Bản án số 539/2020/HNGĐ-PT ngày 18/06/2020 của TAND TP. Hồ Chí Minh về ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 539/2020/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 539/2020/HNGĐ-PT ngày 18/06/2020 của TAND TP. Hồ Chí Minh về ly hôn
Quan hệ pháp luật: 181. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 539/2020/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/06/2020
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 539/2020/HNGĐ-PT
Ngày: 18/6/2020
V/v Ly n
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thiên H
Các thẩm phán: Bà Trần Thị Lệ Uyên
Bà Lưu Thị Thủy Tiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H Chí Minh: Ông
Trọng Long - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày ngày 18/6/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số
156/2019/TLPT-HNGĐ ngày 24/12/2019 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung, chia tài sản chung và nợ chung”.
Do Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 1299/2019/HNGĐ-ST ngày
04/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2018/2020/QĐPT-HNGĐ ngày
25/5/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phương T, sinh năm 1978
Địa chỉ: đường S, phường C, quận Đ, Thành phố H (có mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Nguyên
P – luật của Công ty luật TNHH vấn và tranh tụng Q– Đoàn luật Thành
phố H(có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Trần Đức V, sinh năm 1979
Địa chỉ: đường S, phường C, quận Đ, Thành phố H (có mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn:
- Đào Nguyễn H D– Luật của Văn phòng Luật S- thuộc Đoàn
Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn T– Luật sư của Văn phòng Luật sư S- thuộc Đoàn Luật
sư Thành phố H(có mặt).
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Tạ Thị PH H, sinh năm 1952 (vắng mặt).
2/ Ông Nguyễn Tự C, sinh năm 1951 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Đường T, phường V, quận B, Thành phố H.
3/ Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1953 (vắng mặt).
4/ Ông TNguyễn Phùng Q, sinh năm 1953 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Đường N, phường T, quận H, Thành phố H.
5/ Công ty TNHH Xây Dựng T
Địa chỉ: Đường T, Phường N, Quận M, Thành phố H(vắng mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Phương T và bị đơn ông
Nguyễn Trần Đức V
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án tóm tắt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Phương T và ông Nguyễn Trần Đức V tự
nguyện yêu tH đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Cống Vị, quận
Ba Đình, Thành phố Hà Nội vào năm 2009. Vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm
2011 thì mâu thuẫn phát sinh, do bất đồng quan điểm sống về kinh tế trong
gia đình. Từ năm 2015 cho đến nay ông V chuyển ra ngoài sinh sống không
quan tâm đến gia đình cũng như nuôi dạy con cái. Việc mâu thuẫn vợ chồng
nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính xuất phát từ việc ông V chuyển
ra ngoài sinh sống với người phụ nữ khác đã gây tổn tH đến tình cảm sự
chung thủy của vợ chồng. Vì vậy, từ năm 2015 cho đến nay giữa T ông V
sống ly thân nhau. Xét tình cảm giữa vchồng không còn, mục đích hôn nhân
không đạt được nên T yêu cầu Hội đồng xét xcho được ly n với ông
V.
Về con chung: Hai vợ chồng 02 con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh
ngày 18/11/2011 Nguyễn Thanh H, sinh ngày 23/10/2013. Từ khi hai vợ
chồng sống ly thân thì hai con chung do T trực tiếp nuôi dưỡng, riêng ông V
không quan tâm đến con cái cũng như đóng góp nuôi các con trong thời gian ly
thân. Bà T cho rằng hiện nay nghề nghiệp là giáo viên của Trường Đại học quốc
tế Sài Gòn ngoài ra hợp tác làm thêm nhiều dự án với mức thu nhập bình
quân khoảng 02 tỷ/năm nên đủ điều kiện nuôi dạy con chung hơn ông V. Hơn
nữa, từ khi vợ chồng không còn sống chung, hai con do bà T nuôi dưỡng, chăm
sóc. Bên cạnh đó bà T ng nguyện vọng việc bố mly n ảnh hưởng
đến qtrình phát triển tâm sinh của các con nên khi ly hôn T yêu cầu
được nuôi cả hai con chung yêu cầu cấp dưỡng nuôi con với số tiền
10.000.000 đồng/01 con chung/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Hai vợ chồng 01 căn hộ chung hiện nay T
các con đang sinh sống, căn hộ này hiện tọa lạc W5-6, Chung 45 đường số
17, khu phố 3, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí
3
Minh. Căn hộ này nguồn gốc từ tài sản chung của hai vợ chồng vay tiền
của người khác. vậy, bà T muốn nhận căn hộ này, hơn nữa căn hộ này đang
vay tiền của Ngân hàng để thanh toán hiện nay chưa giấy chứng nhận do
không mặt của hai vợ chồng nên không thể tiến hành thủ tục cấp giấy chứng
nhận.
Quá trình tạo dựng tài sản chung do khoản mượn tiền của bố mẹ ruột của
T ông Nguyễn Tự C Tạ Thị PH H 400.000.000 đồng, riêng các
khoản còn lại là do phần lớn do bà T đóng gópđược thanh toán bằng cách trừ
lương hàng tháng của T. Hiện nay tài sản chung đã được các đương sự thỏa
thuận giá trị 2.200.000.000 đồng nên T yêu cầu Tòa án xem xét cho
được hưởng 70% trên tổng giá trị tài sản chung. T yêu cầu được nhận nhà và
giao lại cho ông V số tiền tương đương 30% giá trị căn nhà.
Về nợ chung: Cả hai vợ chồng hiện nay còn thiếu nợ của b m ông V là bà
Trần Thị Thu H ông Nguyễn Phùng Q, địa chỉ số 06 dãy A Ngõ 20B, Kim
Thượng, Cống Vị, Ba Đình, Nội số tiền 300.000.000 đồng. Số tiền này
T không biết vay nhằm mục đích gì nhưng ông V có trao đổi với bà về khoản
nợ trên nên bà chấp nhận.
Ngoài ra hai vợ chồng còn thiếu nợ 400.000.000 đồng của ông Nguyễn Tự
C Tạ Thị PH H, địa chỉ: Tập thể Viện toán học phường Cống Vị, Hoàn
Kiếm, Nội. Vay vào ngày 24/01/2011, mục đích thanh toán tiền mua căn hộ
tại Ngân hàng Techombank chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh để trả tiền mua
căn chung cư mà hiện nay hai vợ chồng đang sinh sống.
Ngoài ra hai vợ chồng còn nợ khoản tiền ước chừng 80.000.000 đồng
tiền 05% còn lại hợp đồng mua bán nhà phạt chưa đóng tiền 05% của Công
ty TNHH T.
Các khoản trên là khoản vay trong thời kỳ hôn nhân nhằm phục vụ cho việc
mua nhà đsinh sống cũng như nhu cầu sinh sống hai vợ chồng nên khi ly hôn
T ý kiến về trách nhiệm thanh toán nợ mỗi bên đương sđều phải chịu
50%.
* Bị đơn ông Nguyễn Trần Đức V và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của bị đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông V thống nhất với T về xác lập quan hệ hôn
nhân cũng như quá trình sinh sống của hai vợ chồng,riêng mâu thuẫn vợ chồng
do hai bên xúc phạm lẫn nhau, bất đồng quan điểm về cuộc sống quan điểm
sống, bản thân T nóng tính nên đập phá tài sản trong gia đình thường
xuyên yêu cầu ly hôn trong quá trình chung sống. m 2015 do thay đổi công
việc nên ông V thường xuyên đi công tác nên vợ chồng ít cãi vã nhau. Hiện nay
ông V xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng sống chung không còn
hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nữa vì cả hai sống ly thân đã lâu
nên ông V đồng ý ly hôn.
Về con chung: Hiện nay hai vợ chồng 02 con chung, họ tên cũng như
ngày tháng năm sinh của các con như T trình bày đúng sự thật nên không
bổ sung ý kiến khác. Ông xác nhận hai con chung do T trực tiếp nuôi dưỡng,
4
chăm sóc khi hai vchồng sống ly thân vào năm 2015 đến nay. Khi ly hôn ông
V nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung các con chung
cháu đích tôn trong gia đình nên ông nội cũng rất quan tâm, chăm sóc c
cháu để phát triển tốt về tất cả mọi mặt về sau. Ngoài ra, bà T công việc bận rộn
đi công tác thường xuyên nên không thời gian nuôi dưỡng chăm c con
chung. Theo ông V trình bày thu nhập của ông hiện tại khoảng 70.000.000
đồng/tháng yêu cầu T cấp dưỡng nuôi con 10.000.000
đồng/tháng/01con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Hai vợ chồng 01 căn hộ chung hiện nay T
các con đang sinh sống, căn hộ này hiện tọa lạc W5-6, chung cư 45 đường số 17,
phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Giá trị căn
hộ được các bên thỏa thuận trị giá 2.200.000.000 đồng. Tuy nhiên căn hộ
trên chưa giấy chứng nhận do chưa thống nhất được việc ai phải người
đóng 05% tiền nợ còn lại cho chủ đầu tư. Hiện nay căn nhà chung được tạo
dựng trong thời kỳ hôn nhân nên tài sản chung của hai vợ chồng. Trước đây,
ông V ưu tiên cho bà T sinh sống để nuôi con nhưng nay bà T không có nhu cầu
không còn sống trong căn hộ chung trên nên ông V nguyện vọng được
sở hữu n hộ chung hoàn trả cho T 1.100.000.000 đồng, tương ng
với 50% giá trị căn hộ.
Về nợ chung: Hai vợ chồng đang nợ 300.000.000 đồng của ông Nguyễn
Phùng Q Trần Thị Thu H. Hiện nay hai vợ chồng ly n nên ông V yêu
cầu bà T cũng như ông V có trách nhiệm trả khoản nợ trên cho ông Q, bà H.
Riêng khoản vay 400.000.000 đồng của ông Nguyễn Tự C và bà Tạ Thị PH
H (bố mẹ T), ông không được biết không biết mục đích vay để làm gi
cũng như tên vào tờ vay tiền, không được T thông báo nên không đồng ý
có trách nhiệm trả khoản tiền trên cho ông C, bà H.
Ngoài ra ông và bà T còn nợ số tiền 80.000.000 đồng là tiền 05% còn lại và
phạt do chưa đóng tiền 05% của Công ty T. Nêu bà T được giao căn hộ thì bà tự
nguyện thanh toán 5% giá trị còn lại (tương đương 80.000.000 đồng) cho Công
ty TNHH T để hoàn thiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu n hộ
chung trên. Đối với ý kiến của T về việc tự nguyện thanh toán cho Công
ty T số nợ này nếu được nhận nhà ông không có ý kiến và không có tranh chấp.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phùng Q bà
Trần Thị Thu H trình bày:
T ông V nhu cầu mua căn nhà W5-6, chung 45 đường số 17
phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên để
cập vay số tiền 20.000 USD. vậy ngày 21/12/2009 H chuyển tiền cho ông
V, T vay số tiền 778.800.000 đồng, quy đổi từ 40.000 USD. Ngày
25/12/2009 bà H giao tiền cho ông V và ông V có ký khế ước vay tiền là 20.000
USD, thời hạn vay 02 m. Đến nay ông V, T mới trả được 5.000 USD.
Nay được biết bà T, ông V đang tiến hành thủ tục ly hôn tại Tòa án nên yêu cầu
ông V, bà T có trách nhiệm trả số tiền 300.000.000 đồng.
5
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tự C Tạ Thị
Phương H trình bày:
Ngày 24/01/2011 ông Nguyễn Tự C, Tạ Thị Phương H cho con gái
Nguyễn Phương T con rể Nguyễn Trần Đức V vay số tiền 400.000.000
đồng, mục đích vay thanh toán tiền vay ngân hàng để mua nhà tại quận
Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, thời hạn vay 07 năm. Không tính lãi.
Ngày 24/01/2011 khi vay tiền T đại diện bên vay tiền. Hiện nay v
chồng T, ông V chưa trả khoản tiền trên nên ông C, H yêu cầu ông V,
T có trách nhiệm trả khoản tiến trên.
Tại Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 1299/2019/HNGĐ-ST ngày
04/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn
cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1
Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 33, 37, 51, 56, 57, 58, 59; Điều 81,
82, 83, 84 luật Hôn nhân Gia đình năm 2014; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật
dân sự 2015; Luật Thi hành án 2008; Pháp lệnh án phí, lệ phí 2009.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa Nguyễn
Phương T với ông Nguyễn Trần Đức V.
1.2. Về con chung: Giao hai trẻ Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18/11/2011
Nguyễn Thanh H, sinh ngày 23/10/2013 cho Nguyễn Phương T trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Trần Đức V có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi
con 10.000.000 (mười triệu) đồng /tháng/người con cho đến khi con chung lần
lượt đủ 18 tuổi. Thực hiện từ tháng 01/2019 vào ngày 10 hàng tháng.
Ông Nguyễn Trần Đức V không trực tiếp nuôi con, được quyền thăm nom,
chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được ngăn cản ông V thực hiện quyền
này.
quyền lợi của trẻ chưa thành niên, trong trường hợp yêu cầu của cha,
mẹ, nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án thể xem xét quyết
định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc
mức cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày Nguyễn Phương T đơn yêu cầu thi hành án, ông Nguyễn
Trần Đức V chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải chịu
thêm tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự
năm 2015.
1.3. Về tài sản chung:
Xác định căn hộ W5-6, chung 45 đường số 17 phường Hiệp Bình
Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tài sản chung của Nguyễn
Phương T ông Nguyễn Trần Đức V. Tổng giá trị tài sản 2.200.000.000
đồng (hai tỷ hai trăm triệu đồng). T được chia 60% giá trị tài sản chung
tương đương 1.320.000.000 (một tỷ ba trăm hai mươi triệu) đồng, ông V được
chia 40% giá trị căn hộ tương đương 880.000.000 (tám trăm tám mươi triệu)
đồng.
6
Giao căn hộ số W5-6, chung 45 đường số 17 phường Hiệp Bình Chánh,
quận ThĐức, Thành phố Hồ Chí Minh cho Nguyễn Phương T được trọn
quyền sở hữu và sử dụng. Bà Nguyễn Phương T có nghĩa vụ thanh toán cho ông
Nguyễn Trần Đức V số tiền 880.000.000 (tám trăm tám mươi triệu) đồng
(Tương đương 40% giá trị tài sản chung). Thực hiện ngay sau khi án có hiệu lực
pháp luật.
Quá thời hạn trên, nếu Nguyễn Phương T không thực hiện nghĩa vụ
hoàn tiền thì ông Nguyễn Trần Đức V được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án
dân sự thẩm quyền phát mãi tài sản chung trên. Sau khi trừ các khoản lệ phí,
chi phí hợp số còn lại sẽ được chia theo t lệ T được nhận 60%, ông V
được nhận 40%.
Ghi nhận sự tự nguyện của Nguyễn Phương T về việc tự nguyện thanh
toán 5% giá trị căn hộ còn lại (tưng đương 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng)
cho Công ty TNHH T để hoàn thiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hu
căn hộ W5-6, chung 45 đường số 17 phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.4. Về nợ chung:
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Tự C và bà Tạ Thị Phương H;
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Phùng Q Trần Thị Thu
H;
Buộc Nguyễn Phương T, ông Nguyễn Trần Đức V trách nhiệm liên
đới hoàn trả cho ông Nguyễn Tự C Tạ Thị Phương H số tiền 400.000.000
(bốn trăm triệu) đồng, trong đó phần của mỗi người 200.000.000 (hai trăm
triệu) đồng;
Buộc bà Nguyễn Phương T và ông Nguyễn Trần Đức V có trách nhiệm liên
đới hoàn trả cho ông Nguyễn Phùng Q Trần Thị Thu H số tiền
300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, trong đó phần của mỗi người 150.000.000
(một trăm năm mươi triệu) đồng;
Kể từ ngày ông Nguyễn Tự C, Tạ Thị Phương H, ông Nguyễn Phùng Q,
bà Trần Thị Thu H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Phương T và ông
Nguyễn Trần Đức V chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải
chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân
sự 2015.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền
nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 18/11/2019, Nguyễn Phương T kháng o bản án thẩm số
1299/2019/HNGĐ-ST ngày 04/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh, Kháng cáo mt phần bản án sơ thẩm nội dung:
- Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho được hưởng 70% giá trị
của căn hộ W5-6, chung cư 45 đường số 17 phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xem xét về việc buộc ông V thực hiện các thủ
tục liên quan giao nhà cho bà nuôi con theo quy định.
7
Ngày 06/11/2019 ông Nguyễn Trần Đức V kháng cáo bản án thẩm số
1299/2019/HNGĐ-ST ngày 04/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh, Kháng cáo một phần bản án sơ thẩm nội dung:
- Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem t cho ông được quyền nuôi dưỡng
01 con chung, cả hai bên không cấp dưỡng nuôi con.
- Ông không đồng ý việc cùng có trách nhiệm với T để trả s nợ
400.000.000 đồng cho ông Nguyễn Tự C và bà Tạ Thị Phương H.
- Ông yêu cầu được chia 50% giá trị tài sản chung căn hộ W5-6, chung
cư 45 đường số 17 phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn Nguyễn Phương T bị đơn ông Nguyễn Trần Đức V giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo.
Nguyên đơn bà Nguyễn Phương T và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
cho bà T trình bày:
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho được hưởng 70% giá trị tài
sản chung ông V được hưởng 30% giá trị tại căn hộ W5-6, chung 45
đường số 17 phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
tài sản chung của ông V. do, toàn bộ khoản tiền thanh toán đmua
căn hộ và trả lãi ngân hàng do bà chi trả, tiền lãi trả cho ngân hàng được trích
ra từ lương của bà, yêu cầu được nhận căn hộ để cùng các con. Khi được
giao căn hộ nói trên bà đồng ý trả 5% (tương đương 80.000.000 đồng) giá trị căn
hộ còn lại cho Công ty TNHH T. Đồng thời, bà yêu cầu ông V thực hiện các thủ
tục giao nhà cho bà.
Bị đơn ông Nguyễn Trần Đức V trình bày:
- Về con chung: Ông yêu cầu cho ông được nuôi dưỡng 01 con chung tên
Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18/11/2011 do T không tạo điều kiện cho ông
thăm nuôi con nên ông yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem t cho ông được
nuôi 01 con chung. Hai bên không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Căn hộ W5-6, chung 45 đường số 17 phường Hiệp
Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh khi mua 50% là tiền từ bố
mẹ ông cho, 50% vay của bố mẹ ông. Do đó, ông V yêu cầu chia giá trị căn
hộ cho ông và bà T được hưởng là 50%.
Về nợ chung: Ông không đồng ý trả số nợ chung 400.000.000 đồng của
ông Nguyễn Tự C Tạ Thị Phương H cha mẹ của bà T do giấy vay tiền
ghi năm 2011, thời gian này ông T vẫn sống chung nhưng T không
thông báo cho ông biết về số nợ trên và ông cũng không ký giấy vay tiền.
Người bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Theo yêu cầu của bị đơn.
Về con chung: T điều kiện tốt để nuôi con, hiện tại hai con đang
với bà T tại Thành phố Hồ Chí Minh và có cuộc sống ổn định, các con phát triển
8
bình thường cả về thể chất và tinh thần, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để
cho bà T tiếp tục được nuôi dưỡng 02 con chung.
Về tài sản chung: Căn hộ W5-6, chung 45 đường số 17 phường Hiệp
Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản duy nhất của ông
V T chỗ duy nhất của T và các con. Khi ông V T ly thân
thì T vẫn trong căn hộ này. Khi mua căn hộ bà T công sức đóng góp
nhiều hơn và bà T cũng đồng ý trả 5% giá trị còn lại của căn hộ nêu trên. Vì vậy,
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho T được nhận căn hộ. Đồng thời, được
nhận 70% giá trị căn hộ và giao lại cho ông V 30% giá trị căn hộ.
Về nợ chung: Số nợ 400.000.000 đồng của ông C, H trong thời kỳ
hôn nhân. Số tiền này dùng đtrả nợ vay ngân hàng để mua căn hộ. Do vậy, đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc ông V phải trả 50% số tiền nợ nói trên tương
ứng 200.000.000 đồng.
Người bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của bị bị đơn trình bày:
Đối với yêu cầu nuôi con chung: Ông V đang việc làm ổn định, ông
nội có thời gian và có nguồn trợ cấp, hai cháu cũng rất yêu thương bố. Mặt khác,
bà T không tạo điều kiện cho ông V thăm con, con của ông V là con trai nên gần
gũi với bố hơn mẹ. Đề nghị Hội đồng xét xxem xét giao cho ông V được trực
tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18/11/2011.
Về tài sản chung: Căn hộ W5-6, chung 45 đường số 17 phường Hiệp
Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của ông V
T trong thời kỳ hôn nhân, hai bên đóng góp như nhau. Ông V cũng
nhu cầu được nhận nhà đở. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chia cho ông V
được hưởng 50% giá trị căn hộ. Ông đồng ý giao lại cho bà T 50% giá trị căn hộ
tương ứng 1.100.000.000 đồng.
Về nợ chung: Về khoản nợ 400.000.000 đồng của ông C, H ông V
không được biết và cũng không thừa nhận nên ông không đồng ý trả số nợ này.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trần Đức
V.
Ông V T đồng ý với lời bảo vệ của luật sư không ý kiến tranh
luận nào khác.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tự C Tạ Thị
Phương H có đơn xin vắng mặt
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phùng Q bà Trần
Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt.
Công ty TNHH Xây Dựng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng
mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng:
9
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được
phân công thụ giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại
Điều 286, 290, 292 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng t xử, Thư tại phiên tòa: Hội
đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 về việc xét xử phúc thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong
quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét
xử nghị án: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố
tụng của họ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Về hình thức kháng cáo: Ny 04/11/2019,a án nhân dân qun Thủ Đc xét
x tuyên án. Ny 06/11/2019, bị đơn ông Nguyn Trần Đức V nộp đơn kng
cáo một phần bản án; Ny 18/11/2019 ngun đơn Nguyễn Phương T nộp đơn
kháng cáo mt phn bn án sơ thẩm s1299/2019/HNGĐ-ST ngày 04/11/2019
của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. n c Khoản 1
Điều 273 Bluật Ttụng Dân sm 2015, kng cáo thực hiện trong hn luật định
nên có cơ sở chấp nhận.
Căn cvào yêu cu khởi kiện giải quyết vtranh chấp ly hôn, con chung, i
sản chung và nchung kháng cáo của các đương sự cho thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Cả hai bênng xác nhận tình cảm vợ chồng không còn,
mục đíchn nhân không đt đưc, thc tế đã sống ly tn nên a án cấp sơ thẩm
cho ly n là đúng theo quy định của pháp luật.
Về con chung: 02 con chungn Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18/11/2011
Nguyễn Thanh H, sinh ngày 23/10/2013. Ông V bà T đều có nguyện vọng
nuôi con chung. Tuy nhiên, hai trẻ hiện đang sinh sống cùng với bà T, có sự phát
triển tốt, việc tiếp tục giao con cho T tiếp tục nuôi dưỡng để đảm bảo sự
phát triển bình thường của trẻ và cuộc sng ổn định là phù hợp.
Về tài sản chung: Căn hộ W5-6, chung 45 đường số 17 phường Hiệp
Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân của ông V và bà T.
Xét kháng cáo của T về yêu cầu được nhận 70% giá trị căn hộ cho thấy:
Tuy trong quá trình thanh toán nợ Ngân hàng được trừ dần vào khoản tiền lương
của T, T đóng góp nhiều hơn trong việc tạo lập tài sản trên nhưng với
yêu cầu được nhận 70% giá trị căn hộ thanh toán cho ông V 30% giá trị căn
hộ là cao, không có cơ sở để xem xét.
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Trần Đức V yêu cầu được nhận 50% giá trị
căn hộ xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án ông V không chứng minh được
đã đóng góp đtạo nên tài sản chung. Từ khi hai bên sống ly thân m 2015
T đã thanh toán tiền căn hộ mt mình, thể hiện công sức đóng góp của T
nhiều hơn. vậy, Tòa án cấp thẩm chia cho T được nhận 60% giá trị
10
ông V 40% giá trị là hợp lý. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn về chia
tài sản chung là không có cơ sở xem xét.
Về nợ chung: Trong quá trình mua nhà T đã xác định vay của ông
Nguyễn Tự C Tạ Thị Phương H số tiền 400.000.000 đồng, Ngân hàng
cũng đã xác nhận về việc thanh toán cho việc mua căn hộ nên căn cứ xác
định đây là nợ chung của hai vợ chồng. Nên các bên có trách nhiệm phải trả cho
ông C, bà H số tiền trên.
Từ những căn cứ trên, đnghị Hội đồng t xử căn cứ khoản 1 Điều 308
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn
Phương T và ông Nguyễn Trần Đức V. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] V áp dụng pháp lut tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Trần Đức
V và bà Nguyễn Phương T làm trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại
Điều 271 ; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự kháng cáo đã
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm n được chấp nhận xem xét theo trình tự
phúc thẩm.
[2] Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ông Nguyễn Trần Đức V kháng cáo yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng
01 con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18/11/2011, hai bên không cấp
dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung ông yêu cầu được nhận 50% giá trị tài
sản chung tại căn hộ W5-6, chung cư 45 đường số 17 phường Hiệp Bình Chánh,
quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Về nợ chung ông không đồng ý cùng
Nguyễn Phương T trả số tiền 400.000.000 đồng đã nợ của ông Nguyễn Tự C
và bà Tạ Thị Phương H.
Nguyễn Phương T kháng cáo yêu cầu được nhận 70% giá trị tài sản
chung tại
căn hộ
W5-6, chung 45 đường số 17 phường Hiệp Bình Chánh,
quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Mặt khác, yêu cầu ông V thực hiện
các thủ tục giao nhà cho bà.
Các nội dung khác không đương sự nào kháng cáo, căn cvào Điều
293 Bộ luật tố tụng dân sự, phạm vi xét xử phúc thẩm chxem xét lại phần của
bản án thẩm kháng cáo, các vấn đề khác không kháng cáo, kháng nghị
cấp phúc thẩm không xét
[3] Về áp dụng pháp luật về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Trần Đức V nhận thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Căn c Giấy chứng nhận kết hôn số 91, quyển
01/2009 do Ủy ban nhân dân phường Cống Vị, quận Ba Đình, Thành phố
Nội cấp cho ông Nguyễn Trần Đức V Nguyễn Phương T thì n nhân gia
11
ông V và bà T là hôn nhân hợp pp. Có 02 con chung n Nguyễn Thanh T, sinh
ngày 18/11/2011 và Nguyễn Thanh H, sinh ngày 23/10/2013.
Tại phiên tòa thẩm T ông V đều c định mâu thuẫn vợ chồng trầm
trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống. Tòa án cấp sơ
thẩm đã ghi nhận thuận tình ly hôn, bà T ông V không kháng cáo, Viện kiểm sát
không kháng nghị n phần quyết định y của bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Trần Đc V yêu cầu được nuôi 01 con chung
n Nguyn Thanh T, sinh ngày 18/11/2011. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Đối với con chung, Nguyn Phương T ông Nguyễn Trần Đức V đều
yêu tH con nnhau, đều mong muốn được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con.
Đây u cầu chính đáng xuất phát từ nh cảm thật sự nên việc chai thể hiện ý
chí muốn được nuôi conng là tất yếu. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy việc giao
con cho ai nuôi nhằm đảm bảo quyn lợi về mọi mặt cho trẻ nên cần t đến
hoàn cảnh thc tế của mỗi bên sau khi ly hôn để quyết định giao con.
Xét theo T khai, nghề nghiệp n định thu nhập hàng tháng, bản
thân ông V cho biết ông cũng điều kin tốt đảm bảo cuộc sống cho con. Tuy
nhiên, như trên đã nhận định, việc giao con cho ai nuôi đều phải lợi ích của trẻ.
n co lời khai của các đương sự i liệu trong hồ vụ án nhận thấy
trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày
18/11/2011 có một thời gian i sống cùng m em. Từ năm 2015 đến nay T
nời trực tiếp nuôi ỡng, chăm sóc hai con. Hiện tại các trẻ có sức khỏe tốt,
phát triển bình thường. Tại phiên a phúc thẩm ông Vc nhận hiện ông đang sinh
sống và m việc tại Nội. t thấy, 02 trẻ đã có môi trường sống học tập ổn
định tại Thành phố Hồ Chí Minh, nếu việc tách 02 con sẽ làm thay đổi môi trường
sống,nhởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần nh cảm của c con. Vì
vậy, Hội đồng t xử t thấy a án cấp thẩm giao 02 con cho T trực tiếp
nuôi ỡng, chăm sóc, giáo dục là sở.
Đối với tài sản chung: Hội đồng xét xử thấy rằng bà T và ông V kết hôn năm
2009, theo quy định tại Điều 33 Luậtn nn và gia đình,i sản do vợ chồng tạo
lập trong thời kỳ hôn nn là tài sản chung của vợ chồng. Căn cứo quy định tn
c định
Căn hộ
W5-6, chung cư 45 đường số 17 phường Hiệp Bình Chánh, quận
Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tài sản chung của ông V T được tạo
lập trong thời kỳ hôn nhân. Xét kháng cáo của các đương sự Hội đồng xét xử xét
thấy: Tòa án cấp thẩm đã xem xét về công sức đóng góp của 02 bên, trong
quá trình thanh toán nợ cho Ngân hàng đã trừ trực tiếp vào lương của T. Mặt
khác vào năm 2015 khi vợ chồng sống ly thân thì bà T đã thanh toán tiền căn hộ
một mình. Xét T công sức đóng góp nhiều hơn ông V. Tuy nhiên, việc
T yêu cầu được nhận 70% cao, ông V yêu cầu được nhận 50% gtrị nhưng
không chứng minh được đã đóng góp đtạo lập tài sản chung. Tòa án cấp
thẩm đã chia cho bà T được nhận 60% và ông V được nhận 40% giá trị căn hộ là
hợp lý.
Mặt khác, Hội đồng xét xử xét thấy bà T trực tiếp nuôi dưỡng hai con chưa
thành niên, ngoài căn hộ trên thì ông V và bà T không còn căn nhà nào khác nên
12
cần thiết giao nhà cho T để cùng c con phù hợp với điểm 6, điều 7
Thông liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày
06/01/2016 về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân gia
đình.
Đối với nợ chung: Khoản nợ 400.000.000 đồng của ông Nguyễn Tự C,
Tạ Thị Phương H ông V kháng cáo không đồng ý trả số nợ chung trên. Hội đồng
xét xử xét thấy, ngày 24/01/2011 T giấy vay tiền của ông C H
400.000.000 đồng, ngày 29/01/2011 T trả stiền trên cho Ngân hàng mục
đích trả nợ tiền mua căn hộ chung cư, Ngân hàng ng đã cung cấp giấy xác
nhận cho Tòa án. Việc ông V không thừa nhận số tiền trên nhưng không chứng
minh được số tiền đã trả Ngân hàng là từ đâu mà có nên có cơ sở xác định đây là
nợ chung của vợ chồng.
Tnhững nhận định tn Hội đồng t xử t thấy không n cứ để chấp
nhận kng cáo của ông Nguyễn Trần Đức V và bà Nguyễn Phương T. Thống nhất
với quan điểm của Đại diện Viện kiểm t nn dân Tnh phHồ Chí Minh. Giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Những nội dung khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên các
đương sự phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c Khon 1 Điu 148; Khon 1 Điu 308 B luật T tng Dân s năm 2015;
Căn cứ Điều 33; Điều 37; Điều 58; Điều 59; Điều 81; Điều 82; Điều 83;
Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Phương T ông Nguyễn
Trần Đức V.
2. Giữ nguyên bản án thẩm số 1299/2019/HNGĐ-ST ngày 04/11/2019
của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa Nguyễn
Phương T với ông Nguyễn Trần Đức V.
Giấy chứng nhận kết hôn số 91, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân
phường Cống Vị, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội không còn giá trị pháp lý kể
từ ngày án phát sinh hiệu lực pháp luật.
13
2.2 V con chung: Giao hai trẻ Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18/11/2011
Nguyễn Thanh H, sinh ngày 23/10/2013 cho Nguyễn Phương T trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Trần Đức V có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi
con 10.000.000 (mười triệu) đồng /tháng/người con cho đến khi con chung lần
lượt đủ 18 tuổi. Thực hiện từ tháng 01/2019 vào ngày 10 hàng tháng.
Ông Nguyễn Trần Đức V không trực tiếp nuôi con, được quyền thăm nom,
chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được ngăn cản ông V thực hiện quyền
này.
quyền lợi của trẻ chưa thành niên, trong trường hợp yêu cầu của cha,
mẹ, nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án thể xem xét quyết
định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc
mức cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày Nguyễn Phương T đơn yêu cầu thi hành án, ông Nguyễn
Trần Đức V chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải chịu
thêm tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự
năm 2015.
2.3 Về tài sản chung:
Xác định căn hộ W5-6, chung 45 đường số 17 phường Hiệp Bình
Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tài sản chung của Nguyễn
Phương T ông Nguyễn Trần Đức V. Tổng giá trị tài sản 2.200.000.000
đồng (hai tỷ hai trăm triệu đồng). T được chia 60% giá trị tài sản chung
tương đương 1.320.000.000 (một tỷ ba trăm hai mươi triệu) đồng, ông V được
chia 40% giá trị căn hộ tương đương 880.000.000 (tám trăm tám mươi triệu)
đồng.
Giao căn hộ số W5-6, chung 45 đường số 17 phường Hiệp Bình Chánh,
quận ThĐức, Thành phố Hồ Chí Minh cho Nguyễn Phương T được trọn
quyền sở hữu và sử dụng. Bà Nguyễn Phương T có nghĩa vụ thanh toán cho ông
Nguyễn Trần Đức V số tiền 880.000.000 (tám trăm tám mươi triệu) đồng
(Tương đương 40% giá trị tài sản chung). Thực hiện ngay sau khi án có hiệu lực
pháp luật.
Quá thời hạn trên, nếu Nguyễn Phương T không thực hiện nghĩa vụ
hoàn tiền thì ông Nguyễn Trần Đức V được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án
dân sự thẩm quyền phát mãi tài sản chung trên. Sau khi trừ các khoản lệ phí,
chi phí hợp lý số còn lại sẽ được chi theo tỷ lệ bà T được nhận 60%, ông V được
nhận 40%.
Ghi nhận sự tự nguyện của Nguyễn Phương T về việc tự nguyện thanh
toán 5% giá trị căn hộ còn lại (tưng đương 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng
cho Công ty TNHH T để hoàn thiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu
căn hộ W5-6, chung 45 đường số 17 phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.4. Về nợ chung:
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Tự C và bà Tạ Thị Phương H;
14
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Phùng Q Trần Thị Thu
H;
Buộc Nguyễn Phương T, ông Nguyễn Trần Đức V trách nhiệm liên
đới hoàn trả cho ông Nguyễn Tự C Tạ Thị Phương H số tiền 400.000.000
(bốn trăm triệu) đồng, trong đó phần của mỗi người 200.000.000 (hai trăm
triệu) đồng;
Buộc bà Nguyễn Phương T và ông Nguyễn Trần Đức V có trách nhiệm liên
đới hoàn trả cho ông Nguyễn Phùng Q Trần Thị Thu H số tiền
300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, trong đó phần của mỗi người 150.000.000
(một trăm năm mươi triệu) đồng;
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm
thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
3. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Nguyễn Phương T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn
nhân gia đình thẩm, 51.600.000 đồng án phí tài sản chung, 17.500.000 đồng
án phí nchung. Tổng cộng là: 69.400.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm
ứng án phí 21.300.000 (hai mươi mốt triệu ba trăm nghìn) đồng T đã
nộp tại biên lai số AA/2018/0023012 ngày 10/12/2018 của Chi cục Thi hành án
dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Phương T còn phải
nộp án phí là 48.100.000 đồng.
Ông Nguyễn Trần Đức V phải 38.400.000 đồng án phí chia tài sản chung,
17.500.000 đồng án phí nợ chung, 300.000 đồng áp phí cấp dưỡng nuôi con.
Tổng cộng là 56.200.000 đồng.
Hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 7.500.000 (bảy triệu năm trăm
nghìn) đồng cho ông Nguyễn Phùng Q và bà Trần Thị Thu H tại biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí số AA/2019/003490 ngày 31/7/2019 của Chi cục Thi hành án
dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 10.000.000 (mười triệu) đồng cho
ông Nguyễn Tự C Tạ Thị Phương H tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
số AA/2018/0023973 ngày 11/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 3.000.000 (ba triệu) đồng bà
Nguyễn Phương T tự nguyện chịu, được trừ vào tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã
nộp tại Tòa án nhân dân quận Thủ Đức theo biên lai ngày 01/8/2019. T đã
nộp đủ.
- Án phí phúc thẩm: Nguyễn Phương T ông Nguyễn Trần Đức V
phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khầu trừ số tiền tạm ứng án
phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số AA/2019/0056075 ngày
29/11/2019 biên lai thu số AA/2019/0056009 ngày 21/11/2019 của Chi cục
Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn
Phương T và ông Nguyễn Trần Đức V đã nộp đủ.
15
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND TC;
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- Chi cục THADS quận Thủ Đức;
- TAND quận Thủ Đức;
- UBND phường Cống Vị, quận Ba Đình,
Thành phố Hà Nội;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu: HS, VT (T/25).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Lê Thiên H
Tải về
Bản án số 539/2020/HNGĐ-PT Bản án số 539/2020/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất