Bản án số 60/2022/HS-ST ngày 07-07-2022 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 60/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 60/2022/HS-ST ngày 07-07-2022 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội danh: 174.Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 60/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/07/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Thị L tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 60/2022/HS-ST
Ngày: 07/7/2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hòa.
Thẩm phán: Ông Đinh Xuân Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Diêm Trọng Khoa.
Ông Đinh Minh Hải.
Bà Phạm Thị Thu.
- Thư ghi biên bản phiên a: Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư
TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Toán Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc
Ninh xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thẩm thụ số: 43/2022/TLST-
HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
98/2022/QĐXXST-HS ngày 23/6/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1988 tại Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT: G6 -
Đồng Quán, khu KL, phường VC, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; nghề
nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Quốc
tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959
Bùi Thị Tr, sinh năm 1959; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư; chồng
Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1983 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh
năm 2016; tiền án, tiền sự: không; btạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2020 đến
nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo L do gia đình bị cáo mời: Nguyễn Thị L1,
Luật sư Công ty Luật TNHH Số 1 Bắc Ninh, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bắc Ninh;
có mặt.
* Bị hại:
1. Công ty Cổ phần phân phối MP; địa chỉ: Số 65, ngõ 205 đường Giải
Phóng, phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hữu V, sinh năm 1977; chỗ hiện
2
nay: Số 406A, Chung Sông Nhuệ, phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, thành
phố Hà Nội. Vắng mặt.
2. Công ty Cổ phần thương mại dịch vNH; địa chỉ: B22, 19, T
mới Định Công, quận Hoàng Mai, thành ph Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ng, sinh năm 1973; trú tại: Ô 16, dãy C,
12, KĐT mới Định Công, phường Định Công, quận Hng Mai, thành phố Hà
Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyn Khắc C, sinh năm 1973; chỗ
hiện nay: Số 852 đưng Kim Giang, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội. Vắng mặt.
3. Công ty TNHH thương mại dịch vụ TQ; địa chỉ: Khu Phúc Sơn,
phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn Th, sinh năm 1991; trú tại:
Khu Đạo Chân, phường Kim Chân, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
4. Công ty TNHH BT; địa chỉ: Cụm CN đa nghề Lỗ Sung, phường Đình
Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Đỗ Thị B, sinh năm 1965; trú tại:
phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Phương Th, sinh năm 1986;
trú tại: Số 45, ngõ 49, Trung Hòa, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh
Bắc Ninh. Vắng mặt.
5. Công ty TNHH thương mại và dịch vụ LH;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Văn L, sinh năm 1988; trú tại:
Thôn Móng Làng, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
6. Công ty TNHH một thành viên B Nội; địa chỉ: B18, đường Công
nghiệp 06, KCN Sài Đồng B, phường Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố
Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Phú Ch, chức vụ: Phó Chủ tịch
Hội đồng thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Khắc N, sinh năm 1981; t
tại: Số 348-L3 Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Có mặt.
7. Nhà phân phối TV;
Người đại diện theo pháp luật: Đào Thị H, sinh năm 1990; trú tại: Tổ 1,
phường Phố Cò, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
8. Nhà phân phối NC;
Người đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1983; trú tại:
Số 69, đường Nguyễn Hoàng Nghị, khu KL 1, phường VC, thành phố Bắc Ninh.
Vắng mặt.
3
9. Anh Nguyễn Tuấn Q, sinh năm 1988; trú tại: Khu Đạo Chân, phường
Kim Chân, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
10. Anh Đinh Văn Tr, sinh năm 1977; trú tại: Số nhà 03, ngõ 24, khu 4,
phường Vệ An, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
11. ng ty Cổ phần Bánh Kẹo HC; địa chỉ: số 15 đường Mạc Thị Bưởi,
quận Hai Trưng, thành phố Nội do ông Nguyễn Văn Hội là Tổng Giám
đốc đại diện theo pháp luật.
Người đại diện theo uquyền: Thị Phương Th, sinh năm 1965; trú
tại: Số 131 ngõ 3, Thọ Lão, phường Đồng Nhân, quận Hai Trưng, thành phố
Hà Nội. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Anh Trần Xuân M, sinh năm 1974 và chị Trần Thị Hiền, sinh năm 1976;
trú tại: thôn Bắc Cường, thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Có mặt.
2. Công ty UC, địa chỉ: KCN Song Khê - Nội Hoàng, huyện Yên Dũng,
tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Mạnh Cường, sinh năm 1962 Giám đốc đại
diện theo pháp luật; trú tại: số 5 đường Huyền Quang, phường Ninh Xá, thành
phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
3. Công ty TNHH thương mại dịch vụ HA; địa chỉ: số 37, phố 8/3,
phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
4. Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1979; trú tại: tổ 6, khu 34, phường Song
Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
5. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; trú tại: số 62 đường Huyền Quang,
phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh- Giám đốc công ty
TNHH dịch vvà thương mại HLT Việt Nam; địa chỉ số 203 đường Nguyễn
Cao, phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
6. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; địa chỉ: nhà phân phối Hương Quy,
phố Ba Huyện, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Vắng
mặt.
7. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1989; trú tại: khu phố Xuân Đài, phường
Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
8. Anh Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1983; ĐKHK: Lô G6, Đồng Quán, khu KL,
phường VC, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Hiện trú tại: T 1 phường Thịnh Đán, thành ph Thái Nguyên, tnh Thái
Nguyên. Vng mt.
9. Anh Nguyn Đ1, sinh năm 1986; ttại: T 1 phường Thịnh Đán,
thành ph Thái Nguyên, tnh Thái Nguyên. Có mt.
4
10. Ch Nguyn Th T Kh, sinh năm 1984; địa ch: khu KL 1, phường VC,
thành ph Bc Ninh, tnh Bc Ninh. Vng mt.
* Người làm chứng:
1. Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1984; trú tại: Tổ 20, phường Long Biên,
quận Long Biên, thành phố Hà Nội. (Nhân viên bán hàng Công ty B). Có mặt.
2. Chị Thị D, sinh năm 1988; trú tại: Thôn Móng Làng, xã Hoàn Sơn,
huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
3. Chị Đỗ Thị Nh, sinh năm 1990; trú tại: Khu Đạo Chân, phường Kim
Chân, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (vợ anh Quyết). Có mặt.
4. Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1991; trú tại: Số 20 tổ 6 Phúc Lợi, quận
Long Biên, thành phố Nội. Trưởng phòng Kinh doanh 2 - Công ty Cổ
phần Bánh Kẹo HC; địa chỉ: số 15 đường Mạc Thị Bưởi, quận Hai Trưng,
thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH thương mại dịch vụ tổng hợp MP (viết tắt Công ty MP)
trụ sở tại Đồng Quán, khu KL, phường VC, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc
Ninh được Sở Kế hoạch Đầu tỉnh Bắc Ninh cấp giấy phép đăng kinh
doanh năm 2018 do Nguyễn Thị L là người đại diện theo pháp luật Giám
đốc công ty. Ngành nghề kinh doanh chính bán buôn tổng hợp các loại bánh
kẹo, đường sữa…..Kinh doanh dưới hình thức mua lại hàng hóa của các nhà
phân phối, đại sau đó bán lại cho các cửa hàng n lẻ hoặc một số ng ty
trong khu công nghiệp. Ngoài ra, Công ty còn nhà phân phối sản phẩm của
công ty Cổ phần Sữa Ba tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy phép đăng
kinh doanh thì Công ty MP 02 thành viên gồm Nguyễn Thị L Nguyễn
Đ (là chồng của L) góp vốn số tiền 9.800.000.000 đồng. Tuy nhiên, thực tế
Đông không góp vốn và mọi hoạt động kinh doanh đều do L điều hành.
Từ khi thành lập đến hết năm 2019, Công ty MP hoạt động mua bán bình
thường. Tuy nhiên, đến khoảng đầu năm 2020 trong quá trình hoạt động kinh
doanh do thua lỗ nên L còn nợ tiền mua hàng của một số Công ty nhà phân
phối. Đến khoảng cuối tháng 7/2020 khi các chủ nợ đòi tiền, L đã nảy sinh ý
định chiếm đoạt hàng hóa của các nhà phân phối các đại bán các mặt hàng
L vẫn kinh doanh bằng hình thức nhập hàng về rồi bán ngay với giá thấp hơn
giá mua để lấy tiền dùng vào mục đích khác. Cụ thể, L đã tìm các nhà cung cấp,
nhà phân phối để đặt vấn đề mua hàng với số lượng lớn biết theo quy định
của các nhà phân phối thì trên địa bàn mỗi tỉnh chỉ một hoặc hai nhà phân
5
phối, đại lý chỉ được bán hàng trên địa bàn được giao, không được bán lấn vùng,
lấn tuyến, sau đó L đã đưa ra những thông tin gian dối như: mua hàng để bán
cho một số tchức đi từ thiện hoặc đơn đặt mua hàng với số lượng lớn của
một số công ty trong khu công nghiệpĐồng thời để tạo niềm tin cho những
nhà phân phối, đại L sẽ trả trước một phần tiền của số hàng đặt mua của họ,
số tiền còn lại L hứa sẽ trả theo đúng thời gian trong hợp đồng đã kết, hoặc
theo thời gian đã thỏa thuận. Tuy nhiên, khi các nhà phân phối tin tưởng giao
hàng cho L thì ngay sau đó L đã chuyển toàn bộ số hàng hóa mà họ giao đến bán
cho anh Trần Xuân M với giá thấp hơn so với giá mà L đã mua để lấy tiền ngay
sử dụng tiền chi tiêu, trả nợ nhân. Khi không khả năng trả nợ tiền mua
hàng cũng không thể gian dối để chiếm đoạt được hàng của các nphân
phối nữa, L đã bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh để trốn tránh không phải trả
nợ.
Cụ thể hành vi bị cáo chiếm đoạt như sau:
1. Chiếm đoạt tiền của Công ty cphần phân phối MP:
Thông qua lời giới thiệu của anh Đinh Văn Tr là nphân phối kẹo Mikita
của Công ty cổ phần phân phối MP tại tỉnh Bắc Ninh (viết tắt là Công ty cổ phần
MP) về việc Nguyễn Thị L là giám đốc Công ty MP đang có nhu cầu mua 3.700
thùng kẹo Mikita đbán vào các Công ty trong khu công nghiệp SamSung, để
các công ty này mang đi làm từ thiện. Do vậy, ông Hữu V giám đốc Công cổ
phần MP đã trao đổi và thỏa thuận bán hàng cho L. Do tin tưởng L mua hàng đ
đi làm từ thiện thời điểm này miền Trung đang bị lụt gặp khó khăn, nên
ngày 01/11/2020 tại kho hàng của L khu Xuân Ô, phường VC, ông Vượng đại
diện Công ty cổ phần MP đã hợp đồng mua bán kẹo Mikita với Công ty MP
do L làm người đại diện, L cam kết sau khi nhận hàng 03 ngày sẽ thanh toán.
Đến ngày 19/11/2020, ông Vượng đã trực tiếp giao cho L số lượng hàng cụ
thể là: 2.700 thùng kẹo bịch Mikita loại 50 que và 1.000 thùng Kẹo Mikita
loại 50 que cùng với giá 395.000đồng/thùng. Tổng giá trị đơn hàng
1.461.500.000đồng. Ngay sau khi nhận hàng, L đã liên hệ và thỏa thuận bán cho
anh Trần Xuân M chủ cửa hàng Mạnh Hiền với giá 350.000đồng/thùng và
được ông Mạnh trả tiền ngay cho L. Đến ngày 22/11/2020, L đã chuyển khoản
thanh toán cho ông Vượng 80.000.000 đồng, số tiền còn lại 1.381.500.000
đồng L không trả ông Vượng mà dùng để chi trả cho các khoản nợ cá nhân. Sau
đó, ông Vượng liên tục liên hệ đòi tiền thì L đều lấy lý do bán hàng cho tổ chức
chưa thanh quyết toán, sau đó L còn nói bị lừa không thu hồi được tiền bán
hàng. Đến nay, ông Vượng yêu cầu L phải trả lại số tiền là 1.381.500.000 đồng.
2. Chiếm đoạt tiền của chị Đào Thị Hồng - Nhà phân phối TV:
6
Thông qua sự giới thiệu anh Đinh Văn Tr thủ đoạn như trên L nói dối
chị Hồng là mua hàng để đóng hàng cho các tổ chức đi từ thiện, giao hàng trong
khu công nghiệp, cam kết trong 03 ngày sẽ trả tiền. Trong các ngày 21,
22/11/2020, L đã mua của chị Hồng tổng số 2.500 thùng bánh các loại của hãng
Hữu Nghị với tổng số tiền là 1.065.813.000 đồng. Sau khi nhận được hàng, L đã
bán cho anh Mạnh chủ cửa hàng Mạnh Hiền với giá thấp hơn so với giá nhập để
thu tiền ngay. Số tiền này L sử dụng tiền để chi tiêu nhân trả nợ người
khác không trả cho chị Hồng. Khi chi Hồng đòi tiền thì L đều lấy do bán
hàng cho đối tác mua hàng chưa trả tiền nên không có tiền trả chị Hồng. Nay chị
Hồng yêu cầu L phải trả số tiền theo giá trị số hàng L chưa thanh toán 1.065.
813.000 đồng.
3. Chiếm đoạt tiền của anh Đinh Văn Tr:
Vẫn thủ đoạn như trên, L đặt mua của anh Trịnh 400 thùng sữa ông Thọ
nhưng do số lượng hàng lớn và không đủ tiền nên nên ông Trịnh bảo L là chỉ lấy
được 300 thùng phải thanh toán tiền ngay. Sau đó, ông Trịnh đã đặt mua 300
thùng sữa ông Thọ yêu cầu L trả tiền trước, thì L chuyển khoản cho ông
Trịnh 14.000.000đ, số còn lại sẽ cho nhân viên mang tiền đưa cho ông Trịnh.
Khoảng 09 giờ ngày 24/11/2020, L cho 03 nhân viên đi xe ô tô BKS 29H-01375
đến nhà phân phố Vinh Thắng đưa tiếp cho ông Trịnh 20.000.000đồng để lấy
hàng. Tại đây, anh Trịnh mua của nhà phân phối Vinh Thắng 300 thùng sữa với
giá 975.000 đồng/thùng đã thanh toán số tiền 292.500.000đồng. Sau đó,
anh Trịnh cùng 03 nhân viên của L mang sữa về kho để giao cho L lấy tiền.
Tuy nhiên, khi về đến kho thì anh Trịnh không thấy L ở đó nên đã điện thoại cho
L bảo thanh toán tiền thì L bảo cứ để hàng ở đó do đang bận tiếp đối tác khoảng
2 đến 3 ngày mới thanh toán được tiền. Nhưng thực tế, sau khi anh Trịnh đi về
thì L đã mang 300 thùng sữa trên bán cho cửa hàng Mạnh Hiền với giá 900.000
đồng/thùng. Số tiền này L đã không thanh toán cho ông Trịnh mà sử dụng chi
tiêu nhân và trả nợ hết. Anh Trịnh nhiều lần liên lạc với L thì L tắt máy điện
thoại hoặc lấy lý do đối tác chưa thanh toán tiền để không phải trả tiền cho ông
Trịnh. Nay, anh Trịnh yêu cầu L phải trả ông số tiền chưa thanh toán là
258.500.000 đồng.
4. Chiếm đoạt tiền của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ TQ (viết
tắt là Công ty TQ):
Vẫn thủ đoạn như trên, lấy do để giao hàng cho quan tổ chức đi từ
thiện gấp, nên ngày 21/11/2020 L đã hợp đồng với anh Đỗ Văn Thế - đại
diện Công ty TQ mua tổng s1.500 thùng bột giặt Aba, L cam kết trong hợp
đồng sau khi nhận hàng từ 3 đến 5 ngày sẽ thanh toán hết chuyển khoản đặt
7
cọc cho anh Thế số tiền 50.000.000đồng. Sau đó, anh Thế đã mang hàng đến
kho giao cho L số hàng theo hợp đồng 1.500 thùng bột giặt Aba. Tổng giá
trị đơn hàng 619.000.000 đồng. Sau khi nhận hàng L đã bán số hàng trên cho
cửa hàng Mạnh Hiền với giá thấp hơn để được thanh toán tiền ngay. Số tiền này
L chỉ trả thêm cho anh Thế số tiền 150.000.000 đồng còn lại không thanh toán.
Khi quá thời hạn thanh toán, L lấy lý do đối tác lấy hàng chưa thanh toán tiền và
sau đó do L cũng đang bị lừa tiền để không thanh toán nên không trả cho
anh Thế. Nay anh Thế yêu cầu L phải trả anh số tiền còn lại chưa thanh toán
419.000.000 đồng.
5. Chiếm đoạt tiền của anh Nguyễn Hữu Hợi - Nhà phân phối NC:
Vẫn thủ đoạn như trên, lấy do để giao hàng cho các công ty khu công
nghiệp, nên ngày 19/11/2020 L đã hợp đồng với anh Nguyễn Hữu Hợi Đại
diện nhà phân phối NC mua tổng số 510 thùng bánh One one các loại. Tổng giá
trị đơn hàng là 156.250.000 đồng. Sau đó, L đã cho xe ô tô đến kho của anh Hợi
nhận số hàng trên, rồi mang bán cho cửa hàng Mạnh Hiền với gthấp để được
thanh toán tiền ngay. Số tiền này L không mang tiền trả cho anh Hợi mà sử dụng
chi tiêu cá nhân và trả nợ hết.
Đến ngày 22/11/2020, L lại tiếp tục điện thoại cho anh Hợi đặt mua thêm
1.500 thùng bánh để nhằm mục đích chiếm đoạt nhưng anh Hợi không đồng ý
bán. Đến ngày 26/11/2020 ngày L phải thanh toán tiền mua 510 thùng bánh
cho anh Hợi thì L tắt máy điện thoại trốn tránh anh Hợi để không phải trả
tiền. Nay, anh Hợi yêu cầu L phải trả cho anh trị giá 510 thùng bánh là
156.250.000 đồng.
6. Chiếm đoạt tiền của Công ty cổ phần thương mại dịch vụ NH (viết
tắt là Công ty NH):
Vẫn thủ đoạn như trên, ngày 30/10/2020 31/10/2020 L nhập 1.300 thùng
nước tăng lực của ng ty NH thông qua anh Nguyễn Khắc ờng - quản lý bán
hàng miền Bắc của Công ty với giá trsố tiền 253.500.000 đồng. Sau đó đến
ngày 7/11/2020, L liên hệ tiếp với anh Cường đặt mua 3.000 thùng, u cầu giao
gấp để L giao cho đối tác trong KCN Sam Sung nhưng thực tế L muốn chiếm
đoạt đển cho nời khác lấy tiền ngay. Tuy nhiên, Công ty NH chỉ đồng ý giao
2.000 thùng yêu cầu phải thanh toán tiền 1.300 thùng đã giao trước đây. L
đồng ý thỏa thuận sẽ thanh toán 2.000 thùng hàng mới trị giá 390.000.000
đồng bằng cách trả trước tiền 1.000 thùng vào ngày 10/11/2020, còn 1000 thùng
sẽ thanh toán sau 20 ngày. Sau đó, L bảo anh Nguyễn Mạnh Quý lái xe ch
hàng cho L đi xe ô ra Công ty NH lấy 2.000 thùng hàng cầm 253.500.000
đồng trả tiền 1.300 thùng hàng trước đây cho Công ty NH. Sau khi nhận được
8
hàng, L đã bán cho cửa hàng Mạnh Hiền với giá thấp hơn để lấy tiền ngay. Số
tiền này L lại không trả cho Công ty NH sử dụng vào mục đích cá nhân và tr
nợ hết. Khi công ty NH u cầu thanh toán tiền thì L đều hứa hẹn sẽ chuyển
khoản thanh toán nhưng không thực hiện cố tình trốn tránh để không phải trả
nợ. Nay, Công ty NH yêu cầu L phải trả số tiền 390.000.000 đồng.
7. Chiếm đot tin ca Công ty TNHH một thành viên B (viết tắt là ng ty
B) :
Vẫn thủ đoạn như trên, khoảng tháng 9/2020, Nguyễn Thị L đã liên hệ với
chị Hoàng Thị Tuyến, sinh năm 1984 là nn viên Công ty B giới thiệu L là Giám
đốc Công ty MP nói dối đang thực hiện hợp đồng cung cấp quà trung thu vào
Công ty Sam Sung n muốn đặt mua bánh kẹo B với số lượng lớn để tạo thành
gói quà tặng cho công nhân công ty Sam Sung, Emtech. Tin tưởng L, chị Tuyến
đã báo cáo, đề xuất và được ông Vũ Văn Tuyên - Giám đốc Công ty B hợp
đồng mua bán với Công ty MP, trong đó điều khoản thời hạn thanh toán là 30
ngày. Sau khi hợp đồng, trong khoảng thời gian từ ngày 25/9/2020 đến ngày
25/10/2020, Công ty B đã giao trực tiếp cho L nhiều đơn hàng gồm các loại bánh,
kẹo của hãng B với tổng trị giá hàng hóa 4.073.696.700 đồng. Sau khi nhận
hàng thì L đã bán cho cửa hàng Mạnh Hiền với giá thấp hơn, số tiền bán ng thì
L đã dùng để trả nợ chi tiêu nhân không trả cho công ty B. Khi chị
Tuyến đề nghị thanh toán tiền hàng tL đưa ra nhiều lý do để chỉ thanh toán một
phần tiền, cụ thể: ngày 28/9/2020 thanh toán 100.000.000 đồng, ngày 17/10/2020
thanh toán số tiền 761.100.000 đồng ngày 23/11/2020 thanh toán 100.000.000
đồng. Khi Tuyến liên tục liên hệ đòi tiền thì L lấy do bị lừa không thu hồi
được sau đó L trốn tránh để không phải trtiền cho Công ty B. Nay, Công ty B
yêu cầu L phải trả số tiền chưa thanh toán là 3.112.605.800 đồng.
8. Chiếm đoạt tiền của Công ty TNHH thương mại dịch vụ LH (viết
tắt là Công ty LH):
Vẫn th đoạn như trên, ngày 11/11/2020, L đã điện thoại nhắn tin qua
Zalo cho anh Lũy về việc L cần một số lượng lớn bánh Tipo để làm từ thiện,
nhà anh Lũy bao nhiêu L lấy hết. Anh Lũy bảo mặt hàng L lấy không
trong hợp đồng thì L bảo lấy hàng trước để cho đối tác đi m từ thiện, phụ lục
hợp đồng ssau. Tại thời điểm y, anh Lũy thấy trong miền Trung đang có
thiên tai, lụt nên anh Lũy tin tưởng L mua hàng đmang đi từ thiện nên đã
đồng ý bán cho L. Từ ngày 11/11/2020 đến ngày 20/11/2020, anh Lũy đã giao
cho L c loại bánh trứng nướng của Tipo với g trị tiền 1.617.465.017
đồng. Sau khi nhận được hàng L đã mang bán cho cửa hàng Mạnh Hiền với
giá thấp hơn. Số tiền y L mới trcho anh Lũy số tiền 540.000.000 đồng
9
còn lại L không trả trốn tránh anh Lũy đkhông phải trả tiền. Nay, anh y
yêu cầu L phải trả anh giá trị tiền chưa thàanh toán là 1.077.465.017 đồng.
9. Chiếm đoạt tiền của anh Nguyễn Tuấn Q :
Vẫn thủ đoạn như trên, trong khoảng thời gian từ ngày 07/8/2020 đến ngày
12/11/2021, L đã nhiều lần đặt mua hàng gồm bánh kem xốp, bột canh Iot HC,
bánh lương khô Cacao, sữa chua đường …của hộ ông Quyết với tổng trị giá
3.044.298.000 đồng. Sau khi nhận được hàng L đã mang bán cho cửa hàng
Mạnh Hiền với giá thấp hơn. Số tiền này L mới trả cho anh Quyết số tiền
2.024.700.000 làm nhiều lần. Số tiền hàng còn lại L đã sử dụng chi tiêu nhân
và trốn tránh anh Quyết để không phải trả nợ. Nay ông Quyết yêu cầu L phải trả
số tiền mua hàng là 1.019.598.000 đồng.
10. Chiếm đoạt tiền của Công ty TNHH BT:
Vẫn thủ đoạn như trên, thông qua chị Nguyễn Thị Phương Thúy, sinh năm
1986 trú tại số 45, ngõ 49, khu phố Trung Hòa, phường Đình Bảng, thị Từ
Sơn kế toán của Công ty BT, từ ngày 19/10/2020 đến ngày 02/11/2020, L đã
đặt mua nhận từ công ty BT các mặt hàng gồm sữa tươi tiệt trùng các loại,
dầu ăn Simply đậu nành các loại, kẹo Oishi, nước Tea go với tổng giá trị tiền
hàng 9.583.700.000đồng. Sau khi nhận được hàng, L đã mang bán cho cửa
hàng Mạnh Hiền với giá thấp hơn. Số tiền này L mới trả cho trả cho Công ty BT
số tiền 7.286.630.000 đồng, còn lại 2.297.070.000 đồng thì L không trả sử
dụng chi tiêu nhân trả nợ hết. Nay, Công ty BT yêu cầu L phải trả số tiền
còn lại là 2.297.070.000 đồng.
Ngày 01/7/2021, Cơ quan điều tra yêu cầu định giá tài sản số 108/PC03 đối
với các mặt hàng của 10 nhà phân phối nêu trên bNguyễn Thị L chiếm đoạt.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 881/KL-ngày 02/8/2021 của Hội đồng
định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh xác định giá
trị từng mặt hàng nêu trên. Tộng trị giá tiền hàng là 22.309.654.800đ.
11. Chiếm đoạt tài sản của Công ty cổ phần bánh kẹo HC (viết tắt
công ty HC):
Công ty Cổ phần bánh kẹo HC chuyên sản xuất bán các mặt hàng bột
canh, bánh xốp, lương khô... mang nhãn hiệu độc quyền của Công ty HC.
Khoảng tháng 09/2022, L đại diện Công ty Anh Đạt Công ty MP thỏa
thuận mua, bán và tiêu thụ sản phẩm của Công ty HC với anh Nguyễn Tuấn Anh
là Trưởng phòng kinh doanh của Công ty HC. Khi trao đổi với anh Tuấn Anh, L
bảo L người điều hành hoạt động cả 02 công ty, đang rất cần nhiều hàng hóa
để cấp cho các khách hàng, tổ chức, doanh nghiệp để làm quả tặng, phụ cấp độc
hại từ thiện, chồng L đang làm phòng tổ chức tại một doanh nghiệp của
10
nước ngoài quan hệ và hỗ trợ L đưa hàng hóa của công ty vào doanh nghiệp
đó. Sau đó, anh Tuấn Anh đã tìm hiểu thông tin trên mạng về 02 Công ty L giới
thiệu tin tưởng đã gửi bản Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm của Công ty HC cho
L qua địa chỉ Email.
Đến ngày 22/9/2020, Công ty MP và Công ty Anh Đạt đã ký Hợp đồng tiêu
thụ sản phẩm số 503/1 và 503/2 với Công ty HC. Tuy nhiên, L lại giả chữ
của anh Nguyễn Đ1 vào phần giám đốc trong hợp đồng đóng dấu của
Công ty Anh Đạt vào hợp đồng nhưng L không nói cho ai biết.
Sau đó, L nhiều lần đặt mua mặt hàng bột canh, bánh xốp, lương khô mang
nhãn hiệu HC của Công ty HC cho Công ty MP ng ty Anh Đạt. Từ ngày
21/10/2020 đến ngày 22/11/2020, Công ty HC nhiều lần giao hàng cho L theo
như 02 hợp đồng đã trên, trong đó tổng giá trị tiền hàng Công ty HC xuất
bán cho Công ty MP 2.755.018.090 đồng; Công ty Anh Đạt 939.664.440
đồng. Toàn bộ các mặt hàng mua của Công ty HC, L không cung cấp vào khu
công nghiệp nthỏa thuận với anh Tuấn Anh, L đã mang bán cho cửa hàng
Mạnh Hiền với giá bằng giá mua để được hưởng chiết khấu % được thanh
toán tiền ngay. Tuy nhiên, sau đó L chỉ thanh toán cho Công ty HC số tiền mua
hàng 2.505.000.000 đồng, số tiền còn lại L đã không thanh toán theo hợp
đồng đã ký. Công ty HC đã nhiều lần liên hệ với anh Nguyễn Đ1 đyêu cầu
anh Đương trả tiền nhưng anh Đương không biết gì về việc L mua hàngcũng
không ký vào hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với Công ty HC. Do vậy, Công ty HC
đã làm đơn trình báo đến Cơ quan điều tra và yêu cầu L phải trả số tiền bị chiếm
đoạt 999.502.530 đồng, trong đó Công ty MP 499.838.090 đồng , Công ty
Anh Đạt là 499.664.400 đồng.
Sau khi có hành vi gian dối đểc bị hại giao hàng, L cũng đã trả lại một phần
tiền cho một số ncung cấp, đại lý. Lý do, L trả lại một phần tiền là vì bnhà cung
cấp, đại đòi nhiều lần hoặc L muốn tiếp tục chiếm đoạt thêm hàng a của họ.
Do đó, số tiền hiện tại L chưa trả cho c đại , nhà phân phối số tiền L chiếm
đoạt, tổng cng 12.177.304.874 đồng. Toàn bsố hàng L chiểm đoạt của c
nhà cung cấp đều được bán cho anh Mạnh chcửa hàng Mạnh Hiền, đến nay anh
Mạnh đã n cho người kc nhưng không nhgiá n, người mua cụ thnên
không thu hồi được.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, đến cuối tháng 11 năm 2020 khi L
chiếm đoạt được số tiền hàng rất lớn cũng không thể tiếp tục lừa dối được
thêm nhà cung cấp nào nữa đồng thời L bị các nhà cung cấp liên tục đòi tiền nên
L đã bán tất cả các tài sản của vợ chồng để trả nợ rồi bỏ trốn vào thành phố Hồ
Chí Minh. Do không gặp và không liên lạc được với L, các nhà phân phối và đại
11
đã làm đơn tố cáo L gửi đến quan Công an tỉnh Bắc Ninh. Trong khi
quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh đang tiến hành điều tra xác minh vụ việc thì
một số nhà cung cấp đã gặp L tại khu vực phường 26, quận Bình Thạnh, thành
phố Hồ Chí Minh khi L đang thuê trọ và sống một mình ở đó. Ngày 21/12/2020,
những người này yêu cầu L về quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh để làm
việc. Tại đây, Nguyễn Thị L đã đầu tkhai nhận về hành vi lừa đảo chiếm
đoạt tài sản của mình.
* Về vật chứng thu giữ:
- Khi đầu thú, L đã giao nộp: 01 máy điện thoại Sam Sung Note 20; 01 điện
thoại di động Nokia màu đen; 01 chứng minh nhân dân số 01 thẻ ATM ngân
hàng BIDV đều mang tên Nguyễn Thị L; 01 chứng nhận đăng xe ô số
035151; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 5798901; 01 giấy chứng nhận bảo
hiểm số 0202587/21 của bảo hiểm PVI (đều của xe ô tô BKS 99C-142.77).
- Ngày 13/8/2021, quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra Lệnh
biên tài sản số 01/PC03 đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Teraco, loại xe Tera 240,
số máy: JE493ZLQ3A32053844, số khung:RM0TD17JLHC000290, đăng ký
chủ xe: Công ty TNHH Thương mại dịch vụ tổng hợp MP.
Ngày 12/8/2021, quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định
tạm giữ đồ vật, tài liệu tạm giữ stiền trong tài khoản 43210001040450 Ngân
hàng BIDV mang tên Công ty TNHH thương mại dịch vụ tổng hợp MP số tiền
1.141.161 đồng.
Trong quá trình điều tra, truy tố, Nguyễn Thị L đã khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số: 47/CT-VKS-P1 ngày 08/6/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Nguyễn Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
như Cáo trạng đã truy tố, cụ thể: Do làm ăn thua lỗ, cần tiền để trả n nên bị cáo
đã đưa ra thông tin gian dối về việc mua hàng hóa đbán cho một stổ chức đi
từ thiện và các công ty trong khu công nghiệp… Bị cáo đã đặt mua một số lượng
hàng hóa lớn sau đó bán ngay với giá thấp hơn giá mua đlấy tiền trang trải nợ
nần nhân và chiếm đoạt tiền của các bị hại. Bị cáo đã nhiều lần gian dối,
chiếm đoạt của các bị hại tổng số tiền 12.177.304.874 đồng. Bị cáo nhận thức
được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo
được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
Các bhại mặt tại phiên tòa m nay cũng như trong quá trình điều tra
tại phiên toà ngày 9/5/2022 đều trình bày: yêu cầu bị cáo L phải hoàn trả số
12
tiền đã chiếm đoạt. Cụ thể:
1. Công ty cổ phần phân phối MP: 1.381.500.00;
2. Nhà pp TV: 1.065.813.000đ;
3. Anh Đinh Văn Tr: 258.500.000đ;
4. Công ty TNHH Thế Uyên: 419.000.000đ;
5. Nhà PP NC: 156.250.000đ;
6. Công ty cổ phần NH: 390.000.000đ;
7. Công ty B: 3.112.605.800đ;
8. Công ty LH: 1.077.465.017đ;
9. Anh Nguyễn Tuấn Q: 1.019.598.000đ;
10. Công ty BT: 2.297.070.000đ;
11. Công ty HC: 999.502.530đ. Về trách nhiệm hình sự: Các bị hại yêu cầu
xử bị cáo L theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nếu bị cáo L trách
nhiệm thanh toán trả các bị hại luôn số tiền L đã chiếm đoạt thì các bị hại có mặt
tại phiên toà hôm nay đều xin giảm nhẹ hình phạt cho L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Bá Đ trình bày: Mặc
anh người đứng tên giám đốc Công ty Anh Đạt nhưng mọi hoạt động của
công ty là do L điều hành, hiện nay công ty Anh Đạt đã giải thể. Anh khẳng định
không biết, không liên quan gì đến việc Công ty Anh Đạt hợp đồng mua bán
hàng hoá với Công ty cổ phần Bánh kẹo HC. Anh không cho L vay tiền và cũng
không vay tiền của L.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đ vắng mặt tại
phiên toà hôm nay. Tuy nhiên phiên toà ngày 9/5/2022 anh trình bày: Anh
không biết không liên quan đến hành vi lừa đảo của L. Mặc anh tên
trong Công ty MP nhưng mọi hoạt động đều do L điều hành. Anh nhất trí, không
ý kiến việc quan điều tra biên chiếc xe ô của Công ty MP đđảm
bảo thi hành án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại
phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi nhận xét tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhân thân của bị cáo, các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo
Nguyễn Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm
g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 19
đến 20 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2020.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo L phải trả lại các bị hại số tiền đã
13
chiếm đoạt, cụ thể: Trả lại cho Công ty Cổ phần Phân phối MP số tiền
1.381.500.000 đồng; Nhà phân phối TV stiền 1.065.813.000 đồng; Hộ kinh
doanh Đinh Văn Tr số tiền 258.500.000 đồng; Công ty TNHH Thương mại
dịch vụ TQ số tiền 419.000.000 đồng; Nhà phân phối NC số tiền 156.250.000
đồng; Công ty cổ phần thương mại dịch vụ NH số tiền 390.000.000 đồng;
Công ty TNHH một thành viên B stiền 3.112.605.800 đồng; Công ty TNHH
thương mại dịch vụ LH stiền 1.077.465.017 đồng; Hộ kinh doanh Tuấn Q
số tiền 1.019.598.000 đồng và Công ty TNHH BT số tiền 2.297.070.500 đồng;
Công ty HC số tiền 999.502.530 đồng.
Về vật chứng:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 1 điện thoại Nokia màu đen của bị o
L sử dụng vào việc phạm tội.
- Trả lại bị cáo 01 điện thoại Samsung Note 20; 01 chứng minh nhân dân số
125988021 mang tên Nguyễn Thị L; 01 thẻ ATM ngân hàng BIDV mang tên
Nguyen Thi Luyen; 01 chứng nhận đăng xe ô tô số 035151; 01 chứng nhận
đăng kiểm xe số 5798901 của xe BKS 99C1-142.77 01 giấy chứng nhận bảo
hiểm tự nguyện, bảo hiểm bắt buộc số 0202587/21 của bảo hiểm PVI của xe ô tô
BKS 99C1-142.77 nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
- Tiếp tục duy trì lệnh biên tài sản đối với chiếc xe ô BKS 99C1-
142.77;
Tạm giữ số tiền 1.141.161đ trong tài khoản của Công ty MP.
Luật bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị L phát biểu: Nhất trí về tội danh
khung hình phạt như cáo trạng đã truy tố, đồng thời cũng nhất trí với đnghị
của Viện kiểm sát cho bị cáo L được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS. Trên sở đó,
luật sư đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị
cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
Bị cáo nhất trí với quan điểm của luật sư bào chữa, không bổ sung gì thêm.
Các bị hại ý kiến: Về trách nhiệm hình snhất trí như luận tội của Viện
kiểm sát. Tuy nhiên, về trách nhiệm dân sự đề nghị XX xem xét buộc cả 2
vợ chồng bị cáo phải trách nhiệm trả lại số tiền đã chiếm đoạt của các bhại.
đnghị làm một số tài sản của vợ chồng bị cáo đã trước khi L chưa bị
bắt để đảm bảo quyền lợi cho các bị hại.
Đối đáp với ý kiến của các bị hại, đại diện Viện kiểm sát khẳng định: Quá
trình điều tra cho thấy L 2 thửa đất nên quan điều tra đã tiến hành xác
minh thì hai thửa đất này vợ chồng L đã chuyển nhượng cho người khác hợp
pháp. Đối với 2 chiếc xe ô CX5 CX8 thì bị cáo cũng đã bán cho người
14
khác theo đúng quy định của pháp luật nên không sở để xem xét đối với
những tài sản này. Về ý kiến yêu cầu anh Đông chồng của bị cáo L anh
Đương là em trai của anh Đông cùng phải trách hiệm trả lại cho các bị hại số
tiền L đã chiếm đoạt thì qtrình điều tra không tài liệu, căn cứ nào chứng
minh anh Đông anh Đương đồng phạm với Luyên để lừa đảo chiếm đoạt tài
sản của các bị hại. Do vậy, không có căn cứ để buộc anh Đông và anh Đương
cùng phải trách nhiệm trả lại số tiền bị cáo L đã chiếm đoạt. Từ những phân
tích trên, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã luận tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc
Ninh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo
không ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời
khai của bị cáo tại quan điều tra, lời khai của các bị hại; người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ vụ án, HĐXX
nhận thấy đủ sở để kết luận: Mặc biết việc một số nhà cung cấp, nhà
phân phối quy định trên địa bàn mỗi tỉnh chỉ một hoặc hai nhà phân phối
đại chỉ được bán hàng trên địa bàn được giao, không được bán lấn vùng, lấn
tuyến, tuy nhiên do cần tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân, trong khoảng thời gian
từ tháng 7/2020 đến tháng 12/2020, Nguyễn Thị L Giám đốc Công ty TNHH
thương mại dịch vụ tổng hợp MP đã làm hợp đồng với các nhà cung cấp hàng
hóa là L mua hàng số lượng lớn để bán cho một số tổ chức đi từ thiện hoặc L
đơn đặt mua hàng với số lượng lớn của một scông ty trong khu công nghiệp
nhưng thực chất L đã nảy sinh ý thức gian dối từ đầu, sau khi các nhà cung
cấp tin tưởng giao hàng thì L mang hàng đi bán cho anhTrần Xuân M với giá
thấp hơn so với gL đã mua của nhà cung cấp rồi lấy tiền ngay để sử dụng
tiền chi tiêu, trả nợ nhân đồng thời không trả tiền hàng hoặc chỉ trả một phần
cho nhà cung cấp. Sau đó L bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh để không phải
trả nợ. Tổng giá trị tiền hàng L chiếm đoạt của 11 nhà phân phối đại
12.177.304.874 đồng. Do đó, hành vi của Nguyễn Thị L đã đủ yếu tố cấu thành
tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự
15
như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Ngoài 11 nhà phân phối, đại được xác định là bị hại, trong quá trình điều
tra L khai báo về việc L mua hàng của một sđơn vị khác gồm: Công ty UC,
Công ty TNHH thương mại dịch vụ HA ông Nguyễn Ngọc Huy. Tuy
nhiên trong hợp đồng giữa công ty MP với công ty UC, công ty HA không thỏa
thuận về phạm vi bán hàng hay mục đích mua hàng để làm gì. Công ty MP
không làm hợp đồng với ông Nguyễn Ngọc Huy và cũng không thỏa thuận về
phạm vi bán hàng hay mục đích mua hàng. Do vậy, không căn cứ chứng
minh bị cáo hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của ông Huy các
công ty này.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho hội, đã xâm
phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây
hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình
hình trị an tại địa phương. Bị cáo đã chiếm đoạt số tiền rất lớn của nhiều bị hại
nên cần hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống hội một
thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện,
ích cho xã hội.
[2]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
của bị cáo, HĐXX nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L đã chiếm đoạt của
nhiều bị hại, cụ thể của Công ty Cổ phần Phân phối MP 1.381.500.000
đồng; Nhà phân phối TV 1.065.813.000 đồng; Hộ kinh doanh Đinh Văn Tr là
258.500.000 đồng; Công ty TNHH Thương mại dịch vụ TQ 419.000.000
đồng; Nhà phân phối NC 156.250.000 đồng; Công ty cổ phần thương mại
dịch vụ NH 390.000.000 đồng; Công ty TNHH một thành viên B
3.112.605.800 đồng; ng ty TNHH thương mại dịch vụ LH
1.077.465.017 đồng; Hộ kinh doanh Tuấn Q 1.019.598.000 đồng; Công ty
TNHH BT 2.297.070.500 đồng Công ty HC 999.502.530 đồng. Do vậy,
bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Phạm tội 02 lần trở
lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Vtình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhân thân tốt, chưa có
tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội đã đến quan Công an đầu thú, thành khẩn
khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trước khi xét
xử thẩm gia đình bị cáo L đã nộp 100.000.000đ để khắc phục hậu quả cho L,
bcáo ông nội được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương kháng chiến.
Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
16
Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không
áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát là phù hợp.
[3]. Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
Bị cáo hành vi gian dối chiếm đoạt hàng hóa trị giá 12.177.304.874
đồng của 11 bị hại. Quá trình điều tra tại phiên toà hôm nay các bị hại đều
yêu cầu bị cáo L phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt. Do vậy,
cần buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải trả lại các bị hại số tiền đã chiếm đoạt tổng
cộng là 12.177.304.874 đồng, cụ thể: Trả lại cho Công ty Cổ phần Phân phối
MP stiền 1.381.500.000 đồng; Nhà phân phối TV số tiền 1.065.813.000đồng;
Hộ kinh doanh Đinh Văn Tr số tiền 258.500.000 đồng; Công ty TNHH Thương
mại và dịch vụ TQ số tiền 419.000.000 đồng; Nhà phân phối NC số tiền
156.250.000 đồng; Công ty cổ phần thương mại dịch v NH số tiền
390.000.000 đồng; Công ty TNHH một thành viên B số tiền 3.112.605.800
đồng; Công ty TNHH thương mại dịch vụ LH số tiền 1.077.465.017 đồng;
Hộ kinh doanh Tuấn Q số tiền 1.019.598.000 đồng; Công ty TNHH BT số tiền
2.297.070.500 đồng; Công ty cổ phần bánh kẹo HC số tiền 999.502.530 đồng.
Xác nhận bị cáo đã nộp 100.000.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc
Ninh.
Đối với ý kiến của các bị hại yêu cầu anh Đvà anh Đ1 cùng phải trách
nhiệm trả lại stiền L đã chiếm đoạt yêu cầu làm các tài sản của bị cáo L
trước khi L bbắt không căn cứ như vị đại diện Viện kiểm sát đã đối
đáp là phù hợp pháp luật.
[4]. Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại Nokia màu đen bị cáo sử
dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại Samsung Note 20; 01 chứng minh nhân dân số
125988021 mang tên Nguyễn Thị L; 01 thẻ ATM ngân hàng BIDV mang tên
Nguyen Thi Luyen; 01 chứng nhận đăng xe ô tô số 035151; 01 chứng nhận
đăng kiểm xe số 5798901 của xe BKS 99C1-142.77 01 giấy chứng nhận bảo
hiểm tự nguyện, bảo hiểm bắt buộc số 0202587/21 của bảo hiểm PVI của xe ô tô
BKS 99C1-142.77 bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo
nhưng cần tạm gi01 điện thoại Samsung Note 20 các giấy tờ liên quan đến
chiếc xe ô tô BKS 99C1- 142.77 để đảm bảo việc thi hành án.
Đối với 01 xe ô tô tải đã qua sử dụng, nhãn hiệu Teraco, BKS 99C1-142.77
tài sản của Công ty MP (tức tài sản chung của b cáo chồng anh
Nguyễn Đ), chiếc xe này bị cáo không dùng vào việc phạm tội, anh Đông tự
nguyện dùng để khắc phục hậu quả cho bị cáo không đnghị yêu cầu
17
nên cần Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số 01/PC03 ngày 13/8/2021 của Cơ
quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh đối với chiếc xe ô nhãn hiệu Teraco, loại
xe Tera 240, số máy: JE493ZLQ3A32053844, s khung:
RM0TD17JLHC000290, đăng chủ xe: Công ty TNHH Thương mại dịch vụ
tổng hợp MP để đảm bảo thi hành án.
Đối với số tiền 1.141.161 đồng trong tài khoản 43210001040450 Ngân
hàng BIDV mang tên Công ty TNHH thương mại dịch vụ tổng hợp MP, đây
tài sản chung của bị cáo và anh Nguyễn Đ, anh Đ đồng ý dùng tiền này để
bồi thường cho bị hại nên cần dùng số tiền này để trả các bị hại.
* Liên quan trong vụ án: Đối với các anh Nguyễn Mạnh Quý, Bùi Tiến
Anh, Trần Hữu Anh Trần Danh Quang nhân viên lái xe bốc xếp hàng
hóa của Công ty TNHH thương mại dịch vụ tổng hợp MP. Tuy nhiên, trong quá
trình làm việc tại Công ty chỉ thực hiện nhiệm vụ theo schỉ đạo của L, không
biết L mua ng của các nhà cung cấp để chiếm đoạt nên quan điều tra
không xem xét xử lý là phù hợp.
- Đối với anh Trần Xuân M và chị Trần Thị Hiền chủ cửa hàng Mạnh
Hiền đã mua hàng của L nhưng khi mua thì anh Mạnh và chị Hiền không biết s
hàng đó do L lừa đảo chiếm đoạt có nên quan điều tra không xem xét
xử lý là phù hợp.
- Đối với anh Đinh Văn Tr người giới thiệu cho L mua hàng của Công
ty cổ phần phân phối MP Nhà phân phối TV nhưng anh Trịnh không biết
mục đích L mua hàng để chiếm đoạt nênquan điều tra không đề cập xử
phù hợp.
- Đối với anh Nguyễn Đ Nguyễn Bá Đ1 những nời tham gia
thành lập Công ty với L nhưng mọi hoạt động của Công ty đều do L điều hành, các
anh đều không biết gì về việc L mua ng của nhà cung cấp để chiếm đoạt n Cơ
quan điều tra không xem xét xử là phù hợp.
- Đối với hành vi L giả ch của anh Đương o hợp đồng tiêu thụ sản
phẩm. Tuy nhn, mọi hoạt động kinh doang của công ty Anh Đạt đều do L điu
nh, anh Đương chđứng n giám đốc không tham gia bất kỳ hoạt động o
của ng ty. Ngi ra, L người trc tiếp nhận o biên bản giao hàng khi
ng ty HC giao hàng cho ng ty Anh Đạt
[4]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án
phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
18
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm
g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị L 20 (Hai
mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 21/12/2020.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo
Nguyễn Thị L 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo
việc thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự biện pháp pháp: Áp dụng Điều 48 Bộ luật
hình sự ; Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải trả lại 11 bhại số tiền đã chiếm đoạt tổng
cộng là 12.177.304.874 đồng, cụ thể: trả lại cho Công ty Cổ phần Phân phối MP
số tiền 1.381.500.000 đồng; trả lại cho Nhà phân phối TV số tiền 1.065.813.000
đồng; trả lại cho Hộ kinh doanh Đinh n Tr số tiền 258.500.000 đồng; trả lại
cho Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ TQ số tiền 419.000.000 đồng; trả lại
cho Nhà phân phối NC số tiền 156.250.000 đồng; trả lại cho Công ty cổ phần
thương mại dịch vụ NH số tiền 390.000.000 đồng; trả lại cho Công ty TNHH
một thành viên B số tiền 3.112.605.800 đồng; trả lại cho Công ty TNHH thương
mại dịch vụ LH số tiền 1.077.465.017 đồng; H kinh doanh Tuấn Q stiền
1.019.598.000 đồng; Công ty TNHH BT số tiền 2.297.070.500 đồng trả lại
cho công ty Cổ phần bánh kẹo HC số tiền là 999.502.530 đồng.
Xác nhận bị cáo đã nộp 100.000.000đ theo biên lai thu tiền số 0000363
ngày 14/4/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh số tiền 1.141.161
đồng trong tài khoản 43210001040450 Ngân hàng BIDV mang tên Công ty
TNHH thương mại dịch vụ tổng hợp MP theo biên lai thu tiền số 0000056 ngày
21/10/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, còn phải nộp
12.076.163.713 đồng.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng
phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại điều 468
Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại c điều 6,7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố
tụng hình sự:
19
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Nokia màu đen của
Nguyễn ThL.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị L 01 điện thoại Samsung Note 20; 01 chứng
minh nhân dân số 125988021 mang tên Nguyễn Thị L; 01 thẻ ATM ngân hàng
BIDV mang tên Nguyen Thi Luyen; 01 chứng nhận đăng xe ô số 035151;
01 chứng nhận đăng kiểm xe số 5798901 của xe BKS 99C1-142.77 01 giấy
chứng nhận bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm bắt buộc số 0202587/21 của bảo
hiểm PVI của xe ô BKS 99C1-142.77 nhưng tạm giữ 01 điện thoại Samsung
Note 20 và các giấy tờ xe ô tô BKS 99C1- 142.77 để đảm bảo việc thi hành án.
Tiếp tục duy trì Lệnh biên tài sản số 01/PC03 ngày 13/8/2021 của
quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh đối với chiếc xe ô nhãn hiệu Teraco, loại
xe Tera 240, số máy: JE493ZLQ3A32053844, số khung:
RM0TD17JLHC000290, đăng chủ xe: Công ty TNHH Thương mại dịch vụ
tổng hợp MP để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản
số 07 ngày 13/10/2021 của Cc thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa
14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự thẩm
120.076.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặt quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể tngày
nhận được tống đạt bản án.
Nơi nhận:
- TAND Cấp cao, VKSND Cấp cao;
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- CQCSĐTng an tỉnh Bắc Ninh ;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bắc Ninh;
- Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
- Bị cáo; người TGTT;
- Lưu HS; Tòa HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hữu Hòa
Tải về
Bản án 60/2022/HS-ST Bắc Ninh Bản án 60/2022/HS-ST Bắc Ninh

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 60/2022/HS-ST Bắc Ninh Bản án 60/2022/HS-ST Bắc Ninh

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất