Bản án số 59/2023/DS-PT ngày 21/02/2023 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 59/2023/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 59/2023/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 59/2023/DS-PT ngày 21/02/2023 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại TP.HCM |
| Số hiệu: | 59/2023/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/02/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 59/2023/DS-PT
Ngày: 21 - 02 - 2023
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thm phán Ch ta phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Vân
Các Thm phán: Ông Phan Đức Phương
Ông Lê Thành Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
384/2022/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp quyền sử
dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2022/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2022
của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 80/2023/QĐPT-DS
ngày 16 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
: Ông Đặng Xuân B, sinh năm: 1960; (có mặt)
Địa chỉ: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết H,
sinh năm: 1962; (có mặt)
Địa chỉ thường trú: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Ngọc M – Luật
sư thuộc Văn phòng luật sư Nguyễn Thị Ngọc M. (có mặt)
: Trường mẫu giáo T;
Người đại diện theo pháp luật là bà: Nông Thị Bích L, chức vụ: Hiệu
Trưởng. Địa chỉ: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
2
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị T, sinh năm: 1980; (có mặt)
Địa chỉ: Khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
:
3.1 Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí K, chức vụ: Phó giám đốc
Sở tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ. (văn bản ủy quyền ngày
07/9/2020). (vắng mặt)
3.2 Văn phòng công chứng L; (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
3.3 Bà Huỳnh Thị P đã chết, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà P:
3.3.1 Ông Huỳnh Tương A, sinh năm: 1960; (vắng mặt)
3.3.2 Bà Từ Thanh D, sinh năm: 1962; (vắng mặt)
3.3.3 Bà Từ Kim D, sinh năm: 1979; (vắng mặt)
3.3.4 Bà Từ Ái Th, sinh năm: 1991; (vắng mặt)
3.3.5 Bà Huỳnh Từ T, sinh năm: 1999; (vắng mặt)
Địa chỉ: 31/7, đường Mậu T, phường An H, quận Ninh K, thành phố Cần
Thơ.
3.4 Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ;
Đại diện theo ủy quyền là ông Đỗ Văn H, sinh năm 1968, chức vụ Phó
trường Phòng Tài nguyên và Môi trường quận T. (vắng mặt)
i kháng cáo: Nguyên đơn ông Đặng Xuân B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
trình bày:
Ông là chủ sử dụng thửa đất số 166, tờ bản đồ số 3, theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CH 03846 do Ủy ban nhân dân
quận T cấp ngày 30/9/2015, đất tọa lạc tại Khu vực P, phường T, quận T, thành
phố Cần Thơ. Phần đất trên có nguồn gốc là của cụ Huỳnh Văn H (đã chết). Cụ
Hanh là cha ruột của ông ngoại ông là cụ Huỳnh Văn Th và bà cô ông là bà
Huỳnh Thị P.
Năm 1968 ông Huỳnh Hữu L (là con ruột cụ Huỳnh Văn Th tham gia
kháng chiến, cụ Th là người có công cách mạng) được ông nội là cụ Huỳnh Văn
H cho thừa kế 02 thửa đất tại ấp Phụng Thạnh 2, xã Trung Nhứt, huyện Thốt
Nốt, tỉnh Hậu Giang gồm có: thửa đất số 265-140 (đất vườn diện tích 0,2760 ha
(2.760m
2
) và thửa đất 266-141 diện tích 68m
2
cặp sông Thốt Nốt).
Năm 1975 ông Huỳnh Hữu L định cư và chết tại Mỹ nên để giấy tờ nhà đất cho
ông ngoại ông là Huỳnh Văn Th và bà ngoại ông là bà Võ Thị No giữ. Ông là con
ruột của bà Huỳnh Thị Ngọc L và bà L là chị ruột của ông Huỳnh Hữu L.
3
Năm 1979 bà cô ruột của ông là Huỳnh Thị P (bà P là em ruột ông Thặng)
đại diện cho ông ngoại và bà ngoại ông đứng ra hiến đất cho Ủy ban nhân dân
huyện Thốt Nốt 01 ngôi nhà kiên cố (01 trệt 01 lầu) và một phần diện tích đất từ
nhà trở ra lộ thuộc thửa đất 265-140 để thành lập Trường tiểu học Trung Nhứt 4.
Sau đó, hiệu trưởng trường tiểu học là ông Chương Công Kh đã xây dựng hàng
rào bao quanh trường để làm ranh giới, phần đất còn lại do ông quản lý và gia
đình đã xây cất nhà ở năm 1985 cư trú cho đến nay.
Năm 2015 ông thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất thì được biết
bà Huỳnh Thị P đã được Ủy ban nhân dân huyện Thốt Nốt (cũ) cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thửa số 166, diện tích 1.670m
2
loại đất N
+
(Thực tế là
đất vườn, trên đất có 02 ngôi mộ tổ tiên). Thực chất đây chính là là thửa đất số
265-140 còn lại sau khi hiến đất lập trường.
Ông được biết bà Huỳnh Thị P có chuyển nhượng một phần đất diện tích
159m
2
thuộc thửa đất 166 cho ông Trần Văn X nên năm 2015 bà Huỳnh Thị P
chuyển nhượng phần còn lại 1.511m
2
thuộc thửa đất 166 cho ông.
Nay, ông phát hiện thửa đất số 2253 mà Trường mẫu giáo T đang sử dụng
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BP
303129 vào sổ số CT 00284 do Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thừa ủy
quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ cấp cho trường ngày
30/8/2013 làm sân trường, phòng học, hình thành năm 2001 xây dựng và lấn
chiếm 680,3m
2
thuộc thửa đất số 166 thuộc quyền sử dụng đất của ông. Bởi vì từ
trước đến nay Nhà nước không có thu hồi, bồi hoàn giá trị diện tích đất này cho
người sử dụng đất trước khi giao đất xây dựng trường học điều đó xâm phạm
đến quyền lợi ích chính đáng của ông.
Ông khởi kiện yêu cầu: Buộc Trường mẫu giáo T phải trả lại cho ông diện
tích bị lấn chiếm là 680,3m
2
tại thửa đất số 2253, tờ bản đồ số 03 theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BP 303129 vào sổ
số CT 00284 đã cấp cho trường do đất có nguồn gốc từ gia đình của ông.
Yêu cầu Tòa án tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất cấp cho trường là không đúng thẩm quyền, không đúng đối
tượng sử dụng đất, không đúng nguồn gốc theo quy định của luật đất đai.
Yêu cầu Tòa án đề xuất kiến nghị Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần
Thơ điều chỉnh lại loại đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất số CH 03846 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 30/9/2015
cấp cho ông vì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
thực tế trên đất chỉ có cây ăn trái, có nhà ở và 02 ngôi mộ đã chôn cất trên phần
đất trước thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị P
nhưng lại ghi đất nghĩa trang nghĩa địa.
có bà : Trường
mẫu giáo T được cấp 680,3m
2
và được Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ ra
Quyết định số 2400/QĐ-UBND ngày 05/8/2013 về việc công nhận quyền sử
dụng đất cho Trường mẫu giáo T tại phường T, quận T, thành phố Cần Thơ và
4
có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay sử dụng không thay đổi hiện
trạng. Do đó, nguyên đơn khởi kiện là không có cơ sở. Đề nghị Tòa án bác yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
: Ông B kiện cho rằng Trường mẫu giáo T
xây dựng vào năm 2001, có lấn qua diện tích 680,3m
2
thuộc thửa đất số 166 của
ông B được cấp giấy chứng nhận hợp pháp năm 2015, đã xâm phạm đến quyền
lợi ích hợp pháp của ông. Vì vậy, ông B đề nghị trường phải trả lại diện tích
680,3m
2
. Theo hồ sơ cung cấp thì thể hiện:
Thửa đất số 167, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.670m
2
(loại đất Tcq) do
trường Trung Nhứt 4 đăng ký sử dụng. Thửa đất số 166, tờ bản đồ số 03 diện
tích 1.670m
2
(loại đất N
+
) do bà Huỳnh Thị P đăng ký sử dụng. Tuy nhiên, trên
thực tế hiện trạng sử dụng ổn định chỉ có diện tích 760,1m
2
. Trường mẫu giáo T
được cấp diện tích 680,3m
2
thửa đất số 2253 (thuộc một phần thửa đất số 167
nêu trên) và trường tiểu học Trung Kiên 2 được cấp diện tích 1.117,4m
2
(trong
đó có 125,8m
2
) đất thuộc hành lang an toàn sông. Thửa số 2252 (thuộc một phần
thửa 167 nêu trên). Như vậy, cả hai trường được cấp 1.857,7m
2
(trong đó có
125,8m
2
đất thuộc hành lang an toàn sông).
Bà Huỳnh Thị P được cấp diện tích 1.511m
2
(do đã chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho ông Xương diện tích là 159m
2
) thửa đất đất số 166.
Theo hiện trạng sử dụng đất thực tế thì: Trường tiểu học Trung Kiên và
Trường mẫu giáo T sử dụng đúng ranh, ổn định, không tranh chấp.
Bà P sử dụng ổn định từ năm 1980 theo hiện trạng đến nay không tranh
chấp. Đến năm 2015 chuyển nhượng cho ông B thì ông B cho rằng bị lấn diện
tích 680,3m
2
(tương đương 50% diện tích thửa 166). Hiện nay, ông B đang sử
dụng diện tích đất thực tế là 760,1m
2
.
Qua làm việc với Ủy ban nhân dân phường T cho thấy: Từ năm 1980 đến
nay địa phương không nhận bất cứ đơn nào của bà P về tranh chấp quyền sử
dụng đất hoặc ranh đất đối với trường.
Từ những diễn biến nêu trên nhận thấy: Việc ông B cho rằng Trường mẫu
giáo T lấn ranh diện tích đất 680,3m
2
và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đã cấp cho trường là không có căn cứ.
trình bày: Năm 2015 hộ bà
Huỳnh Thị P chuyển nhượng hết diện tích đất thửa số 166, tờ bản đồ số 03, diện
tích 1.511m
2
đất nghĩa trang, nghĩa địa cho ông Đặng Xuân B và được Ủy ban
nhân dân quận T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 03846 ngày
30/9/2015 việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B theo đúng
trình tự thủ tục quy định.
Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B không có
đo đạc thực tế nên không thực hiện việc ký giáp ranh của các hộ lân cận mà chỉ
thực hiện việc chuyển nhượng hết diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
5
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của hộ bà Huỳnh Thị P.
Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho Trường mẫu giáo T là đúng quy định tại khoản 4, Điều 5;
khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 3 Điều 52 luật Đất đai năm 2003 và Điều 5
Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với
đất.
Việc ủy ban nhân dân quận T cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH3202 ký ngày 29/12/2014
cho bà Huỳnh Thị P diện tích 1.511m
2
là không đúng diện tích và loại đất thực tế
đang sử dụng và không đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 77, Nghị
định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013. Từ đó, việc ông B là người
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận không đúng vừa
nêu để yêu cầu Trường mẫu giáo T trả lại đất là không có cơ sở.
, bà , bà
, bà , bà ): Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhưng vẫn
vắng mặt không lý do nên không ghi được ý kiến.
trình bày: Ngày 12/01/2015 Văn phòng công
chứng Thới Lai tiến hành mời bà P, những người trong hộ bà và ông Đặng Xuân
B đến Văn phòng công chứng tiến hành việc ký tên vào hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất do bà P cung cấp cho văn phòng. Văn phòng công
chứng đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng giữa hộ bà P và ông B là hoàn
toàn phù hợp và đúng pháp luật. Căn cứ vào Điều 6, Điều 7 của Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 22, quyển số
01/2015/TP/CC/HĐGD đã được công chứng ngày 12/01/2015. Văn phòng công
chứng xin phép được vắng mặt khi Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ kiện trên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2022/DS-ST ngày 23/6/2022 của Tòa
án nhân dân thành phố Cần Thơ quyết định:
kk
-
-
--
6
1.
.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử ngày 28 tháng 6 năm 2022 nguyên đơn ông Đặng Xuân B
kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm đề nghị chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ti phiên tòa phúc thm:
Nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc đất của ông bà ngoại để lại cho con
cháu, trước khi chết bà P đã giao hết toàn bộ diện tích đất cho ông diện tích
1.511m
2
và ông đã được cấp GCN nhưng trong quá trình sử dụng đất ông phát
hiện ra việc Trường mẫu giáo T chiếm dụng đất của ông. Nếu trường không
đồng ý trả đất thì ông chỉ xin lại con đường đi vì quá hẹp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện bị đơn trình bày: Trường chỉ sử dụng trên diện tích đất do Sở
TNMT cấp nên không có quyền quyết định cho con đường đi hay không?
Vin kim sát nhân dân cp cao ti Thành ph H Chí Minh có ý kin: Về
hình thức đơn kháng cáo của nguyên đơn lập trong thời hạn luật định nên được
chấp nhận. Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn không cung cấp được
tình tiết nào mới để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn quy định của pháp luật
nên hợp lệ.
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết tòa sơ thẩm xác định là theo
quy định Điều 26, 37, 39 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
Qua xem xét hồ sơ của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ
cung cấp thì thể hiện: Thửa đất số 167, tờ bản đồ số 03, diện tích 1670m
2
(loại
đất Tcq) do trường Trung Nhứt 4 đăng ký sử dụng. Thửa đất số 166, tờ bản đồ
số 03 diện tích 1.670m
2
(loại đất N
+
) do bà Huỳnh Thị P đăng ký sử dụng. Tuy
7
nhiên, trên thực tế hiện trạng sử dụng ổn định chỉ có diện tích 760,1m
2
. Trường
mẫu giáo T được cấp diện tích 680,3m
2
thửa đất số 2253 (thuộc một phần thửa
đất số 167 nêu trên) và trường Tiểu học Trung Kiên 2 được cấp diện tích
1.117,4m
2
(trong đó có 125,8m
2
) đất thuộc hành lang an toàn sông. Thửa số
2252 (thuộc một phần thửa 167 nêu trên). Như vậy, cả hai trường (giáp ranh với
nhau) được cấp 1.857,7m
2
(trong đó có 125,8m
2
đất thuộc hành lang an toàn
sông. Đất của bà P được cấp diện tích 1.511m
2
(do đã chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho ông X diện tích là 159m
2
) thửa đất số 166.
Bà P sử dụng ổn định từ năm 1980 theo hiện trạng đến nay không tranh
chấp. Đến năm 2015 chuyển nhượng cho ông B thì ông B cho rằng bị lấn diện
tích 680,3m
2
. Hiện nay, ông B đang sử dụng diện tích đất thực tế là 760,1m
2
.
Theo chính quyền địa phương cung cấp từ khi bà P hiến đất cho nhà nước
để xây dựng trường từ năm 1980 đến nay thì địa phương không nhận được bất kì
đơn thư khiếu nại nào từ bà P. Quá trình chuyển nhượng đất từ bà P sang tên qua
ông B thì các bên không đo đạc cụ thể. Ông B chuyển nhượng chấp nhận với
diện tích thực tế mà bà P đã giao. Trong khi đó trường mẫu giáo đã tồn tại trước
khi hai bên chuyển nhượng đất cho nhau. Hai bên đã xây dựng hàng rào kiên cố
và Trường mẫu giáo T đã sử dụng phần đất trong hàng rào ổn định và phía gia
đình ông B cũng có lối đi riêng.
Trường mẫu giáo T được cấp 680,3m
2
và được UBND thành phố Cần Thơ
ra Quyết định số 2400/QĐ-UBND ngày 05/8/2013 về việc công nhận quyền sử
dụng đất đát cho Trường mẫu giáo T tại phường T, quận T, thành phố Cần Thơ
và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay sử dụng không thay đổi.
Ông B khởi kiện cho rằng Trường mẫu giáo T lấn diện tích đất 680,3m
2
và
đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Trường mẫu giáo T
là không có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử bác toàn bộ hai yêu cầu của ông do
không có cơ sở. Nếu ông B có tranh chấp với bà P về diện tích đất giao thiếu so
với hợp đồng chuyển nhượng thì khởi kiện thành một vụ kiện khác.
[3] Như vậy, nguyên đơn kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh
nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất ý kiến của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân cấp cao không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do ông B là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Đặng Xuân
Bảng
Giữ nguyên quyết định Bản án sơ thẩm.
8
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 37, Điều 91, Điều 92, Điều 93 Điều 97,
Điều 98, Điều 101, Điều 147, Điều 149, Điều 159, Điều 165, Điều 227, Điều
228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Khoản 4, Điều 5, Khoản 1 Điều 51, Khoản 1, khoản 3 Điều 52 Luật Đất
Đai năm 2003.
Điều 5 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ.
Điều 77 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu của ông Đặng Xuân B về việc: “Tranh chấp đòi
quyền sử dụng đất” với bị đơn là Trường mẫu giáo T.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu
điều chỉnh lại loại đất.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại diện tích giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của ông Đặng Xuân B theo diện tích đo đạc thực tế (Theo bản
trích đo địa chính ngày 03/3/2021 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi
trường – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ).
II. Án phí phúc thẩm: Nguyên đơn ông Đặng Xuân B được miễn án phí.
III. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9
Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao; (1)
- VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; (1)
- TAND thành phố Cần Thơ; (1)
- VKSND thành phố Cần Thơ; (1)
- Cục THADS thành phố Cần Thơ; (1)
- Đương sự (6)
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án (6) 17b (MTTT)
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Trần Thị Huyền Vân
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm