và có phát sinh tranh chấp, chứ M không liên
quan đến việc này. Tuy nhiên, vào ngày 14/9/2024, Trà Thị Hồng P đi cùng
một số người lạ mặt đến nhà bà M lớn tiếng đe dọa, đòi phải ra gặp bà M để nói
chuyện vtranh chấp thuê đất và do thời điểm đó ông P1 đi công tác xa nên M
không đồng ý gặp. Mặt khác, ngày 18/9/2024, bà Võ Thị Ú còn gửi thông báo đến
Trường học (nơi bà M đang làm việc) và yêu cầu bà M trả tiền thuê đất, việc này
làm cho M bị tổn hại đến danh dự, uy tín, nhân phẩm, đồng thời gây xáo trộn
cuộc sống của cá nhân bà M và gia đình bà M. Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình, M đã tố cáo đề nghị khởi tbà Ú cùng bà P đã có
hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ để gây tổn hại đến sức khỏe, tinh thần của
người khác.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của
Công ty TNHH K1 (sau viết tắt là Công ty K1) trình bày:
Chồng M ông P1 ký Hợp đồng thuê đất với các nguyên đơn từ ngày
15/04/2016 với diện tích khoảng 1.100m
2
đất tại khu phố Đ, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh, sau đó đầu vào nhà xưởng kinh doanh dịch vụ bãi xe, sửa
chữa, bảo dưỡng xe ô tđó cho đến nay. Ngày 01/6/2024, Thị Ú cùng
7
hai con Trà Văn K và Trà Thị Hồng T đã đến nhà xưởng, tiến hành kéo hàng
rào, khóa cửa, ngăn cản không cho nhân viên và khách hàng ra vào. Hành động
này đã khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty bị đình trệ, không thể
tiếp tục vận hành bình thường, đồng thời còn lấy đi nhiều máy c, thiết bị có giá
trị. M và ông P1 đã nhiều lần làm đơn trình báo Công an phường T Công
an thành phố D nhưng chưa được giải quyết. Hành vi của Ú và các con của bà
Ú đã gây thiệt hại lớn về tài chính, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp
của Công ty. Do đó, Công ty đã có đơn yêu cầu độc lập, yêu cầu bên nguyên đơn
bồi thường thiệt hại do lỗi cố ý đóng cửa nhà xưởng tổng cộng thiệt hại:
4.670.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó Tòa án đã trả lại đơn yêu cầu độc lập cho
Công ty K1 với do đơn yêu cầu độc lập nộp sau thời điểm Tòa án đã tiến
hành phiên hoà giải, tuy nhiên tại buổi hoà giải Công ty K1 vắng mặt, đáng lẽ ra
Tòa án phải hoãn lại buổi hoà giải đtriệu tập các đương sự tham gia buổi hoà
giải vào thời gian khác. Do đó, đơn yêu cầu độc lập của Công ty K1 vẫn đủ điều
kiện để Tòa án thụ lý. Trước yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn thì Công ty
K1 không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Ú trình bày:
Ngày 15/4/2016, ông P1 Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, công chứng
số 001454 tại Văn phòng C với T, P, N, bà T1 ông K do Ú đại diện.
Theo Hợp đồng thuê quyền sdụng đất, các thửa đất thuê bao gồm: thửa đất số
5970, tờ bản đồ số 4TDH.B, diện tích 236m
2
do ông Trà Văn K đứng tên; thửa
đất số 5972, tờ bản đsố 4TDH.B, diện tích 220,8m
2
do Trà Thị Hồng T1 đứng
tên; thửa đất số 5973, tờ bản đồ s 4TDH.B, diện tích 213m
2
doTrà Thị Hồng
N đứng tên; thửa đất số 5974, tờ bản đồ số 4TDH.B, diện tích 226,3m
2
do bà Trà
Thị Hồng P đứng tên; thửa đất số 5971, tờ bản đồ số 4TDH.B, diện tích 228,3m
2
do Trà Thị Hồng T đứng tên. Giá 8.000.000 đồng/tháng, thời hạn thuê 05
năm kể tngày Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất được công chứng và thỏa thuận
sau 02 năm sẽ tăng giá thuê từ 5% đến 10%, phương thức thanh toán bằng tiền
mặt vào ngày 01 dương lịch hàng tháng. Trong thời gian thuê đất, ông P1
M đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê đất như các nguyên đơn đã trình bày. Do đó,
bà Ú đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Đồng thời, bà Ú
xác định không quyền lợi liên quan đến số tiền thuê đất bị đơn còn nợ
nguyên đơn. Do nhà của Ú gần khu đất cho thuê nên bà Ú thấy bên thuê đã
ngưng hoạt động từ khoảng tháng 4/2024 nên việc ông P1 cho rằng Ú các
con của Ú đã tự ý khoá cửa garage ô tô và đuổi nhân viên, làm cho garage ô
không hoạt động được không đúng Ú cũng không nhận được giấy mời
nào từ Công an phường về việc giải quyết đơn tố cáo của bị đơn.
Tại Bản án dân sự thẩm số 292/2025/DS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Trà Thị
Hồng T, TThị Hồng P, Trà Thị Hồng N, Trà Thị Hồng T1, ông Trà
8
Văn K đối với ông Nguyễn Hồng P1 về việc tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất.
- Tuyên bố Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất bằng thoả thuận miệng vào
ngày 15/4/2021 giữa các nguyên đơn: bà Trà Thị Hồng T, bà Trà Thị Hồng P, bà
Trà Thị Hồng N, TThị Hồng T1, ông Trà Văn K với bị đơn ông Nguyễn
Hồng P1 vô hiệu.
- Buộc ông Nguyễn Hồng P1 Công ty TNHH K1 di chuyển các tài sản
hiện còn trên đất gồm: 01 nhà tạm (giống xưởng) diện tích 315,5m
2
, kết cấu:
khung cột kèo thép vách 01 bên (tường gạch xây), 01 phần tôn, mái tôn; bên trong
xưởng 01 container (loại 40 phích) được sử dụng làm văn phòng, đặt trên khung
cột sắt, cầu thang tay vịn bằng sắt; 01 nhà vệ sinh kết cấu: nền tông xi
măng, khung cột kèo sắt, cửa tôn sắt; 01 phần vách dựng bằng tôn lưới B40
diện tích, kích thước từng đoạn như sau: đoạn vách tôn bên hông phải (nhìn từ
đường đất vào) kích thước 35m x 1,9m = 66,5m
2
, đoạn vách tôn phía trước liền
kề với cổng rào ới B40 là 7,2m x 1,9m = 13,68m
2
, đoạn vách tôn nằm vị trí bên
hông phải phía trước container có diện tích 5m x 6m = 30m
2
, đoạn vách tôn nằm
vị trí bên phía sau bên hông container có diện tích 10m x 0,9m = 9m
2
, đoạn vách
tôn nằm vị trí bên trái của cổng lưới B40 diện tích 4m x 1,8m = 7,2m
2
; 01
khung sắt chữ A có 03 bánh xe di chuyển, phía trước có kích thước 4,3m x 2m =
8,6m
2
, 01 tủ sắt ra khỏi các thửa đất số 5970, 5971, 5972, 5973, 5974 (tờ bản đồ
số 4TDH.B) tại khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, để trả lại cho bà
Trà Thị Hồng T, TThị Hồng P, Trà Thị Hồng N, Trà Thị Hồng T1,
ông Trà Văn K diện tích đất 1.124,4m
2
thuộc thửa đất số 5970, 5971, 5972, 5973,
5974, cùng tờ bản đồ s4TDH.B, tolạc tại khu phố Đ, phường T, Thành phố H
Chí Minh theo các Giấy chứng nhận quyền sdụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất: số BG 984887 vào sổ số CH06349 do UBND thị xã D,
tỉnh Bình Dương cấp ngày 28/12/2011, đăng ký biến động ngày 23/3/2016 đứng
tên ông Trà Văn K; số BG 984888 vào sổ số CH06343 do UBND thị xã D, tỉnh
Bình Dương cấp ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đứng tên
Trà Thị Hồng T1; số BG 984889 vào sổ số CH06344 do UBND thị xã D, tỉnh
Bình Dương cấp ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đứng tên
Trà Thị Hồng N; số BG 984890 vào sổ sCH06346 do UBND thị D, tỉnh
Bình Dương cấp ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đứng tên
Trà Thị Hồng P; số BG 984891 vào sổ số CH06345 do UBND thị D, tỉnh
Bình Dương cấp ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đứng tên
Trà Thị Hồng T.
- Buộc ông Nguyễn Hồng P1 có trách nhiệm thanh toán tiền chiếm giữ đất
cho bà Trà Thị Hồng T, bà Trà Thị Hồng P, bà Trà Thị Hồng N, bà Trà Thị Hồng
T1, ông Trà Văn K số tiền 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi nghìn đồng).
- Buộc bà Trà Thị Hồng T, bà Trà Thị Hồng P, bà Trà Thị Hồng N, bà Trà
Thị Hồng T1, ông Trà Văn K trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Hồng
P1 số tiền 59.807.900 đồng (năm mươi chín triệu, tám trăm lẻ bảy nghìn, chín
9
trăm đồng). Trong đó: 34.000.000 đồng (ba mươi bốn triệu đồng) tiền đặt cọc
25.807.900 đồng (hai mươi lăm triệu, tám trăm lẻ bảy nghìn, chín trăm đồng) tiền
bồi thường tài sản trên đất. Sau khi thanh toán xong thì bà Trà Thị Hồng T, Trà
Thị Hồng P, bà Trà Thị Hồng N, Trà Thị Hồng T1, ông Trà Văn K được quyền
sở hữu sân nền nhựa có diện tích 315,5m
2
gắn liền trên đất. Có kèm theo bản vẽ.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án
xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của B luật Dân sự 2015.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn
Trà Thị Hồng T, TThị Hồng P, Trà Thị Hồng N, Trà Thị Hồng T1,
ông Trà Văn K đối với bị đơn bà Trịnh Thị Xuân M về việc tranh chấp hợp đồng
thuê quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng
cáo, trách nhiệm thi hành án của đương sự.
Ngày 20 tháng 10 năm 2025, bị đơn ông Nguyễn Hồng P1 và bà Trịnh Th
Xuân M đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
xem xét lại toàn bộ các tình tiết vụ án.
Ngày 21 tháng 10 năm 2025, Trịnh Thị Xuân M người đại diện theo
pháp luật của Công ty TNHH K1 (là người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan)
đơn kháng cáo toàn b bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án
sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn, người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Công ty TNHH K1 không t yêu cầu kháng cáo. Các đương sự
không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn Trà Th Hng P TTh Hng T1 thng nht trình
bày: Hợp đồng thuê đất ngày 15/4/2016 đã chm dứt vào ngày 15/4/2021. Sau đó,
phát sinh hợp đồng thuê bng li nói ngày 15/4/2021, thi hn thuê theo từng năm
một kèm điều kiện bên thuê đất phi tr tiền thđúng hn mới được thuê năm
tiếp theo. Li khai ca ông P1 v vic tha thun thi hạn thuê 20 năm không
sở các nguyên đơn chỉ y quyn cho Th Ú qun thi hn 10
năm. Lời trình bày ca ông P1 là bịa đt, do ông P1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán
t tháng 01/2024 nên nguyên đơn mi thông báo chm dt hợp đồng thuê đất. T
tháng 6/2024, nguyên đơn đã nhiu ln tìm ông P1, bà M để thông báo chm dt
hợp đồng thuê đất yêu cu tr tiền thuê nhưng ông P1, M không hp tác,
đến tháng 9/2024, bà Ú mi gi thông báo bằng văn bn cho ông P1 đ thông báo
chm dt hợp đồng t ngày 15/9/2024. Nguyên đơn không khóa cửa nhà xưởng,
không qun lý hay chiếm gi tài sn ca ông P1 và Công ty K1. Gia Công ty K1
nguyên đơn không thỏa thuận thuê đt, không nhn tin thuê ca Công ty
K1, ông P1 không có quyn cho thuê li.
10
B đơn ông Nguyn Hng P1 trình bày: Ông P1 xác đnh giữa nguyên đơn
ông P1 xác lp Hợp đồng thuê quyn s dụng đất không thi hạn trước
đây thỏa thun gia cha m các nguyên đơn và ông P1 vào năm 2016 là thi hn
ước tính 20 năm, bị đơn bị la di khi ký Hợp đng thuê quyn s dụng đất ngày
15/4/2016 ch có thi hạn 05 năm. Đến năm 2021, ông P1 tiếp tc s dụng đất
tr tiền thuê đất theo tha thun mới 17.000.000 đồng/tháng gia đình bà Ú
ra điều kin mỗi năm phải tr tiền thuê đất hàng tháng đúng tha thun, nếu không
tr đúng tiền thuê s chm dt hợp đng, hai bên nói bng lời, không văn bản,
giy t gì. Do dch Covid-19, tình hình kinh doanh ca ông P1 gặp khó khăn nên
n tiền thuê đất t tháng 02 đến tháng 5/2024. Đến tháng 6/2024, gia đình Ú
ch đích chiếm đoạt tài sn ca ông P1 Công ty K1 đã khóa cổng garage,
ép buộc, đuổi nhân viên ca ông P1 ra khỏi đt, làm mt mát tài sn ca ông P1,
gây thit hi rt ln cho ông P1. Đến tháng 8/2024, ông P1 gp ông K thương
ng vic tr tin thuê còn n, cho thi gian di di tài sn chm dt hợp đồng
nhưng ông K buc tr tiền thuê đất tháng 6 và 7/2024 để chm dt hợp đồng thuê
đất trong khi ông P1 không chiếm gi đất thuê nên ông P1 không đồng ý. Vic
thuê đất chnhân ông P1 thc hin, gia ông P1 và bà Ú không có tha thun
v vic ông P1 đưc quyn cho thuê lại đất, Công ty K1 do v chng ông
P1 thành lp, ông P1 và bà M là v chng, ông P1 đưa về địa ch đất thuê để m
địa điểm kinh doanh do ông P1 qun lý, ông P1 M v chng nên tài
sản trên đất thuê không th tách bạch được tài sn nào ca ông P1, phn tài sn
nào ca Công ty K1. Nguyên đơn chiếm đoạt tài sn ca ông P1 Công ty K1
nên ông P1 đã làm đơn tố cáo Công an nhưng chưa có kết qu gii quyết, khi np
đơn Công an thành ph D có mi lên làm việc và xác định đã tranh chấp ti Tòa
án nên hướng dn ông P1 khi kin ra Tòa án. Do vic chiếm đoạt ch Công
an điều tra mi có kết qu nên đề ngh Tòa án hy bản án sơ thẩm, chuyển cho
quan Công an điều tra v án chiếm đoạt tài sn.
Người đại din hp pháp ca Công ty K1 trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm vi
phm nghiêm trng th tc t tng v thi gian ngh án kéo dài quá 05 ngày (t
ngày 29/9/2025 đến ngày 06/10/2025). Tòa án cấp thẩm đưa ra lập lun cho
rng Hợp đồng thuê đất ngày 15/4/2016 chm dt, phát sinh hợp đồng thuê đất
bng li nói ngày 15/4/2021 và tuyên vô hiu hợp đồng bng li nói là không
s. Gii quyết hu qu ca hợp đồng hiệu không đúng quy đnh tại Điu
131 ca B lut Dân s vì Tòa án cấp sơ thẩm ch gii quyết mt chiu buc ông
P1 thc hiện nghĩa vụ đi với nguyên đơn nhưng li không buộc nguyên đơn thc
hiện nghĩa vụ hoàn tr tin thuê cho ông P1. Tài sn trên phần đất thuê không th
xác đnh phn nào ca ông P1, phn nào ca Công ty K1 do bà M ông P1 là v
chng, Công ty K1 do M đứng đi din theo pháp lut nên vic M và ông
P1 cùng đầu tư kinh doanh trên đất thuê không phân chia được; Công ty K1 không
tha thuận thuê đất ca nguyên đơn, không thực hiện nghĩa v tr tiền thuê đất
cho nguyên đơn. Việc b đơn khóa ca không cho Công ty K1 kinh doanh gây
thit hi rt ln cho Công ty K1 nhưng quyền li ca Công ty K1 chưa được xem
xét. Đề ngh Hội đng xét x tuyên hy bản án sơ thm.
11
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham dự phiên
tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của bị đơn hợp lệ, trong hạn luật định.
Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết, tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu quy định của pháp luật nhận thấy, Hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất ngày 15/4/2016 có thời hạn 05 năm, hết thời hạn này các bên
không có thỏa thuận hay ký kết gia hạn hợp đồng nên hợp đồng này đương nhiên
chấm dứt hiệu lực ngày 15/4/2021. Các đương sự thống nhất có thỏa thuận bằng
lời nói về việc tiếp tục thuê đất vào ngày 15/4/2021, tuy nhiên hợp đồng bằng lời
nói không thỏa mãn điều kiện hiệu lực của hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
theo quy định của Luật Đất đai, B luật Dân sự nên bị hiệu. Ông P1 không
chứng minh được nguyên đơn khóa cửa garage ô tô, gây thiệt hại tài sản cho bị
đơn. Do đó, Tòa án cấp thẩm xác định Hợp đồng thuê đất bằng lời nói ngày
15/4/2021 vô hiệu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại
Điều 131, Điều 472 của Bộ luật Dân sự là phù hợp. Đối với yêu cầu độc lập của
Công ty K1 do nộp đơn sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ nên Tòa án cấp thẩm đã trả lại đơn khởi kiện, giải quyết khiếu nại
việc trả lại đơn khởi kiện là đúng. Do đó, đề nghị Hội đồngt xử áp dụng khoản
1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của
ông P1 và Công ty K1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
(Công ty K1) đúng hình thức và nội dung, được nộp trong thời hạn theo quy định
tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để
thụ lý và xét xử theo thủ tc phúc thm.
[1.2] Tại phiên tòa, các nguyên đơn Trà Thị Hồng T, Trà Thị Hồng
N, ông Trà Văn K người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị Ú vắng
mặt do có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn bà Trịnh Thị Xuân M người đại
diện hợp pháp của các bị đơn (ông P1, bà M) là ông Nguyễn Thế T2 vắng mặt
không do. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân snăm 2015, Tòa án
tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[1.3] Người kháng cáo bà Trịnh Thị Xuân M, người đại diện hợp pháp của
M ông Nguyễn Thế T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng
vắng mặt không có lý do được xem từ bỏ quyền kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét
12
xử đình chỉ xét xử đối với phần kháng cáo của bà Trịnh Thị Xuân M theo khoản
3 Điều 296 của B luật T tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hồng P1 và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Công ty K1 thấy rằng:
[2.1] Đối với yêu cầu độc lập của Công ty K1 thấy rằng: Quá trình giải
quyết vụ án, Công ty K1 đơn yêu cầu độc lập đối với các nguyên đơn yêu
cầu này được đưa ra sau thời điểm Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án cấp thẩm
đã trả lại đơn yêu cầu độc lập của Công ty K1. Công ty K1 có đơn khiếu nại lần 1
đã được giải quyết theo Quyết định giải quyết khiếu nại số 05/QĐ-TA ngày
16/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty
K1 không đồng ý nên tiếp tục khiếu nại lần 2 và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh đã giải quyết khiếu nại theo Quyết định về việc giải quyết khiếu nại
(Lần 2) số 948/2025/QĐ-GQKN ngày 27/11/2025, không chấp nhận khiếu nại
của Công ty K1. Do đó, việc Tòa án cấp thẩm trả lại đơn yêu cầu độc lập của
Công ty K1 phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 194 của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Cho nên, kháng cáo của Công ty K1 liên quan đến nội dung này
không được chấp nhận.
[2.2] Về nội dung tranh chấp:
[2.2.1] Xét Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa bên cho thuê là các ông,
bà: Trà Thị Hồng T, Trà Thị Hồng P, Trà Thị Hồng N, Trà Thị Hồng T1 Trà
Văn K (do bà Võ Thị Ú đại diện) với bên thuê là ông Nguyễn Hồng P1 thấy rằng:
Theo Điều 2 của Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 15/4/2016 thì thời
hạn thuê là 05 năm ngay sau khi hợp đng được công chứng. Hợp đồng này được
Văn phòng C công chứng ngày 15/4/2016 nên thời hạn 05 năm bắt đầu kể từ ngày
15/4/2016 đến ngày 15/4/2021 là kết thúc thời hạn thuê đất. Sau khi kết thúc thời
hạn thuê đất này, nguyên đơn bị đơn không văn bản nào đgia hạn hợp
đồng thuê.
Nguyên đơn cho rằng sau khi kết thúc thời hạn theo Hợp đồng thuê quyền
sử dụng đất ngày 15/4/2016, bị đơn đề nghị tiếp tục thuê đất nên hai bên thỏa
thuận bằng lời nói thời hạn thuê đất 01 năm, giá thuê 17.000.000 đồng/tháng,
tiền thuê trả hàng tháng và bị đơn đã thực hiện trả tiền thuê đến tháng 10/2023 thì
trả tiền thuê không đầy đủ. Phía bị đơn cho rằng Hợp đồng thuê quyền sử dụng
đất ngày 15/4/2016 chưa chấm dứt, sau khi hết thời hạn 05 năm hai bên không
tiến hành thanh lý hợp đồng mà tiếp tục thỏa thuận bằng lời nói gia hạn hợp đồng
thuê nên hợp đồng thuê quyền sử dụng đất hiệu lực đến năm 2026; bị đơn đã
trả tiền thuê đến tháng 01/2024. Tuy nhiên, nguyên đơn không thừa nhận việc gia
hạn hợp đồng và phía bị đơn không giao nộp được tài liệu, chứng cứ chứng minh
việc gia hạn thời hạn hợp đồng đến tháng 4/2026.
Như vậy, thể xác định sau khi kết thúc thời hạn thuê đất, người thuê
ông P1 vẫn tiếp tục sử dụng quyền sử dụng đất thuê và thực hiện nghĩa vụ thanh
13
toán cho bên cho thuê, đồng nghĩa có việc xác lập giao dịch dân sự thông qua lời
nói, hành vi cụ thể theo . Tuy nhiên, việc xác lập giao dịch này không đương nhiên
xem là gia hạn hợp đồng khi hết thời hạn hợp đồng thì đã thuộc trường hợp
chấm dứt hợp đồng, khi đó quyền nghĩa vụ các bên trong hợp đồng đã kết thúc,
do đó không được xem gia hạn hợp đồng. Tòa án cấp thẩm xác định Hợp
đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 15/4/2016 đương nhiên chấm dứt do hết thời
hạn thuê đất phù hợp. Các quyền nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng này
đã thực hiện xong nên không đặt ra xem xét, mà chỉ cần xem xét thỏa thuận Hợp
đồng thuê quyền sử dụng đất bằng lời nói được xác lập ngày 15/4/2021.
[2.2.2] Xét Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất bằng lời nói ngày 15/4/2021:
Về đối tượng tham gia giao kết hợp đồng: Ông P1 xác định việc thuê quyền
sử dụng đất chỉ một mình ông P1 trực tiếp giao dịch với bên cho thuê, không
liên quan gì đến M (vợ ông P1) và xác định bà M có trả tiền thuê thay ông
P1 i lần. Bà M xác định không thuê đất của nguyên đơn mà chỉ có ông P1 thuê.
Nguyên đơn không chứng minh được M bên thuê đất. Đồng thời, đối với
Công ty K1 chi nhánh garage ô giới Hồng Phúc kinh doanh trên đất
do ông P1 thuê của nguyên đơn. Tại phiên tòa, ông P1 người đại diện hợp pháp
của Công ty K1 xác định do Công ty K1 không thuê đất và không thực hiện nghĩa
vụ trả tiền thuê cho nguyên đơn, việc sử dụng đất của Công ty K1 do ông
P1 M (là người đại diện theo pháp luật của Công ty K1) vợ chồng nên
ông P1 sử dụng đất thuê làm địa điểm kinh doanh của Công ty K1 không thu
tiền thuê đất. Do đó, Tòa án cấp thẩm xác định việc cho thuê quyền sử dụng
đất bằng lời nói được xác lập ngày 15/4/2021 là giao dịch được xác lập giữa bên
cho thuê đất các nguyên đơn (do Ú đại diện) với bên thuê đất ông P1
phù hợp.
Về giá thuê và thời hạn thuê: Nguyên đơn xác định thỏa thuận cho thuê đất
theo từng năm, giá 17.000.000 đồng/tháng, trả tiền thuê vào ngày 05 mỗi tháng.
Ông P1 cho rằng thỏa thuận thuê lâu dài, giá thuê 17.000.000 đồng/tháng, trả tiền
thuê vào ngày 05 mỗi tháng. Quá trình giải quyết vụ án và tại Đơn phản tố đề ngày
17/01/2025 có nội dung: “…khi làm hợp đng thì ký 5 năm đầu với phí mặt bằng
là 8.000.000 đồng/tháng, đặt cọc 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng); sau đó
lấy do tôi đóng tiền trễ nên gia hạn từng năm lên giá tiền thuê mặt bằng
hàng năm …” (bút lục 201); đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm, ông P1 thừa nhận
thỏa thuận thuê đất từng năm với điều kiện ông P1 trả tiền thuê đầy đủ thì sẽ
được tiếp tục thuê đất. Qua đó xác định được thỏa thuận thuê quyền sử dụng đất
giữa ông P1 các nguyên đơn theo thỏa thuận bằng lời nói từ ngày 15/4/2021
phát sinh thời hạn thuê quyền sử dụng theo từng năm kể từ ngày 15/4/2021, với
giá thuê là 17.000.000 đồng.
Xét hiệu lực của Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 15/4/2021 (được
xác lập bằng lời nói) thấy rằng: Tại khoản 3 Điều 167, khoản 3 Điều 188 của Luật
Đất đai năm 2013 các Điều: 500, 502, 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì
hợp đồng thuê quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, được công chứng,
14
chứng thực và đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai nhưng thỏa thuận thuê quyền
sử dụng đất ngày 15/4/2021 giữa nguyên đơn và bị đơn chỉ bằng lời nói chưa đáp
ứng được điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thuê quyền sử dụng đất. Tuy nhiên,
trên thực tế lời khai thống nhất việc thực hiện hợp đồng thuê quyền sdụng
đất từ ngày 15/4/2021 đến tháng 01/2024, theo đó bị đơn thừa nhận sử dụng đất
và trả tiền thuê đất đến tháng 01/2024 và sau đó tiếp tục sử dụng đất nợ tiền thuê
đất ca nguyên đơn từ tháng 02/2024 đến tháng 5/2024. lẽ đó, cần xác định
các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận nên phải chịu hậu quả pháp
ràng buộc quyền, nghĩa vụ của bên cho thuê bên thuê quyền sử dụng đất
theo quy định.
Nguyên đơn và ông P1 đều xác định ông P1 đã thực hiện trả tiền thuê đến
tháng 01/2024 là 10.000.000 đồng (thiếu 7.000.000 đồng), từ tháng 02/2024 thì
ông P1 chưa trả tiền thuê nên phát sinh tranh chấp. Nguyên đơn xác định từ tháng
4/2024 đã nhiều lần yêu cầu ông P1 thanh toán nhưng ông P1 không thanh toán,
đến tháng 9/2024 Thị Ú đại diện cho các nguyên đơn gửi thông báo bằng
văn bản cho ông P1 để yêu cầu thanh toán tiền thuê đất chấm dứt hợp đồng
thuê từ ngày 15/9/2024. Ông P1 xác định từ tháng 6/2024 do nguyên đơn khóa
cửa, chiếm giữ mặt bằng, có hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê quyền
sử dụng đất. Tuy nhiên, ông P1 không chứng minh được đã giao trả quyền sử
dụng đất hay tài sản gắn liền với đất cho bên cho thuê, không chứng cứ xác
định nguyên đơn chiếm giữ quyền sử dụng đất nhưng tài sản trên đất thuê do ông
P1 đầu xây dựng vẫn còn tồn tại, chưa di dời nên không sở xem xét lời
khai của ông P1 về thời gian chiếm giữ quyền sử dụng đất thuê. Như vậy, xác
định được giữa nguyên đơn ông P1 đã thực hiện hợp đồng thuê đất bằng lời
nói theo từng năm, tính từ ngày 15/4/2021 đến tháng 9/2024 thì phát sinh tranh
chấp.
Việc ông P1 thừa nhận chưa thanh toán tiền thuê tháng 01/2024 thiếu
7.000.000 đồng, chưa thanh toán tiền thuê ttháng 02/2024 trở về sau nên ông P1
đã vi phạm nghĩa v thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều 481 của Bộ luật
Dân sự năm 2015 quy định trả tiền thuê: “1. Bên thuê phải trả đủ tiền thuê đúng
thời hạn đã thoả thuận…”.
Tại khoản 2 Điều 481 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “2. Trường
hợp các bên thoả thuận việc trả tiền thuê theo kỳ hạn thì bên cho thuê quyền
đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nếu bên thuê không trả tiền trong ba
kỳ liên tiếp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật quy định khác”.
Đồng thời, tại Điều 428 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:
“1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không
phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp
đồng hoặc các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
15
2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho
bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì
phải bồi thường.
4. Khi bên thuê chậm trả tài sản thuê tbên cho thuê có quyền yêu cầu bên
thuê trả lại tài sản thuê, trả tiền thuê trong thời gian chậm trả và phi bồi thường
thiệt hại; bên thuê phải trả tiền phạt vi phạm do chậm trả tài sản thuê, nếu
thỏa thuận”.
Như vậy, đối chiếu quy định được viện dẫn nêu trên thì do ông P1
nêu ra không phù hợp với quy định của pháp luật vì ông P1 đã vi phạm nghĩa vụ
thanh toán, cho nên nguyên đơn quyền đơn phương chấm dứt việc thực hiện
thỏa thuận thuê quyền sử dụng đất theo quy định.
Về thời hạn chấm dứt hợp đồng: Nguyên đơn xác định đến tháng 9/2024,
Thị Ú (là người đại diện cho các nguyên đơn) đã Thông báo (v/v yêu
cầu thanh toán chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất)”, ông P1 cũng thừa
nhận đã gặp ông K để làm việc về yêu cầu trả tiền và chấm dứt hợp đồng thuê của
nguyên đơn vào tháng 8/2024. Như vậy, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa
nguyên đơn ông P1 chấm dứt từ tháng 9/2024 kể từ thời điểm ông P1 thừa nhận
đã biết việc yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất. Cho nên, kể từ
tháng 9/2024 thì các bên không phải tiếp tục thực nghĩa vụ theo hợp đồng được
quy định tại khoản 3 Điều 428 của Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: “3. Khi hợp
đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm
bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại thỏa thuận về
giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vquyền yêu cầu bên kia thanh
toán phần nghĩa vụ đã thực hiện”, tức ông P1 không phải trả tiền thuê quyền sử
dụng đất cho nguyên đơn.
Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
ngày 15/4/2021 bằng lời nói giữa nguyên đơn và bị đơn ông P1 hiệu theo Điều
122, Điều 427 của Bộ luật Dân sự chưa phù hợp. Trong trường hợp này, cần
phải chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chấm dứt Hợp đồng
thuê quyền sử dụng đất ngày 15/4/2021 bằng lời nói giữa nguyên đơn và ông P1.
Đồng thời, buộc ông P1 trả tiền thuê cho nguyên đơn kể từ tháng 02/2024 đến
ngày 15/9/2024 08 tháng x 17.000.000 đồng = 136.000.000 đồng. Do đó, cần
sửa một phần bản án thẩm để điều chỉnh về thời gian, số tiền buộc ông P1 trả
tiền thuê cho nguyên đơn như nêu trên.
Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn trả lại cho ông P1 tiền
đặt cọc và tiền thuê đất tháng 01/2024 còn thiếu 7.000.000 đồng là phù hợp.
Đối với việc xử tài sản trên đất, theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật
Dân snăm 2015 được hiểu bên thuê đất đang sử dụng đất trong thời hạn thuê thì
đang là chủ thể quyền bề mặt, chủ thể quyền bề mặt phải xử tài sản thuộc sở
16
hữu của mình trước khi quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợp thỏa thuận
khác. Trong vụ án này, nguyên đơn và ông P1 không thỏa thuận xử lý tài sản trên
đất khi chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm
xác định tài sản không di dời được thì nguyên đơn phải trả giá trị cho ông P1, tài
sản có thể di dời thì buộc phải di dời là phù hợp quy định của pháp luật.
[2.3] Từ những nhận định nêu trên, nhận thấy ông P1 không chứng minh
được nguyên đơn chiếm đoạt tài sản của ông P1, không chứng minh được thiệt
hại về tài sản cụ thể do lỗi của nguyên đơn nên yêu cầu kháng cáo của ông P1 đề
nghị hủy bản án thẩm chưa phù hợp, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận
01 phần kháng cáo của ông P1 để điều chỉnh lại thời gian và số tiền thuê phải trả
cho nguyên đơn. Đối với kháng cáo của Công ty K1 thì như phân tích ở trên, giữa
Công ty K1 nguyên đơn không xác lập giao dịch thuê quyền sử dụng đất, nên
thỏa thuận sử dụng đất thuê chỉ phát sinh giữa ông P1 và Công ty K1. Ông P1
Công ty K1 đều xác định không phân chia được tài sản thuộc về bên nào do cùng
đầu chung do bà M ông P1 vợ chồng. Do đó, Tòa án cấp thẩm buộc
Công ty K1 và ông P1 tháo dỡ, di dời trả lại quyền sử dụng đất cho các nguyên
đơn phù hợp. Công ty K1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho
kháng cáo của mình nên không được chấp nhận.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông P1 Công ty
K1, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp một phần.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo ca ông P1 được chấp nhận
một phần nên không phải chịu; M vắng mặt lần thứ hai khi đã được triệu tập
hợp lệ nên phải chịu; kháng cáo của Công ty K1 không được chấp nhận nên phải
chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 165, Điều 296, khoản 2 Điều
308, Điều 309, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 3 Điều 167, khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 (nay là
khoản 3 Điều 28, Điều 133 Luật Đất đai năm 2024);
- Các Điều: 119, 427, 428, 481, 482, 500, 502, 503 của Bộ luật Dân sự năm
2015;
- Căn cứ Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của bị đơn bà Trịnh
Thị Xuân M.
17
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hồng P1; không
chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH
K1.
Sửa một phần Bản án dân sthẩm số 292/2025/DS-ST ngày 09 tháng 10
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Trà Thị
Hồng T, TThị Hồng P, Trà Thị Hồng N, Trà Thị Hồng T1, ông Trà
Văn K đối với ông Nguyễn Hồng P1 về việc tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất.
- Tuyên chấm dứt Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất bằng thoả thuận lời
nói vào ngày 15/4/2021 giữa các nguyên đơn: Trà Thị Hồng T, Trà Thị
Hồng P, bà Trà Thị Hồng N, bà Trà Thị Hồng T1, ông Trà Văn K (do bà Thị
Ú đại diện) với bị đơn ông Nguyễn Hồng P1.
- Buc ông Nguyễn Hồng P1 Công ty TNHH K1 di chuyển các tài sản
hiện còn trên đất gồm: 01 nhà tạm (giống xưởng) diện tích 315,5m
2
, kết cấu:
khung cột kèo thép vách 01 bên (tường gạch xây), 01 phần tôn, mái tôn; bên trong
xưởng 01 container (loại 40 phích) được sử dụng làm văn phòng, đặt trên khung
cột sắt, cầu thang tay vịn bằng sắt; 01 nhà vệ sinh kết cấu: nền tông xi
măng, khung cột kèo sắt, cửa tôn sắt; 01 phần vách dựng bằng tôn lưới B40
diện tích, kích thước từng đoạn như sau: đoạn vách tôn bên hông phải (nhìn từ
đường đất vào) kích thước 35m x 1,9m = 66,5m
2
, đoạn vách tôn phía trước liền
kề với cổng rào ới B40 là 7,2m x 1,9m = 13,68m
2
, đoạn vách tôn nằm vị trí bên
hông phải phía trước container có diện tích 5m x 6m = 30m
2
, đoạn vách tôn nằm
vị trí bên phía sau bên hông container có diện tích 10m x 0,9m = 9m
2
, đoạn vách
tôn nằm vị trí bên trái của cổng lưới B40 diện tích 4m x 1,8m = 7,2m
2
; 01
khung sắt chữ A có 03 bánh xe di chuyển, phía trước có kích thước 4,3m x 2m =
8,6m
2
, 01 tủ sắt ra khỏi các thửa đất số 5970, 5971, 5972, 5973, 5974 (tờ bản đồ
số 4TDH.B) tại khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, để trả lại cho bà
Trà Thị Hồng T, TThị Hồng P, Trà Thị Hồng N, Trà Thị Hồng T1,
ông Trà Văn K diện tích đất 1.124,4m
2
thuộc thửa đất số 5970, 5971, 5972, 5973,
5974, cùng tờ bản đồ s4TDH.B, tolạc tại khu phố Đ, phường T, Thành phố H
Chí Minh theo các Giy chng nhn quyn s dụng đất quyn s hu nhà và tài
sn khác gn lin với đất: s BG 984887 vào s s CH06349 do UBND thD,
tỉnh Bình Dương cấp ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đng
tên ông Trà Văn K; s BG 984888 vào s s CH06343 do UBND th D, tnh
Bình Dương cấp ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đng tên
bà Trà Th Hng T1; s BG 984889 vào s s CH06344 do UBND th xã D, tnh
Bình Dương cấp ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đng tên
Trà Th Hng N; s BG 984890 vào s s CH06346 do UBND th D, tnh
Bình Dương cấp ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đng tên
Trà Th Hng P; s BG 984891 vào s s CH06345 do UBND th D, tnh
18
Bình Dương cấp ngày 28/12/2011, đăng biến động ngày 23/3/2016 đng tên
bà Trà Th Hng T.
- Buộc ông Nguyễn Hồng P1 có trách nhiệm thanh toán tiền chiếm giữ đất
cho bà Trà Thị Hồng T, bà Trà Thị Hồng P, bà Trà Thị Hồng N, bà Trà Thị Hồng
T1, ông Trà Văn K số tiền 136.000.000 đồng (một trăm ba mươi sáu triệu đồng).
- Buộc bà Trà Thị Hồng T, bà Trà Thị Hồng P, bà Trà Thị Hồng N, bà Trà
Thị Hồng T1, ông Trà Văn K trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Hồng
P1 số tiền 59.807.900 đồng (năm mươi chín triệu, tám trăm lẻ bảy nghìn, chín
trăm đồng), trong đó có: 34.000.000 đồng (ba mươi bốn triệu đồng) tiền đặt cọc
và 25.807.900 đồng (hai mươi lăm triệu, tám trăm lẻ bảy nghìn, chín trăm đồng)
tiền bồi thường tài sản trên đất. Sau khi thanh toán xong thì Trà Thị Hồng T,
Trà Thị Hồng P, Trà Thị Hồng N, Trà Thị Hồng T1, ông Trà Văn K được
quyền sở hữu sân nền nhựa có diện tích 315,5m
2
gắn liền trên đất (kèm theo bản
vẽ).
Kể từ ngày bản án hiệu lực, người được thi hành án đơn yêu cầu thi
hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành
án thì hàng tháng, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
2.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn
Trà Thị Hồng T, TThị Hồng P, Trà Thị Hồng N, Trà Thị Hồng T1,
ông Trà Văn K đối với bị đơn bà Trịnh Thị Xuân M về việc tranh chấp hợp đồng
thuê quyền sử dụng đất; không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện đối với bị
đơn về việc thanh toán tiền thuê từ tháng 10/2024 đến thời điểm xét xử thẩm
với số tiền 194.000.000 đồng.
2.3. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc định giá tài sản: Tổng
cộng là 8.800.000 đồng (tám triệu, tám trăm nghìn đồng). Bà Trà Thị Hồng T, bà
Trà Thị Hồng P, Trà Thị Hồng N, Trà Thị Hồng T1, ông Trà Văn K phải
chịu 4.400.000 đồng (bốn triệu, bốn trăm nghìn đồng). Ông Nguyễn Hồng P1 phải
chịu 4.400.000 đồng (bốn triệu, bốn trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào tiền
tạm ứng Trà Thị Hồng T, Trà Thị Hồng P, Trà Thị Hồng N, Trà
Thị Hồng T1, ông Trà Văn K đã nộp. Ông P1 trách nhiệm thanh toán lại stiền
4.400.000 đồng (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) cho các ông, bà: T, T1, N, P, K.
2.4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Trà Thị Hồng T, TThị Hồng P, Trà Thị Hồng N, Trà Thị
Hồng T1, ông Trà Văn K phải liên đới chịu án phí thẩm 9.700.000 đồng
(chín triệu bảy trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 7.136.725 đồng (bảy
triệu, một trăm ba mươi sáu nghìn, bảy trăm hai mươi lăm đồng) đã nộp tạm ứng
án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001810 ngày 29/10/2024
của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An. Bà TThị Hồng T, bà Trà Thị
Hồng P, Trà Thị Hồng N, Trà Thị Hồng T1, ông Trà Văn K còn phải ln
19
đới nộp số tiền 2.563.275 đồng (hai triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm
bảy mươi lăm đồng).
Ông Nguyễn Hồng P1 phải chịu số tiền 6.800.000 đồng (sáu triệu tám trăm
nghìn đồng).
3. V án phí dân s phúc thm:
Hoàn trả cho bị đơn ông Nguyễn Hồng P1 số tiền 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số 0032669 ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sThành
phố H.
Bị đơn bà Trnh Thị Xuân M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng),
được khấu trừ vào số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, lphí Tòa án số 0032669 ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Thi
hành án dân sự Thành phố H.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH K1 phải chịu
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0032670 ngày 29 tháng 10
của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lut Thi hành
án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s
quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án
hoc b ng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Lut
Thi hành án dân s; thi hiệu thi hành án được thc hiện theo quy đnh tại Điều
30 Lut Thi hành án dân s.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 16 Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phố
Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thanh Trúc
Tải về
Bản án số 798/2026/DS-PT Bản án số 798/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 798/2026/DS-PT Bản án số 798/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất