Bản án số 54/2023/DS-PT ngày 09/05/2023 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 54/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 54/2023/DS-PT ngày 09/05/2023 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 54/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/05/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà Phạm Thị Minh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị H giao quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận đã được chỉnh lý biến động sang tên bà Phạm Thị Minh Đ ngày 12/5/2021 và ngôi nhà cấp 4 được xây dựng trên thửa đất (chưa được chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận). Đồng thời để đảm bảo quyền lợi cho ông M, bà H bà Đ đồng ý thối trả cho ông M bà H giá trị ngôi nhà theo kết luận của chứng thư thẩm định giá tài sản do Tòa án trưng cầu. Trong trường hợp ông M bà H không đồng ý thì đề nghị ông M bà H tháo dỡ nhà để trả lại hiện trạng đất giao đất cho bà Đ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 54/2023/DS - PT
Ngày: 09 5 2023
V/v Yêu cu tiếp tc thc hin Hp
đồng chuyển nhượng quyn s dng
đất; Yêu cu tuyên b các văn bản
công chng vô hiu, gii quyết hu
qu ca hợp đồng vô hiu
CỘNG HÒA HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - Tự do - Hạnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Hiếu
Các Thẩm phán: Trần Thị Thanh Mai
Ông Vũ Việt Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ngô Thị Kiều Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Ngô Văn
Hùng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong hai ngày 05 tháng 5 năm 2023 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa
án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm ng khai vụ án dân sự thụ
số: 138/2022/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2022 về “Yêu cu tiếp tc thc hin
Hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất; yêu cu tuyên b các văn bản công
chng vô hiu, gii quyết hu qu ca hợp đồng vô hiu”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 156/2022/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2022
của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 35/2023/QĐPT DS
ngày 02 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 63/2023/QĐ
PT ngày 21 tháng 3 năm 2023 Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số:
86/2023/QĐ PT ngày 11 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Phạm Thị Minh Đ, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số xx đường
T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
2
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1985 Thị H, sinh năm
1990. Cùng địa chỉ: Tổ X (Tổ X mới), phường A, quận C, thành phố Đà Nẵng.
mặt
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật Thị Xuân
Phương, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng. Có mặt
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng Công chứng M. Địa
chỉ: số xxx, đường Xx, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. đơn xin xét xử
vắng mặt
4. Do có kháng cáo của Ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị H - là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm
* Nguyên đơn bà Phạm Thị Minh Đ trình bày:
Thông qua người quen trên mạng hội về môi giới bất động sản ông
Hoàng B, vào ngày 08 tháng 12 năm 2020 Phạm Thị Minh Đ Ông Nguyễn
Văn M đã thỏa thuận mua bán nhà đất tại (thửa đất số 7XX, tờ bản đồ số 2x cũ)
thửa 2XX, tờ bản đồ số 54 (mới), tổ 0X phường HX, quận C, Đà Nẵng, theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất sở hữu nhà số BI 1xxxxx được UBND quận C
cấp ngày 31 tháng 7 năm 2012. Cùng ngày Đ đặt cọc cho ông M số tiền
500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) để cho ông M đi rút sổ đỏ tại ngân hàng.
Hôm sau, ngày 09 tháng 12 năm 2020 Đ vợ chồng ông M, H đã đến Văn
phòng Công chứng Trần Công M hợp đồng công chứng số 4963, quyển số
01/TP/ CC-SCC/HDGD chuyển nhượng cho Đ Đ đã giao đủ số tiền còn
lại cho vợ chồng ông M. Tại thời điểm mua bán thì giá trị ngôi nhà khoảng
1.000.000.000 đồng hay 1.400.000.000 đồng đó Đ không nhớ rõ, còn số tiền
trong hợp đồng đặt cọc là do người môi giới là ông Bách tự viết, đến 6 tháng sau bà
Đ hỏi ông M giá trị nhà đất bao nhiêu thì ông M trả lời tầm 1.100.000.000 đồng
đến 1.200.000.000 đồng. Sau khi công chứng mua bán do trúng dịp Tết bận nhiều
việc chưa điều kiện nên Đ chưa đi tiến hành chỉnh biến động nhà đất,
đến 05 tháng sau vào ngày 12/5/2021 mới tiến hành đi chỉnh lý biến động sang tên
nhà đất cho mình. Đ nhiều lần yêu cầu vợ chồng Ông Nguyễn Văn M phải giao
nhà nhưng vợ chồng ông M không chịu giao mà còn thách thức.
Tại đơn khởi kiện đơn khởi kiện bổ sung Phạm Thị Minh Đ yêu cầu
Tòa án giải quyết: Buộc bị đơn Ông Nguyễn Văn M và Thị H tiếp tục thực
hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đ và vợ chồng ông M,
H đã được công chứng vào ngày 09/12/2020, buộc Ông Nguyễn Văn M
Thị H giao tài sản quyền sử dụng đất với diện ch 132,3m
2
tại thửa đất số 2xx,
3
tờ bản đsố 5x, địa chỉ: tổ 0X, phường A, quận C, TP Đà Nẵng, theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BI
1xxxxx do UBND quận C cấp ngày 31/7/2012, chỉnh biến động sang tên
Phạm Thị Minh Đ ngày 12/5/2021.
Quá trình tố tụng tại phiên tòa thẩm Phạm Thị Minh Đ cho rằng
thực tế giữa ông M đã thỏa thuận mua bán cả nhà đất điều này được thể
hiện tại giấy đặt cọc ngày 08/12/2020, nhưng khi các bên kết hợp đồng
chuyển nhượng chỉ ghi nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất do giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M, H chưa chỉnh lý nhà trên đất. Do đó,
Phạm Thị Minh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ông Nguyễn Văn Mbà Lê
Thị H giao quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận đã được chỉnh biến động
sang tên Phạm Thị Minh Đ ngày 12/5/2021 ngôi nhà cấp 4 được xây dựng
trên thửa đất (chưa được chỉnh biến động trên giấy chứng nhận). Đồng thời đ
đảm bảo quyền lợi cho ông M, H Đ đồng ý thối trả cho ông M H giá trị
ngôi nhà theo kết luận của chứng thư thẩm định giá tài sản do Tòa án trưng cầu.
Trong trường hợp ông M bà H không đồng ý thì đề nghị ông M H tháo dỡ nhà
để trả lại hiện trạng đất giao đất cho bà Đ.
Tại phiên tòa thẩm Đ xác nhận những tin nhắn ông M giao nộp do
và ông M nhắn tin qua lại với nhau, trong đó có nội dung vào các ngày
18/02/2021, 06/3/2021, 02/4/2021, 03/4/2021 các nội dung gồm: 60 triệu ntiền
lời em phải tính cho họ”, “Bắn tiền qua dùm chị” “3 tháng 180 triệu” “Em không
trả lời thì bán đất trả nhé” “Thả gim qua cho chị Chị hô họ 1 tỷ 7 Họ chạy mất dép
Họ trả 1 tỷ 4” và giọng nữ trong các đoạn ghi âm do ông M xuất trình là giọng của
.
* Quá trình tố tụng tại phiên tòa bị đơn Ông Nguyễn Văn M; đại diện
theo ủy quyền của bị đơn bà Lê Thị H là ông Lê Công L trình bày:
Do khoản nợ ngân hàng khoảng 350.000.000 đồng gần đến hạn mà vợ chồng
ông M lại cần vốn làm ăn nên khi nghe bạn là ông Hoàng B giới thiệu bà Phạm Thị
Minh Đ người chuyên cho vay nên vợ chồng ông M đồng ý vay tiền của Đ.
Sau khi tìm hiểu điều kiện tài sản số tiền vợ chồng ông cần vay thì bà Đ đồng ý
cho vợ chồng ông M vay s tiền 01 tỷ đồng, thời hạn vay 02 tháng, từ ngày
08/12/2020 đến ngày 08/02/2021), lãi suất là 5%/tháng, với điều kiện vợ chồng ông
M phải hợp đồng đặt cọc hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất đối
với Thửa đất số 2xx mới (s7xx cũ), tờ bản đồ số 5x mới (số 2x cũ) cho Đ để
đảm bảo khoản vay trên thì bà Đ mới cho vay, khi vợ chồng ông M thanh toán đủ
nợ gốc và tiền lãi thì Đ sẽ hủy Hợp đồng chuyển nhượng để trả lại thửa đất
trên cho vợ chồng ông M. Do đó, ngày 08/12/2020, trước sự chứng kiến của ông
4
Hoàng B thì Đ cho vợ chồng ông M vay trước 500.000.000 đồng để trả nợ ngân
hàng, rút sổ, xóa thế chấp nhưng Đ yêu cầu ông M hợp đồng đặt cọc về việc
chuyển nhượng quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng thửa đất số 7xx, tờ bản đồ số 2x,
địa chỉ: Tổ X, phường A, quận C, Đà Nẵng đứng tên ông M, bà H theo giấy chứng
nhận số BI 1xxxxx do UBND quận C cấp ngày 31/7/2012 cho bà Đ.
Sau khi vay được 500.000.000 đồng của Đ thì vợ chồng ông M đến Ngân
hàng trả nợ, rút sổ ra xóa thế chấp. Hôm sau, ngày 09/12/2020, tại VPCC Trần
Công M, Đ cho vợ chồng ông M vay tiếp 500.000.000 đồng nhưng chỉ đưa vợ
chồng ông M số tiền 450.000.000 đồng với do trừ trước 01 tháng tiền lãi (từ
ngày 08/12/2020 đến ngày 08/01/2021) yêu cầu vợ chồng ông M Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên cho Đ. Như vậy,
tổng số tiền gốc ông M vay của bà Đ 02 lần 950.000.000 đồng. Mục đích của
việc Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất này để đảm bảo cho số tiền
950.000.000 đồng vợ chồng ông M đã nhận của Đ chứ hai bên không hề
nhu cầu mua bán đất nên Đ cũng không có thanh toán tiền mua đất vợ chồng
ông M cũng không giao đất cho Đ nên vợ chồng ông M cùng 03 con nhỏ vẫn
tiếp tục sinh sống tại nhà ngôi nhà, đất trên cho đến nay. Sau đó vợ chồng ông M
đưa cho ông Hoàng B 50.000.000 đồng để trả tiền lãi cho Đ thay. Ông B biết
toàn bộ sự việc trên và đồng ý ra làm chứng khi tòa yêu cầu nên vợ chồng ông M
xin cung cấp họ tên người làm chứng ông Hoàng B, sinh năm 1978 ttại xx B,
phường A, quận C, thành phố Đà Nẵng, số điện thoại: 0935.397.952 để tòa án đưa
ông Bách tham gia tố tụng theo quy định pháp luật.
Sau khi vay 950.000.000 đồng của bà Đ thì vợ chồng ông M chỉ trả được cho
Đ 50.000.000 đồng tiền lãi. Do dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng nặng nề, vợ
chồng ông M làm ăn thua lỗ nên ông M nhắn tin với bà Đ xin trả 950.000.000 đồng
nợ gốc thương lượng lãi suất từ ngày 08/03/2021 trở đi theo lãi suất ngân hàng
nhưng bà Đ không đồng ý. Do hai bên chưa thống nhất được lãi suất từ ngày
08/03/2021 là bao nhiêu và do vợ chồng ông M cũng khó khăn về kinh tế nên kể từ
đó vợ chồng ông M chưa trả thêm cho bà Đ đồng nào. Nội dung tin nhắn từ ngày
06/02/2021 đến ngày 04/4/2021 các file ghi âm trao đổi giữa ông M bà Đ đã
được thể hiện tại Đơn phản tố ngày 05/4/2022.
Đến ngày 12/5/2021 Đ đã tiến hành chỉnh biến động giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số phát hành BI 1xxxxx sang tên bà Đ và đăng bài bán thửa đất
trên của vợ chồng ông M nên ông M gọi điện thoại xin trả cho bà Đ 1,2 tỷ đồng
bao gồm cả gốc và lãi nhưng bà Đ cũng không đồng ý.
Nay bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ông Nguyễn Văn Mbà Lê Thị H
tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng
5
vào ngày 09/12/2020, giao quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu ntài sản khác gắn liền với đất số BI 1xxxxx do UBND
quận C cấp ngày 31/7/2021, chỉnh lý biến động sang tên bà Phạm Thị Minh Đ ngày
12/5/2021 và ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất cho Đ, vợ chồng ông M không đồng
ý, Hợp đồng đặt cọc ngày 08/12/2020 ông Hoàng B làm chứng Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất do Văn phòng công chứng Trần Công M công
chứng số 4963, ngày 09/12/2020 giả tạo nhằm mục đích che giấu việc đảm bảo
khoản vay 950.000.000 đồng giữa vợ chồng ông M và bà Đ.
ông M H chỉ đồng ý trả cho Đ số tiền ngốc 931.666.000 đồng, tiền lãi
tính từ ngày 09/02/2021 đến ngày hòa giải ngày 04/8/2022 138.090.769 đồng,
tổng cộng trả số tiền 1.069.756.769 đồng cho bà Đ.
ông M, H yêu cầu phản tố, đnghị Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/12/2020 giữa vợ chồng ông M Đ tại Văn
phòng Công chứng M hiệu, hủy phần chỉnh biến động sang tên cho
Phạm Thị Minh Đ, đồng thời giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu vợ chồng
tôi sẽ trả cho Đ số tiền gốc 931.666.000 đồng tiền lãi phát sinh từ ngày
09/02/2021 đến ngày Tòa án giải quyết vụ việc theo mức lãi suất 10%/năm.
* Tại phiên tòa thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C phát biểu
về tố tụng và nội dung như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành ttụng tham gia tố tụng,
Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Ông Nguyễn Văn M, Thị
H. Buộc ông M, bà H bàn giao nhà và đất cho bà Phạm Thị Minh Đ, bà Đ có nghĩa
vụ thối trả giá trị nhà cho ông M, bà H.
* Với nội dung vụ án như trên, Bản án dân sự thẩm số: 156/2022/DS-ST
ngày 16 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà
Nẵng quyết định:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều
157; Điều 165; Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự;
- Điều 161, Khoản 2 Điều 221, Điều 454 Bộ luật Dân sự;
- Khoản 1 Điều 95, khoản 1 Điều 97 của Luật đất đai năm 2013,
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
6
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện Phạm Thị Minh Đ với Ông Nguyễn
Văn M và bà Lê Thị H.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của Ông Nguyễn Văn M,
Thị H đối với nguyên đơn bà Phạm Thị Minh Đ.
Tuyên xử:
1. Buộc Ông Nguyễn Văn M, Thị H phải bàn giao ngôi nhà đất tại
thửa đất số 7xx, tờ bản đồ số 2x(cũ), thửa đất số 2xx, tờ bản đồ số 5x (mới), diện
tích 132,2m
2
tại địa chỉ: tổ 0x, phường A, quận C, thành phố Đà Nẵng (nay tổ
0x, phường A, kiệt xx đường N) cho bà Phạm Thị Minh Đ.
Ngôi nhà và đất có đặc điểm và tứ cận như sau:
- Tứ cận của nhà đất như sau: Hướng đông: giáp đất trống; Hướng tây:
giáp với đường kiệt xx đường N; Hướng nam giáp với nhà ông Nguyễn S (cha ruột
ông M); Hướng bắc giáp với nhà ông B.
- Ngôi nhà trên đất đặc điểm: Cấp công trình: nhà cấp 4; diện tích xây
dựng 77,4m
2
, kết cấu móng đá, trụ bê tông, tường xây gạch trát vữa sơn màu
ốp gạch men cao 0,9m, nền lát gạch men; mái lợp tôn.
Bà Phạm Thị Minh Đ được quyền liên hệ với các cơ quan chức năng để thực
hiện việc chỉnh biến động quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất
trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Ghi nhận sự tnguyện của bà Phạm Thị Minh Đ vviệc thối trả cho Ông
Nguyễn Văn M, bà Lê Thị H số tiền 255.426.175 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, bản án thẩm n quyết định về phần án phí, chi phí tố tụng thi
hành án dân sự và quyền kháng cáo của đương sự.
* Ngày 26 tháng 9 năm 2022, bị đơn Ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị H
Đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với nội dung:
Đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về
việc buộc Ông Nguyễn Văn M, Thị H phải bàn giao ngôi nhà đất tại thửa
đất số 7xx, tờ bản đồ s2x(cũ), thửa đất số 2xx, tờ bản đồ số 5x (mới), diện tích
132,2m
2
tại địa chỉ: tổ 0x, phường A, quận C, thành phố Đà Nẵng (nay tổ 03,
phường Hòa Thọ Tây, kiệt xx đường N) cho bà Phạm Thị Minh Đ.
Chấp nhận yêu cầu phản tcủa bđơn Ông Nguyễn Văn M Thị H
về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất số 4963, quyển số
01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/12/2020, tại Văn phòng công chứng Trần Công
7
M, giữa Ông Nguyễn Văn M, Thị H ng với bà Phạm Thị Minh Đ chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 7xx, tờ bản đồ số 2x, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 1xxxxx do Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày
31/7/2012 là vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn Phạm Th Minh Đ bị đơn Ông Nguyễn Văn M và
Th H t tha thun thng nht vi nhau, c th:
Ông Nguyễn Văn M, bà Lê Thị H thống nhất trong thời hạn 03 (ba) tháng, kể
từ ngày xét xử phúc thẩm 09/5/2023 sẽ bàn giao quyền sdụng đất tại thửa đất số
7xx, tờ bản đồ số 2x(cũ), thửa đất số 2xx, tờ bản đồ số 5x (mới), diện tích 132,2m
2
tại địa chỉ: tổ 0x, phường A, quận C, thành phố Đà Nẵng (nay là tổ 03, phường Hòa
Thọ Tây, kiệt xx đường N), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BI 1xxxxx do UBND quận C cấp
ngày 31/7/2021, chỉnh biến động sang tên Phạm Thị Minh Đ ngày 12/5/2021
và ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất cho bà Phạm Thị Minh Đ sở hữu, quản lý sử dụng.
Phạm Thị Minh Đ tnguyện hỗ trợ cho Ông Nguyễn Văn M, bà Thị
H số tiền 325.000.000đ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) quyền liên hvới
các cơ quan chức năng để thực hiện việc chỉnh lý biến động quyền sở hữu nhà ở
tài sản khác gắn liền với đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật.
V án phí, chi phí t tng: đề ngh Tòa án xem xét gii quyết theo quy đnh
pháp lut.
* Đại din Vin kim sát nhân dân thành ph Đà Nẵng tham gia phiên tòa
phát biu ý kiến như sau:
V th tc t tng: Những người tiến hành t tng tham gia t tụng đã
thc hiện đúng quy định ca B lut T tng dân s trong quá trình gii quyết v
án ti cp phúc thm.
V ni dung v án: Ti phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn b đơn đã thỏa
thun thng nht vi nhau v vic gii quyết toàn b v án như trên, đ ngh Hi
đồng xét x sa Bn án dân s thẩm s: 156/2022/DS-ST ngày 16.9.2022 ca
Tòa án nhân dân qun C, thành ph Đà Nẵng, ghi nhn s tha thun ca các
đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về việc vắng mặt của đương sự: Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Văn phòng Công chứng M đã được triệu tập hợp lnhưng đơn xin xét xử
8
vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự, HĐXX
tiếp tục tiến hành phiên tòa, xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.
[2] Về kháng cáo của bị đơn Ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị H.
[2.1] Ngày 26 tháng 9 năm 2022, bị đơn Ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị H
Đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm với nội dung: Đề nghị HĐXX không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị Minh Đ về việc buộc
ông M, bà H phải bàn giao ngôi nhà và quyền sử dụng thửa đất số 7xx, tờ bản đồ số
2x(cũ), thửa đất số 2xx, tờ bản đồ số 5x (mới), diện tích 132,2m
2
tại địa chỉ: tổ 0x,
phường A, quận C, thành phố Đà Nẵng (nay là tổ 03, phường Hòa Thọ Tây, kiệt xx
đường N) cho Phạm Thị Minh Đ; Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông M, H
về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất s 4963, quyển số
01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/12/2020, tại Văn phòng công chứng Trần Công M,
giữa Ông Nguyễn Văn M, bà Lê Thị H cùng với bà Phạm Thị Minh Đ là vô hiệu và
giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, Ông Nguyễn Văn M, bà Lê Thị H và bà Phạm
Thị Minh Đ đã tự thỏa thuận thống nhất với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
S tha thun ca v chồng ông M, bà H bà Đ ti phiên tòa phúc thm t
nguyn, không vi phạm điu cm ca lut, không trái đạo đc hi. Ni dung
tha thun không nh ởng đến quyn, li ích hp pháp ca người quyn li,
nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng M. Do đó, Hội đồng xét x phúc
thm thng nht với quan điểm ca đại din Vin kim sát nhân dân thành ph Đà
Nng ti phiên tòa; Căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308 ca B lut T tng
dân s 2015, sa Bn án dân s thẩm s: 156/2022/DS-ST ngày 16.9.2022 ca
Tòa án nhân dân qun Cm L, thành ph Đà Nẵng, ghi nhn s tha thun ca
Ông Nguyễn Văn M, bà Lê Thị H và bà Phạm Thị Minh Đ ti phiên tòa phúc thm.
[3] V án phí: Căn cứ khoản 5 Điều 29 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 ca Ủy ban Thường v Quc hi v mc thu, min, gim, thu,
np, qun s dng án phí l phí tòa án. Ông Nguyễn Văn M, Thị H
phải chịu 600.000đ án phí dân sự thẩm 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm;
Bà Phạm Thị Minh Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
[4] V chi phí t tng: Bà Phạm Thị Minh Đ, Ông Nguyễn Văn M, bà Lê Thị
H phải chịu như bản án sơ thẩm.
Vì các l trên;
9
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 300 và khoản 2 Điều 308 B lut T tng dân s;
Căn c vào Ngh quyết 326/2016/UBTV/QH14 ngày 30/12/2016 ca U ban
Thường v Quc hi v vic v mc thu, min, gim, thu, np, qun lý và s dng
án phí và l phí tòa án.
Sa Bn án dân sự thẩm số: 156/2022/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2022
của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng; Công nhn s tha thun
ca nguyên đơn Phạm Thị Minh Đ và bị đơn Ông Nguyễn Văn M, bà Lê Thị H:
1. Trong thời hạn 03 (ba) tháng, kể từ ngày 09/5/2023 Ông Nguyễn Văn M,
Thị H trách nhiệm bàn giao quyền sdụng thửa đất số 7xx, tờ bản đồ số
2x(cũ), thửa đất số 2xx, tờ bản đồ số 5x (mới), diện tích 132,2m
2
tại địa chỉ: tổ 0x,
phường A, quận C, thành phố Đà Nẵng (nay tổ 03, phường A, kiệt xx đường N),
theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số BI 1xxxxx do UBND quận C cấp ngày 31/7/2021, được chỉnh
biến động sang tên bà Phạm Thị Minh Đ ngày 12/5/2021 và quyền sở hữu ngôi nhà
cấp 4, tài sản khác gắn liền với thửa đất cho Phạm Thị Minh Đ sở hữu, quản
sử dụng.
* Nhà và đất có đặc điểm và tứ cận như sau:
- Tứ cận của nhà đất như sau: Hướng đông: giáp đất trống; Hướng tây:
giáp với đường kiệt xx đường N; Hướng nam giáp với nhà ông Nguyễn S (cha ruột
ông M); Hướng bắc giáp với nhà ông B.
- Ngôi nhà trên đất đặc điểm: Cấp công trình: nhà cấp 4; diện tích xây
dựng 77,4m
2
, kết cấu móng đá, trụ tông, tường xây gạch trát vữa sơn màu
ốp gạch men cao 0,9m, nền lát gạch men; mái lợp tôn.
2. Khi nhận bàn giao nhà đất trên, Phạm Thị Minh Đ tự nguyện hỗ trợ
cho Ông Nguyễn Văn M, bà Lê Thị H số tiền 325.000.000đ (Ba trăm hai mươi lăm
triệu đồng); được quyền liên hệ với các quan chức năng để thực hiện việc
chỉnh biến động quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
3. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
10
Ông Nguyễn Văn M, bà Thị H phải chịu án phí dân sự thẩm
600.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số
0001820 ngày 13/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố
Đà Nẵng. Ông Nguyễn Văn M, bà Lê Thị H còn phải nộp thêm số tiền 300.000đ.
Phạm Thị Minh Đ không phải chịu án phí dân sự thẩm, trả cho Phạm
Thị Minh Đ 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự thẩm, theo biên lai thu số
0001561 ngày 25/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố
Đà Nẵng.
4.2. Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn M, Thị H phải chịu án phí
phúc thẩm là 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp
300.000 đồng, theo Biên lai thu số 2086 ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Chi cục
Thi hành án dân squận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, ông M, H đã
nộp xong tiền án phí phúc thẩm.
5. Về các chi phí tố tụng:
Chi pxem xét thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng Phạm Thị Minh Đ tự
nguyện chịu, đã nộp và đã chi xong.
Chi phí thẩm định giá tài sản 10.000.000 đồng Ông Nguyễn Văn M,
Thị H phải chịu. Bà Phạm Thị Minh Đ đã nộp và đã chi trong quá trình tố tụng nên
Ông Nguyễn Văn M, Thị H phải trả cho bà Phạm Thị Minh Đ 10.000.000
đồng.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sthì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi
hánh án theo quy định tại Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Chi Cục THADS quận Cẩm L;
- Tòa án nhân dân quận Cẩm L;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Cao Văn Hiếu
Tải về
Bản án số 54/2023/DS-PT Bản án số 54/2023/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất