Bản án số 536/2026/DS-PT ngày 19/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 536/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 536/2026/DS-PT ngày 19/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 536/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 10 tháng 02 năm 2026, nguyên đơn ông Trần Kim S, bà Võ Thị C có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 536/2026/DS-PT Bản án số 536/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 536/2026/DS-PT Bản án số 536/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 536/2026/DS-PT
Ngày: 19 - 6 - 2026
V/v “Tranh chấp đòi quyền
sử dụng đất, tài sản gắn liền
với đất, hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất bồi
thường thiệt hại do tài sản bị
xâm phạm”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đạt
Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Tính
Nguyễn Ái Đoan
- Thư phiên tòa: Mai Gia Khánh - TTòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên tòa:
Hà Ngọc Thư Trúc - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và 19 tháng 6 năm 2026 tại trụ sTòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 292/2026/TLPT-
DS ngày 29 tháng 4 năm 2026 về tranh chấp Đòi quyền sử dụng đất, tài sản
gắn liền với đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất bồi thường thiệt hại
do tài sản bị xâm phạm.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1053/2026/QĐ-PT
ngày 11 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Chị Trần Thị Kim H, sinh năm 1988;
Người đại diện theo uỷ quyền của chị H: Thị C, sinh năm 1959
(Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 16/01/2026) (có mặt);
2
2. Ông Trần Kim S, sinh năm 1955 (có mặt);
3. Bà Võ Thị C, sinh năm 1959 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp P, V, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Nay ấp P, V, tỉnh
Đồng Tháp).
- Bị đơn:
1. Anh Trần Võ Minh H1, sinh năm 1983 (có mặt);
2. Chị Nguyễn Thị Thanh H2, sinh năm 1986 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp P, V, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Nay ấp P, V, tỉnh
Đồng Tháp).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố T, phường T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Văn phòng C2 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã V, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Kim S, Thị C; Bị đơn
anh Trần Võ Minh H1, chị Nguyễn Thị Thanh H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, nguyên đơn Trần Thị Kim H trình bày:
Chị H là người có quyền sử dụng đối với thửa đất số 151, tờ bản đồ số 10,
diện ch 732,2m
2
, đất trồng lúa, đất tại ấp P, V, huyện G, tỉnh Tiền Giang,
nay ấp P, V, tỉnh Đồng Tháp, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CS11733, do Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 11/5/2023 cho Trần Thị Kim H. Nguồn
gốc phần đất này do chị H nhận tặng cho từ cha mẹ chị là ông Trần Kim S và bà
Võ Thị C vào tháng 5 năm 2023. Riêng căn nhà trên thửa đất ông S, bà C không
tặng cho chị H. Do hiện tại anh Trần Võ Minh H1 chị Nguyễn Thị Thanh H2
đang có căn nhà xây dựng ở nhờ trên thửa đất của chị H nên chị H khởi kiện yêu
cầu anh H1 chị H2 phải trả lại cho chị H phần diện tích đất qua đo đạc thực
tế 204,2m
2
, thuộc một phần thửa đất số 151 nêu trên, thực hiện khi bản án
hiệu lực pháp luật. Đồng thời chị H không đồng ý đối với toàn bộ yêu cầu phản
tố của anh H1, chị H2. Ngoài ra, chị H không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Nguyên đơn ông Trần Kim S và bà Võ Thị C cùng trình bày:
3
Vào năm 2005, ông S, bà C xây dựng 01 căn nhà cho con trai ruột của
ông bà anh Trần Minh H3, dạng nhà cấp 4, mái tôn, vách tường, không
dán gạch chỉ tông sơn tường, nền gạch men diện tích khoảng
100m
2
, tại vị trí phía Nam của thửa đất số 151 chị H đã trình bày. Đến năm
2010, anh H3 bệnh và chết. Sau khi anh H3 chết, ông S, bà C trực tiếp quản lý,
sử dụng căn nhà. Năm 2015, anh H1 xin ông S C được tạm tại căn
nhà này cho đến khi có điều kiện xây dựng nhà mới sẽ trả lại.
Đến năm 2020, ông S, C cho anh H1, chị H2 20 chỉ vàng 24K để
anh chị xây dựng nhà ra riêng. Do chưa nhu cầu sử dụng căn nhà trước
đó, nên ông vẫn để cho anh H1, chị H2 mượn lại để làm kho chứa đồ. Đến
năm 2023, khi nhu cầu sử dụng, ông đã yêu cầu anh H1, chị H2 trả lại
căn nhà nhưng không có kết quả và phát sinh tranh chấp.
Do đó, ông S, C khởi kiện yêu cầu anh H1, chị H2 phải trả lại ông
căn nhà cấp 4 nêu trên toàn bộ tài sản trong nhà trước thời điểm ngày
20/3/2023, thực hiện khi bản án hiệu lực pháp luật. Đồng thời, anh H1, chị
H2 còn phải nghĩa vụ bồi thường cho ông số tiền vốn kinh doanh
20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) và tiền thu hàng tháng, mỗi tháng
1.000.000đồng (Một triệu đồng) tính từ ngày 20/3/2023. Toàn bộ nghĩa vụ phải
được thực hiện khi bản án hiệu lực pháp luật. Mặt khác, ông không đồng
ý toàn byêu cầu phản tố của anh H1, chị H2. Ngoài ra, ông không ý
kiến hay yêu cầu gì khác.
Theo đơn phản tố, đơn phản tố bổ sung quá trình tố tụng, bị đơn anh
Trần Võ Minh H1 và chị Nguyễn Thị Thanh H2 cùng trình bày:
Phần đất tranh chấp nguồn gốc của anh Trần Minh H3. Năm 2002,
anh Trần Minh H3 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00697
do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 12/9/2002 đối với thửa
đất số 926, 928, 929, tờ bản đồ số 01, với tổng diện tích 3.530m
2
. Từ năm 2005
đến năm 2008, anh H3 xây dựng n nhà cấp 4, diện tích khoảng 100m
2
, tại
vị trí phía Nam của thửa đất, kết cấu và quy mô là cột bê tông, tường gạch đã tô
trát, quét vôi, không ốp gạch, nền vữa xi măng không lát gạch, mái firo xi măng
không có trần thạch cao, cửa tạm bợ, đa số là cửa nhựa và sắt, có bếp và nhà vệ
sinh, không công trình phụ, không hàng rào xung quanh thửa đất, phần
còn lại của thửa đất chưa đổ nền cao, đa số là mặt ruộng lổm chổm.
Năm 2010, anh H3 bị bệnh và chết. Năm 2013, anh H1 chị H2 kết hôn
và được sự cho phép của ông S, C là cha mẹ ruột của anh H1, anh H1 và chị
4
H2 ra riêng tại căn nhà cấp 4 do anh H3 đlại, đồng thời canh tác, sử dụng
phần còn lại của thửa đất, việc tặng cho chỉ thể hiện bằng lời nói. Do thời gian
từ khi anh H3 xây dựng nhà đến thời điểm anh H1, chị H2 sử dụng đã quá lâu,
ngoài ra do trước đó cho người khác thđể tập kết vỏ dừa, mua bán dừa
khô nên căn nhà đã kỹ xuống cấp trầm trọng. Anh H1, chị H2 đã cải tạo,
tu sửa lại toàn bộ căn nhà như gắn thêm cửa nhôm, cửa sắt kéo, đổ thêm nền
tông lát gạch ceramic loại 40 x 40, ốp tường gạch hai phòng ngủ ốp chân
tường toàn bộ căn nhà, sơn nước lại trong ngoài căn nhà, đóng trần thạch
cao nổi 60 x 60, làm lại hệ thống điện, nước, chống dột,… làm rào lưới B40,
san lắp và nâng nền toàn bộ khu đất.
Ngày 18/12/2013, ông S, C làm thủ tục kê khai di sản thừa kế của anh
H3 nhưng sau đó C chưa làm thủ tục sang tên. Từ năm 2013 đến năm 2018,
anh H1 chị H2 đã làm thêm các ng trình phụ gồm mái che tiền chế, hồ
nước mưa, lát gạch ceramic sân mái hiên. Đến năm 2019, anh chị tiếp tục
xây dựng thêm 01 căn nhà cấp 3 gồm trệt, lầu và mái bê tông, tôn, diện tích mặt
bằng khoảng 50m
2
, cạnh bên căn nhà cấp 4 trước đó. Ông S, C các anh
chị em trong gia đình hoàn toàn không ý kiến. Năm 2021, chị H từ Thành
phố Hồ Chí Minh về quê sinh sống đã xây dựng thêm 01 căn nhà cấp 3 gồm
trệt, lầu, mái tông, nằm về phía Bắc của thửa đất, cạnh căn nhà của anh chị,
diện tích nhà của chị H khoảng 80m
2
.
Đầu năm 2023, giữa anh chị và ông S, bà C phát sinh tranh chấp, được Ủy
ban nhân dân H5 ngày 24/3/2023. Tuy nhiên, ngày 31/3/2023, C làm thủ
tục sang tên quyền sử dụng đối với thửa đất số 87, tờ bản đồ số 10, diện tích
812,2m
2
, đất tại ấp P, V, huyện G, tỉnh Tiền Giang, do nhận thừa kế từ anh
H3. C được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận số
CS11610. Đến ngày 15/4/2023, C làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất
cho chị H tại Văn phòng C2. Ngày 11/5/2023 chị H được Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sCS11733 đối với
thửa đất 87 nêu trên. Ngày 14/6/2023, chị H tranh chấp với anh chị và được Ủy
ban nhân dân V hoà giải. Đến ngày 12/10/2023, cả chị H, ông S, C cùng
làm đơn khởi kiện anh chị tại Toà án.
Do đó, đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S, C, chị H về việc
tranh chấp quyền sử dụng đất bồi thường thiệt hại, anh chị đều không đồng
ý. Đồng thời, anh chị có yêu cầu phản tố với hai nội dung: Không công nhận và
tuyên bố hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 002743 quyển số
04/2023/TP/CC-SCC/HĐGD giữa bên tặng cho là bà C và bên được tặng cho là
5
chị H ngày 15/4/2023 tại Văn phòng C2; Huỷ giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất do chị H đứng tên
số CS11733 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 11/5/2023 đối
với thửa đất số 87, tờ bản đồ số 10, diện tích 812,2m
2
, đất tại ấp P, xã V, huyện
G, tỉnh Tiền Giang nêu trên. Ngoài ra, anh H1 chị H2 không ý kiến hay
yêu cầu khác. Đối với yêu cầu phản tố ban đầu về việc huỷ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cấp cho C công nhận quyền sử dụng đất nhà tại
thửa đất 151 cho anh chị, anh H1, chị H2 cùng xác định trong quá trình tố tụng
anh chị đã có đơn thay đổi thành hai nội dung phản tố nêu trên. Trường hợp anh
chị có tranh chấp với các đương sự còn lại sẽ yêu cầu Toà án giải quyết bằng vụ
án khác.
Theo Văn bản số 1154/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 19/3/2024, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T, nay Sở Nông
nghiệp và Môi trường tỉnh Đ đã nêu: Phần đất có nguồn gốc là của cá nhân ông
Trần Minh H3 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00697 được Ủy
ban nhân dân huyện G cấp ngày 12/9/2002 cho ông Trần Võ Minh H3. Sau khi
ông H3 chết không để lại di chúc, năm 2013, ông Trần Kim S (cha ruột của ông
H3) Võ Thị C (mẹ ruột của ông H3) lập Văn bản thoả thuận phân chia di
sản, di sản thừa kế của ông H3 chết để lạiphần quyền sử dụng đất theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 00697, nội dung thoả thuận thể hiện ông S
nhường toàn bộ phần thừa kế của mình cho C được Văn phòng C3 công
chứng ngày 18/12/2013.
Đến năm 2023, bà C nộp hồ nhận thừa kế đnghị cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất
(Giấy chứng nhận) đối với thửa đất số 87, tờ bản đồ số 10 (Bản đồ địa chính
chính quy) tương ứng thửa đất số 926, tờ bản đồ số 1 (Bản đồ địa chính tỷ l
1:5000) theo Giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất số 00697. Ngày 31/3/2023,
Sở T cấp Giấy chứng nhận cho bà Thị C theo Giấy chứng nhận số CS11610
với thửa đất số 87.
Ngày 15/4/2023, Thị C lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa
đất số 87 sang cho Trần Thị Kim H được Văn phòng C2 công chứng
cùng ngày. Căn cứ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được công chứng
theo quy định, H nộp hồ đề nghị cấp Giấy chứng nhận. Ngày 11/5/2023,
Văn phòng Đ (theo uỷ quyền của Sở T) cấp Giấy chứng nhận cho Trần Thị
Kim H theo Giấy chứng nhận số CS11733.
Hồ cấp Giấy chứng nhận cho Thị C hcấp Giấy chứng
6
nhận cho bà Trần Thị Kim H đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 99 Luật
Đất đai năm 2013; hồ sơ được tiếp nhận giải quyết đúng trình tự, th tục
theo quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ; đồng thời việc cấp Giấy chứng nhận được thực hiện trên sở Văn
bản thoả thuận phân chia di sản, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được
Văn phòng ng chứng công chứng theo quy định. Do đó, đối với yêu cầu huỷ
Giấy chứng nhận đã cấp đúng theo quy định của pháp luật về đất đai, Sở T
không có cơ sở xem xét.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2 chưa Văn bản
trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của
bị đơn, chưa cử người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo u
quyền tham gia tố tụng.
Đối với yêu cầu khởi kiện về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
của ông Trần Kim S, Thị C được Toà án thụ vụ án dân sthẩm số
62/2025/TLST-DS ngày 18/7/2025, xét thấy yêu cầu khởi kiện này của ông
liên quan đến nội dung các bên đang tranh chấp về quyền sử dụng đất và
theo kết quả làm việc với ông S, bà C nên Toà án đã Quyết định nhập vụ án
dân sự số 02/2025/QĐ-NVA ngày 04/8/2025 nhập vụ án thụ số
62/2025/TLST-DS ngày 18/7/2025 vào vụ án thụ số 174/2025/TLST-DS
ngày 28/4/2025. Các bên đương sự không có ý kiến gì đối với việc nhập vụ án.
Tại bản án dân sự thẩm số 40/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 Đồng Tháp áp dụng Điều 5, khoản 2,
khoản 3, khoản 6, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều
147, Điều 218, khoản 3 Điều 228, Điều 235, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều
273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Các điều 117,
131, 166, 408, 457, 459, 584, khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 133 Luật Đất đai năm 2024; Điểm đ
khoản 1 Điều 12, khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chTrần Thị Kim H về việc
buộc anh Trần Minh H1 chị Nguyễn Thị Thanh H2 trả lại phần đất
diện tích 204,2m
2
, thuộc thửa đất số 151, tbản đồ số 10, đất tại ấp P, V,
tỉnh Đồng Tháp.
7
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Kim S, Thị
C liên quan đến yêu cầu đòi tài sản:
2.1. Buộc anh Trần Minh H1 và chị Nguyễn Thị Thanh H2 trả lại cho
ông S, C 01 (một) căn nhà trệt diện tích 100,1m
2
, kết cấu móng cột
tông cốt thép, vách xây gạch, ốp gạch ceramic 250x400 (diện tích ốp gạch
29,75m
2
), nền xi măng lát gạch ceramic 400x400, mái lợp tôn xi măng, trần
Prima, khung kim loại nổi. Căn nhà được xây dựng trên thửa đất số 151, tờ bản
đồ số 10, tại ấp P, xã V, tỉnh Đồng Tháp.
2.2. Anh H1, chị H2 có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời các tài sản ra khỏi căn nhà
nêu trên gồm:
- Mái che thứ nhất kết cấu kèo thép, mái lợp tôn tráng kẽm, nền xi
măng, không cột, không vách, diện tích 18,48m
2
;
- Mái che thứ hai kết cấu cột thép, mái tôn tráng kẽm, nền xi măng, lát
gạch ceramic 300x300, không vách, diện tích 26,8m
2
(phần mái che thứ hai chỉ
gắn kết với căn nhà 50cm chiều ngang và 26,8m chiều dài của mái che);
- Mái che thứ ba gồm 02 cột sắt phi 42, mái nhựa;
- Hàng rào thứ nhất kết cấu trụ tông đúc sẵn, lưới B40, diện tích
25,95m
2
;
- Hàng rào thứ hai kết cấu trụ bê tông đúc sẵn, xây gạch cao 0,5m, phía
trên có khung thép lưới, diện tích 7,95m
2
;
- Cổng rào trụ gạch 300x300, không ốp gạch, cửa cổng bằng thép và lưới
kẽm, diện tích 5,95m
2
;
- 04 (B) Trụ bê tông đúc sẵn kích thước 120x120, chiều dài 1,5m;
- 02 (Hai) hồ nước dạng hồ tròn bằng bê tông đổ tại chỗ, thể tích 5m
3
;
- 06 (Sáu) chậu kiểng.
2.3. Ông S, C có nghĩa vụ hoàn lại cho anh H1, chị H2 giá trị sửa chữa,
cải tạo căn nhà với số tiền 18.568.250 đồng (Mười tám triệu, năm trăm sáu
mươi tám nghìn, hai trăm năm mươi đồng).
Kể tngày đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên nghĩa vụ chậm thực
hiện thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền, mức lãi suất được xác định
theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số
tiền và thời gian chậm thi hành án.
8
2.4. Buộc anh H1 chị H2 trả lại tài sản trong nhà cho ông S, C gồm:
01 Tủ ti vi bằng gỗ, 01 Đi văng bằng gỗ.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Kim S bà Thị
C về việc buộc anh Trần Võ Minh H1 và chị Nguyễn Thị Thanh H2 bồi thường
số tiền vốn kinh doanh là 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) tiền thu
hàng tháng, mỗi tháng 1.000.000đồng (Một triệu đồng) tính từ ngày 20/3/2023.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của anh Trần Minh H1 chị
Nguyễn Thị Thanh H2: Tuyên bố hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất giữa Thị C chị Trần Thị Kim H giao kết ngày 15/4/2023
tại Văn phòng C2, số công chứng 002743, quyển số 04/2023/TP/CC-
SCC/HĐGD, hiệu đối với phần diện tích đất 732,2m
2
, thuộc thửa 151 (tách
ra từ thửa 87 nêu trong hợp đồng), tờ bản đồ số 10, đất trồng lúa, đất tại ấp P,
xã V, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp P, xã V, tỉnh Đng Tháp), theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CS11733 ngày 11/5/2023 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T (Nay
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ) cấp ngày 11/5/2023.
Đương sđược quyền liên hệ với Chi nhánh Văn phòng Đ, Văn phòng
đăng đất đai Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh Đ thực hiện việc điều
chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
5. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu phản tố của anh H1, chị H2 về việc
huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho C công nhận quyền sử
dụng đất nhà tại thửa đất 151, tờ bản đồ số 10, đất tại ấp P, V, tỉnh
Đồng Tháp cho anh chị, anh H1, chị H2. Các đương sự được quyền khởi kiện
lại theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 10 tháng 02 năm 2026, nguyên đơn ông Trần Kim S, Thị C
đơn kháng cáo yêu cu Tòa án cp phúc thm gii quyết bao gồm: Chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Kim S Thị C. Không
chấp nhận yêu cầu của anh Trần Võ Minh H1 và chị Nguyễn Thị Thanh H2.
Ngày 11 tháng 02 năm 2026, bị đơn anh Trần Minh H1, chị Nguyễn
Thị Thanh H2 đơn kháng cáo yêu cu Tòa án cp phúc thm gii quyết bao
gm:
- Xem xét không chấp nhận yêu cầu của ông S C Buộc anh Trần
Minh H1 chị Nguyễn Thị Thanh H2 trả lại một căn nhà trệt diện tích
9
100,1m² có kết cấu móng cột tông cốt thép, vách xây gạch, ốp gạch ceramic
400x400, mái lợp tôn xi măng, trần prima, khung kim loại nổi. Căn nđược
xây trên thửa đất số 151, tờ bản đồ số 10, tại ấp P, V, tỉnh Đồng Tháp", yêu
cầu ông S C1 giải quyết trong vụ án khác khi mình được điều chỉnh lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên mình.
- Xem xét không yêu cầu "Anh H1, chị H2 nghĩa vụ tháo dỡ, di dời
các tài sản ra khỏi căn nhà nêu trên" trong vụ án này, mà sẽ giải quyết trong vụ
án khác khi yêu cầu của một trong hai bên sau khi điều chỉnh lại giấy chứng
nhận quyền sửdụng đất sang tên C.
- Xem xét không “Buộc anh H1 và chị H2 trả lại tài sản trong nhà cho
ông S, bà C gồm: 01 từ tivi, 01 đi văng gỗ".
- Xem xét chấp nhận hoàn toàn yêu cầu phản tố của anh H1 chị H2
“Nội dung theo đơn kháng cáo” trong đó:
Điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 151 trả
lại về bà C đứng đứng tên.
Điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 152 trả
lại về bà C đứng tên.
- Buộc chị H trả lại toàn bộ chi phí liên quan trong vụ án cho anh H1
và chị H2 gồm:
Chi phí đo đạc địa chính thửa đất phục vụ công tác Tòa án theo hợp đồng
số 4167/2023/HDDS ngày 20/11/2023; hóa đơn số 00000245 ngày 29/01/2024.
Chi phí: 2.487.479 đồng.
Chi phí thẩm định tại chổ của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang (nay
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp): 3.000.000 đồng.
Chi pthẩm định, định giá tài sản theo phiếu thu của Tòa án cấp
thẩm ngày 20/11/2023. Chi phí: 1.800.000 đồng (tạm ứng) - 1.200.00 (trả lại) =
600.000 đồng.
oTại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị
đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố. Nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
toàn bộ vụ án.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng
10
quy định của pháp luật. c đương sự cũng chấp hành theo đúng quy định của
pháp luật về tố tụng dân sự;
- Về nội dung vụ án và yêu cầu kháng cáo: Nguồn gốc phần đất các bên
tranh chấp của Ông S C. m 2001, Ông S C tặng cho anh H3
3.500m
2
(thửa 926, 927 928). Anh H3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất vào năm 2002; Năm 2010 anh H3 chết không để lại di chúc; Năm
2023 ông S C m thtục kê khai di sản thừa kế quyền sdụng đất, C
được đứng tên quyền sử dụng đất, chưa làm thủ tục khai di sản thừa kế
căn nhà của anh H3. Tài liệu trong hồ thể hiện năm 2017 anh H1 đã cất
01 căn nhà trên phần đất của anh H3. Quá trình giải quyết tại a thẩm t
Tòa án sơ thẩm chưa làm rõ phạm vi và quyền khởi kiện của các đương sự; Đối
với quyết định của bản án sơ thẩm thì không thể hiện vị trí tứ cận căn nhà buộc
anh H1 giao trả, không mô tả cụ thể tủ tivi gỗ và 01 đi văng gỗ thì không thể thi
hành án. Tại phiên tòa phúc thẩm anh H1 trình bày, khi về sinh sống trên
phần đất của anh H3 thì anh H1 đầu tư san lắp toàn bộ thửa đất số 87 (nay
thửa 151, thửa 152) nhưng chưa được thẩm định, định giá. Đề nghị Hội đồng
xét xcăn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên hủy toàn bộ
bản án thẩm. Do hủy án sơ thẩm nên chưa xem xét yêu cầu kháng cáo của
các đương sự.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được
thẩm tra tại phiên tòa, nội dung yêu cầu kháng cáo của các đương sự, lời trình
bày của các đương sự kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát
biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về ttụng: Tòa án thẩm xác định quan hệ tranh chấp Đòi quyền
sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạmđúng theo yêu cầu khởi kiện
của các đương sự. Sau khi xét xử thẩm, nguyên đơn Trần Kim S, Thị C
bị đơn Trần Minh H1, Nguyễn Thị Thanh H2 đơn kháng cáo bản án
trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.1] Đối với những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Sở
Nông Nghiệp Môi trường tỉnh Đ, Văn phòng C2 đơn xin xét xử vắng
mặt. Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án theo qui định tại khoản
2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Ông Trần Kim S và bà Võ Thị C là vợ chồng, đồng
11
thời cha - mruột của anh Trần Minh H3 (đã chết), anh Trần Minh
H1 (vợ Nguyễn Thị Thanh H2) chị Trần Thị Kim H. Ông Trần Kim S
chủ sdụng các thửa đất số 926, 928 và 929 được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất ngày 05/10/1999. Ngày 16/10/2001, ông S, C tặng cho anh H3
với diện tích 3.530m
2
(gồm 3420m
2
đất lúa 110m
2
đất màu), thuộc các thửa
926, 928, 929, cùng tờ bản số số 1. Anh H3 đã được Ủy ban nhân dân huyện G
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00697 ngày 12/9/2002 đối với 03
thửa đất này. Ngày 21/6/2010, anh H3 chết, không để lại di chúc, ông S và bà C
là người thừa kế theo pháp luật của anh H3 đã Văn bản thoả thuận phân chia
di sản đối với quyền sử dụng đất nêu trên, văn bản được công chứng tại Văn
phòng C3 ngày 18/12/2013, toàn bộ di sản để lại cho C. Trong đó, thửa đất
số 926, tờ bản đsố 1, đất trồng lúa, diện tích 880m
2
, khi C làm thủ tục
được xác định thửa số 87, tờ bản đồ số 10, diện tích 812,2m
2
, C đã được
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CS11610 ngày
31/3/2023. Ngày 15/4/2023, C làm hợp đồng tặng cho chị H quyền sử dụng
đất tại thửa đất số 87, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C2, chị H đã
được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sdụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CS11733 ngày
11/5/2023. Đến ngày 18/5/2023, chị H xin chuyển mục đích và làm thủ tục tách
thửa đối với thửa đất 87, theo đó thửa đất được tách thành 02 thửa gồm thửa
152, diện tích 80m
2
, đất tại nông thôn thửa 151, diện tích 732,2m
2
, trong
đó có 545,7m
2
đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường bộ.
[2.1] Quá trình sử dụng đất: Khi anh H3 còn sống thì anh H3 được ông S,
C cất cho căn nhà tường diện tích theo đo đạc hiện nay 100,1m
2
(hiện
ông S, C đang tranh chấp với anh H1). Năm 2010 anh H3 chết, năm 2013
anh H1 ng vợ (chị H2) về sinh sống trên căn nhà này được sự cho phép của
ông S, C. Năm 2019 anh H1, chị H2 cất 01 căn nhà (cấp 3) trên phần đất
thuộc thửa đất số 87 (nay là thửa 151), tờ bản đồ số 10, diện tích 812,2m
2
; Năm
2021 chị H cũng xây dựng 01 căn nhà ( cấp 3) trên phần đất này. Như vậy, trên
thửa đất tồn tại 03 căn nhà vào thời điểm năm 2021 gồm 01 căn nhà của anh H3
chết để lại (ông S, C đang tranh chấp với anh H1), 01 căn nhà cấp 3 của anh
H1 01 căn nhà cấp 3 của chị H. Năm 2023, C khai thừa kế được cấp
giấy chứng nhận quyền sdụng đất thửa đất số 87, tờ bản đồ số 10, diện tích
812,2m
2
, bà C tặng cho toàn bộ thửa đất trên cho chị H, sau khi chH được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát sinh tranh chấp.
[3] Qua xem xét tòan bộ tài liệu chứng cứ trong hồ ván, lời trình
bày của các đương sự trong quá giải quyết vụ án giai đoạn thẩm phúc
12
thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, Tòa án thẩm giải quyết không
toàn diện vụ án, tại phiên tòa phúc thẩm phát sinh tình tiết mới, cụ th
như sau:
[3.1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị
đơn thì bản chất tranh chấp của vụ án này tranh chấp khối di sản thừa kế của
anh Trần Minh H3 chết để lại gồm thửa đất số 926, 928 thửa đất 929
tổng diện tích 3.530m
2
, anh H3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
chính thức ngày 12/9/2002, trên đất căn nhà cấp 4 của anh H3. m 2010
anh H3 chết không để lại di chúc, ông S C (cha mẹ ruột anh H3) làm thủ
tục khai di sản thừa kế quyền sử dụng đất, C được đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất vào năm 2023, căn nhà chưa làm thủ tục nhận di sản
thừa kế. Năm 2019, anh H1 đã cất nhà (cấp 3) trên thửa đất số 87, anh H1 cũng
người sử dụng căn nhà của anh H3 trên đất. Nay ông S - bà C khởi kiện
đòi anh H1 phải trả lại căn nhà của anh H3 (đã chết), đòi tài sản trong nhà. Như
vậy, Tòa án thẩm phải xác định được di sản của anh H3 chết để lại gồm
những tài sản gì? Ai người được xác lập quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà đối với di sản của anh H3. Từ đó xác định phạm vi khởi kiện, quyền khởi
kiện quyền phản tố của các đương sự để giải quyết vụ án đầy đủ toàn
diện.
[3.2] Tài liệu trong hồ thể hiện, anh H1 cho rằng khi về căn nhà
của anh H3 thì anh H1 tu bổ, sửa chữa căn nhà anh H3 san lấp toàn bộ
thửa đất số 87 tờ bản đồ số 10, diện tích 812,2m
2
(nay thửa đất số 151,
thửa số 152). Anh H3 chứng minh bằng hợp đồng thi công (bút lúc 268-285) về
việc sửa chữa thi công, san lấp mặt bằng của thửa đất đang tranh chấp nhưng
chưa được xem xét. Tòa án thẩm đã tuyên xử “…Buộc anh Trần Minh
H1 chị Nguyễn Thị Thanh H2 trả lại cho ông S, C 01 (một) căn nhà trệt
diện tích 100,1m
2
, kết cấu móng cột tông cốt thép, vách xây gạch, ốp
gạch ceramic 250x400 (diện tích ốp gạch 29,75m
2
), nền xi măng lát gạch
ceramic 400x400, mái lợp tôn xi măng, trần Prima, khung kim loại nổi. Căn
nhà được xây dựng trên thửa đất số 151, tờ bản đồ số 10, tại ấp P, V, tỉnh
Đồng Tháp..”. Tài liệu thu thập trong hồ thì không bản vẽ định vị căn
nhà này, đồng thời bản án cũng không nêu tứ cận cụ thể n nhà, trong khi đó
thửa đất 151 đang tồn tại 02 căn nhà liên kề nhau, do đó không thể thi hành án
khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.
[3.3] Tại thông báo thụ vụ án bổ sung số 174a/TB-TLVABS ngày
04/9/2025 (bút lục số 403) đã thụ lý yêu cầu của ông S “… Buộc Trần Võ Minh
13
H1 và Nguyễn Thị Thanh H2 trả lại căn nhà cấp 4 cất vào năm 2005, hoàn lại
tài sản trong nhà y như trước ngày 20/3/2023..” Đối với yêu cầu hoàn lại
tài sản trong nhà y như trước ngày 20/3/2023 thì đây yêu cầu không
ràng. Tòa án sơ thẩm phải yêu cầu đương sự xác định đầy đủ ràng yêu cầu
khởi kiện của mình đồng thời nộp chứng cứ tài liệu để chứng minh cho yêu cầu
khởi kiện của mình. Tại phiên tòa phúc thẩm tông S trình bày tài sản trong
nhà rất nhiều tài sản (khoảng 20 loại). Tòa án phúc thẩm cho đối chất giữa
ông S và anh H1 tại phiên tòa thì anh H1 có thừa nhận một số tài sản do anh H3
để lại nhưng hiện nay không còn, chỉ còn lại bộ sừng giác 01 đi văng gỗ
và 01 tủ gỗ. Tòa án thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ về các tài sản trong
nhà tranh chấp, quyết định của bản án tuyên “…Buộc anh H1 chị H2 trả
lại tài sản trong nhà cho ông S, C gồm: 01 Tủ ti vi bằng gỗ, 01 Đi văng
bằng gỗ”. Tòa án thẩm không tả, định giá 02 loại tài sản này nhưng
tuyên án như trên là không thể thi hành án và không có cơ sở để tính án phí dân
sự sơ thẩm.
[3.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh H1 trình bày thêm nh tiết mới là
khi anh H1 về sinh sống trên đất của anh H3 thì anh H1 đầu tư san lấp mặt
bằng, làm lại hàng rào toàn bộ thửa đất, trong đó phần diện tích đất chị H
đang cất nhà (nay là thửa đất số 152). Tòa án phúc thẩm cũng tạo điều kiện cho
các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giao nhận căn nhà (của anh H3)
các tài sản trong nhà, nhưng các bên đương sđều không thỏa thuận được,
đồng thời không yêu cầu Tòa án phúc thẩm xem xét thẩm định, định giá tài sản
tranh chấp. Do đó, Tòa án phúc thẩm không thể khắc phục được.
[4] Từ những căn cứ phân tích như trên, Tòa án phúc thẩm hủy toàn bộ
bản án sơ thẩm, chưa xem xét đến yêu cầu kháng cáo của các đương sự.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận ý kiến đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về án phí: Do hủy án thẩm nên các đương skhông phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
[7] Về án phí dân sự thẩm và chi ptố tụng sẽ được xem xét giải
quyết khi vụ được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
14
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 296, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng
dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí của
Thường Vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Hủy toàn bộ án án dân sự sơ thẩm số 40/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 Đồng Tháp đã xét xử vụ án tranh
chấp “Đòi quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm giữa nguyên
đơn Trần Thị Kim H, Trần Kim S Thị C b đơn Trần Minh
H1, Nguyễn Thị Thanh H2.
2. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp thụ lý giải quyết
theo qui định của pháp luật.
3. Về án phí phúc thẩm:
- H4 lại ông Trần Minh H1 và Nguyễn Thị Thanh H2 số tiền
300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0011502 ngày
11/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Tuyên án công khai lúc 15 giờ 00 phút ngày 19 tháng 6 năm 2026.
Nơi nhn:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vc 2 Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương s;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Trần Văn Đạt
15
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 536/2026/DS-PT Bản án số 536/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 536/2026/DS-PT Bản án số 536/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất