Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 56/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Quảng Ngãi (TAND tỉnh Quảng Ngãi)
Số hiệu: 56/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chấp nhận đơn khởi kiện
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI Độc lập – Tự do Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-9-2024
V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Lê Thị Na Na
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Thương
-Thư phiên tòa: Ông Đinh Văn Dương - TTòa án nhân dân thành
phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng
Ngãi tham gia phiên tòa: Hoàng Thị Thương Huyền - Kiểm sát viên.
Vào ngày 18 tháng 9 năm 2024 ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở
Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử thẩm công
khai ván dân s thụ số: 24/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2024
về việc tranh chấp Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 168/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024. Thông báo
chuyển ngày xét xử số 65/TB- TA ngày 20-5-2024. Quyết định hoãn phiên toà s
133/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024. Quyết định tạm ngừng phiên
toà số 66/2024/QĐST- HNGĐ. Thông báo về việc mở lại phiên toà số 25/TB-TA
ngày 26-8-2024 Quyết định hoãn phiên tsố 221/2024/QĐST-HNGĐ ngày
11 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thu Thanh, sinh năm 1978;
NĐKHKTT: Tổ 07, phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng
Ngãi.
Chỗ ở hiện nay: Hẻm 244 (268/34) đường Nguyễn Trãi, thành phố Quảng
Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
* Bị đơn: Ông Đào Ngọc Trung, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Số 126 đường Thành Thái, t07, phường Trần Phú, thành phố
Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
2
Thanh, ông Trung đều có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 15-11-2023 và đơn khởi kiện, sửa đổi bổ sung
đề ngày 26-12-2023; ngày 09-01-2024 ngày 19-3-2024 tài liệu, chứng cứ
có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Thu Thanh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu, bà Thanh với ông Trung đã
tổ chức đám cưới đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2003 tại Ủy ban nhân dân
xã Trà Phú, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất
hạnh phúc, sinh được 03 con chung, thời gian sau giữa và ông Trung đã xảy ra
nhiều bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn do tính tình không phù hợp,
thường xuyên cãi vã. Do đó, tình cảm vợ chồng đã không còn như trước, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Thanh yêu
cầu Toà án giải quyết cho được ly hôn với ông Trung.
Về con chung: Giữa Thanh với ông Trung 03 con chung, cháu Đào
Thị Khánh Hoa, sinh ngày 20-12-2003; cháu Đào Thị Nhã Trúc, sinh ngày 23-02-
2012 và cháu Đào Thị Nhã Hân, sinh ngày 10-9-2014. Hiện nay, con chung cháu
Đào Thị Khánh Hoa, sinh ngày 20-12-2003 đã thành niên, vậy khi ly hôn
Thanh không yêu cầu a án giải quyết việc giao cháu Hoa cho ai nuôi dưỡng và
cấp dưỡng nuôi. Đối với 02 con chung cháu Đào Thị Nhã Trúc, sinh ngày 23-02-
2012 cháu Đào Thị NHân, sinh ngày 10-9-2014. Khi ly hôn Thanh yêu
cầu được nuôi 02 con chung cháu Trúc, cháu Hân theo ý chí nguyện vọng của
02 con đều mong muốn được ở với mẹ. Vì vậy khi ly hôn, Thanh yêu cầu T
án giải quyết, giao 02 con cháu Trúc và cháu Hân cho bà là người trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Thanh yêu cầu bị đơn ông Trung cấp dưỡng nuôi
con một tháng 3.000.000 đồng cho 02 con, tương ứng 6.000.000đồng/tháng.
Về nợ chung: Không có
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn ông Đào Ngọc Trung đã bản trình bày ngày 24-01-2024;
ngày 24-4-2024; đơn phản đối ngày 27-5-2024 như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông có đăng ký kết hôn với Thanh đúng như
Thanh đã trình bày. Trong quá trình chung sống thì giữa ông Thanh bất
đồng quan điểm về cách xử sự trong cuộc sống, nhưng đó chỉ số ít chứ không
gì gọi mâu thuẫn trầm trọng. Trước đây, ông đồng ý ly hôn với Thanh,
lúc đó ông tự ái. Nay, ông suy nghĩ lại thấy vẫn còn thương vợ, thương các con,
mong con được sống vui vẻ, cha mẹ dạy dỗ, ông hứa sẽ không làm trái ý
Thanh. vậy, ông không đồng ý ly hôn với Thanh. Nhưng trường hợp Tòa án
giải quyết cho Thanh ly hôn thì giao một con chung cho ông nuôi dưỡng
Về con chung đúng nnội dung Thanh đã trình bày. Nhưng ông không
đồng ý giao 02 con chung cháu Đào Thị Nhã Trúc, sinh ngày 23-02-2012 và cháu
Đào Thị Nhã Hân, sinh ngày 10-9-2014 cho Thanh người trực tiếp, chăm
sóc, nuôi dưỡng giáo dục, không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. ông mong
3
muốn cả gia đình chung sống vui vẻ, đầm ấm. Trường hợp Tòa án đồng ý cho
Thanh ly hôn với ông, ông yêu cầu được nuôi một con chung, cháu nào cũng được,
không bên nào cấp dưỡng cho bên nào nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: không có
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh
Quảng Ngãi trình bày như sau:
- Về thủ tục ttụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm
phán, Thư Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố
tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ
đúng theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị
đơn đều chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 28, 35, 39, 144, 147 Bộ luật tố tụng dân
sự; Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều
27 Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của bà Nguyễn Thị Thu Thanh. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly
hôn của bà Nguyễn Thị Thu Thanh đối với ông Đào Ngọc Trung. Về con chung:
Giao cháu Đào Thị Nhã Trúc, sinh 23/02/2012 và Đào Thị Nhã Hân, sinh
10/9/2014 cho bà Nguyễn Thị Thu Thanh trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo
dục; ông Đào Ngọc Trung nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người
không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con không
ai được quyền cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
Về án phí ly hôn: Bà Nguyễn Thị Thu Thanh phải chịu theo quy định của
pháp luật. Về án phí cấp dưỡng: Ông Đào Ngọc Trung phải chịu theo quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được công bố, thẩm
tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện ý kiến của các đương
sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Nguyễn Thị Thu Thanh đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết xin ly hôn với ông Đào Ngọc Trung và yêu cầu được nuôi 02 con chung. B
đơn ông Đào Ngọc Trung nơi trú tại phường Trần Phú, thành phố Quảng
Ngãi. Do đó, xác định quan hệ pháp luật khi giải quyết là Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quảng
Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều
35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thu
Thanh, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Thanh, ông Trung có đăng kết hôn vào
năm 2003 tại Ủy ban nhân dân Trà Phú, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
4
Thanh và ông Trung được Ủy ban nhân dân xã Trà Phú cấp Giấy chứng nhận kết
hôn số 26 ngày18-07-2003. Nên xác định hôn nhân giữa Thanh và ông Trung
là hôn nhân hợp pháp.
Theo Thanh trình bày, trong quá trình sống chung vợ chồng đã phát sinh
mâu thuẫn, nguyên nhân là ông Trung cư xử tệ, không cho bà quyền gì trong gia
đình, do tính cách không hợp, thường xuyên cãi vã, tình cảm vợ chồng đã không
còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu
cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với ông Trung.
Đối với ông Trung, ông cho rằng vẫn còn thương vợ và các con. Trong quá
trình chung sống tgia ông với bà Thanh có bất đồng một số quan điểm, nhưng
đó chỉ là số ít, chỉ là cách xử sự của ông chưa thấu đáo với Thanh, chứ không
phải mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, ông không đồng ý ly hôn, ông mong muốn
đoàn tụ với Thanh cho ông một hội để sửa sai để vợ chồng con cái giữ
lại gia đình đầm ấm. Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho nguyên đơn ly hôn
với bị đơn tbị đơn yêu cầu Toà án giao một con chung (cháu nào cũng được)
để bị đơn được nuôi dưỡng, không yêu cầu nguyên đơn phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.2] t mâu thuẫn giữa Thanh và ông Trung, thấy rằng giữa Thanh
ông Trung mặc dù đã có với nhau 03 người con chung nhưng quá trình chung
sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Trong quá trình Toà án thụ đơn khởi kiện
của bà Thanh thì bà đã dọn ra làm nhà để sống riêng với 02 cháu Nhã Trúc, Nhã
Hân. Bản thân ông Trung đã có lần đồng ý ly hôn theo yêu cầu của Thanh. Tại
phiên tòa Thanh, ông Trung xác nhận Thanh đã xây nhà riêng để ở với hai
con sau khi ông, thỏa thuận chia tài sản chung. Kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án
theo yêu cầu khởi kiện của Thanh cho đến nay được 08 tháng nhưng ông Trung
không làm thay đổi được ý kiến của Thanh về việc chung sống lại với nhau.
Tòa án đã thực hiện hòa giải nhiều lần nhưng Thanh vẫn cương quyết yêu cầu
giải quyết cho ly hôn với ông Trung. Do đó, thấy mâu thuẫn giữa Thanh và
ông Trung không thể hòa giải được, hạnh phúc gia đình, đời sống chung vợ chồng
không còn. n Hội đồng xét xquyết định đồng ý giải quyết cho Thanh được
ly hôn ông Trung, chấm dứt quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 56
của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Xét yêu cầu nuôi con chung của Thanh, ông Trung:
[3.1] Đối với cháu Đào Thị Khánh Hoa, sinh ngày 20-12-2003 Thanh,
ông Trung xác nhận cháu đã thành niên, hiện đang sinh viên học Trường Đại
Học nên Tòa án không xem xét việc cấp dưỡng nuôi cháu Khánh Hoa.
[3.2] Cháu Đào Thị Nhã Trúc, sinh ngày 23-02-2012 và cháu Đào Thị Nhã
Hân, sinh ngày 10-9-2014 nguyện vọng mong muốn được với Thanh, hiện
nay bà Thanh là người đang trực tiếp nuôi hai cháu.
Xét thấy Thanh, ông Trung đều thu nhập ổn định, việc làm, nhà
để ở, sinh hoạt riêng, nên cả hai đều có đủ điều kiện để nuôi dạy con chung. Tuy
nhiên, hai cháu Nhã Trúc, Nhã Hân đều mong muốn nguyện vọng được
với Thanh nên Hội đồng xét xử quyết định đồng ý giải quyết cho Thanh
5
người được trực tiếp nuôi 02 con chung cháu Nhã Trúc, NHân theo quy định
khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.3] Ông Trung không trực tiếp nuôi con chung nên nghĩa vụ cấp dưỡng
cho bà Thanh nuôi con 02 cháu Nhã Trúc, Nhã Hân.
Thanh yêu cầu mỗi tháng ông Trung cấp dưỡng 3.000.000 đồng cho
nuôi một con. Ông Trung không đồng ý cấp dưỡng nuôi con, không đồng ý với
mức cấp dưỡng của Thanh đưa ra. Hội đồng xét xử thấy, hiện nay để nuôi cho
một người con ăn học ở mức trung bình thì phải mất nhiều khoản tiền phải chi trả,
nên yêu cầu của Thanh về mức cấp dưỡng nuôi mỗi con là có sở. Tuy nhiên
Thanh ngoài công sức bỏ ra để chăm sóc 02 con, cháu Nhã Trúc, Nhã Hân còn
phải chi trả việc nuôi con với ông Trung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc
ông Trung phải cấp dưỡng nuôi con cho Thanh, một tháng 4.000.000 đồng/02
cháu, nghĩa cấp dưỡng nuôi 01 cháu 01 tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp
dưỡng được tính từ tháng 10 năm 2024 cho đến khi 02 cháu Nhã Trúc, Nhã Hân
đủ 18 tuổi.
Ông Trung không trực tiếp nuôi con chung quyền, nghĩa vụ thăm nom
con chung không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc
thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con quyền yêu cầu Tòa án hạn
chế quyền thăm nom con của người đó.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo
quy định tại Điều 84 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Thanh, ông Trung đều trình bày: Về nợ chung, tài sản chung giữa
ông, bà thì không có nợ ai và không yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó, Hội đồng
xét xử không xem xét.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[6] Về án phí:
[6.1] Về án phí ly hôn: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội, Thanh phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và
gia đình thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí do Thanh đã nộp tại Biên
lai s 0001484 ngày 12-01-2024 của Chi cục Thi hành án dân sthành phố Quảng
Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
[6.2] Về án phí cấp dưỡng nuôi con: Ông Trung phải chịu 300.000 đồng
theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 266
Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng n
sự 2015.
Căn cứ vào Điều 8; Điều 9; khoản 1 Điều 56, Điều 57; khoản 2 Điều 81,
khoản 2 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điểm a, khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý và sử dng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Nguyễn Thị Thu Thanh về việc tranh chấp: Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị Thu Thanh được ly hôn ông Đào
Ngọc Trung, chấm dứt quan hệ hôn nhân.
2. Về con chung: Nguyễn Thị Thu Thanh, ông Đào Ngọc Trung có các
con chung: Đào Thị Khánh Hoa, sinh ngày 20/12/2003; Đào Thị Nhã Trúc, sinh
ngày 23/02/2012; Đào Thị Nhã Hân, sinh ngày 10/9/2014.
2.1 Không xem xét việc nuôi dưỡng cháu Đào Thị Khánh Hoa, sinh ngày
20/12/2003, vì cháu đã thành niên.
2.2 Giao cho Nguyễn Thị Thu Thanh người trực tiếp nuôi 02 con cháu
Đào Thị Nhã Trúc, sinh ngày 23/02/2012 cháu Đào Thị Nhã Hân, sinh ngày
10/9/2014.
2.3 Ông Đào Ngọc Trung có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 01 tháng cho bà
Nguyễn Thị Thu Thanh nuôi 01 con 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Thời
gian cấp dưỡng tính từ tháng 10 năm 2024 cho đến khi 02 con đủ 18 tuổi.
2.4 Ông Đào Ngọc Trung không trực tiếp nuôi con chung, có quyền, nghĩa
vụ thăm non con chung, mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Nguyễn Thị Thu Thanh ông Đào Ngọc Trung
không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Nguyễn Thị Thu Thanh ông Đào Ngọc Trung đều
trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí:
5.1 Về án phí ly hôn: Nguyễn Thị Thu Thanh phải chịu 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào
số tiền tạm ứng án phí do Thanh đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số: 0001484 ngày 12-01-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
5.2 Về án phí cấp dưỡng nuôi con ông Đào Ngọc Trung phải chịu 300.000
đồng.
7
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của
Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại c Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP. Quảng Ngãi
- Chi cục THADS TP. Quảng Ngãi
- UBND xã Trà Phú, huyện Trà Bồng
- Đương sự
- Lưu Hồ sơ vụ án
- Lưu án văn. Thị Na Na
8
Tải về
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất