Bản án số 529/2023/DS-PT ngày 28/04/2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 529/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 529/2023/DS-PT ngày 28/04/2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 529/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/04/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 529/2023/DS-PT
Ngày: 28/4/2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua
bán căn hộ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Phúc
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vũ Trọng Đan
Bà Phạm Thị Thu Hải
- Thư phiên tòa: Trần Thị Lan Hương - TTòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Nguyễn Thị Kim Tiển - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 484/TLPT-DS ngày 23
tháng 11 năm 2022 v việc:“Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ”.
Do Bản án thẩm số 477/2022/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2022 của
Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1091/2023/QĐPT-DS ngày 10
tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 4072/2023/QĐPT-DS ngày 06
tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Shy Cẩm N
Địa chỉ: đường N, Phường M , Quận N, Thành phố H.
Đại diện theo ủy quyền: Lê Thị Bích N
Địa chỉ liên lạc: Tầng trệt cao ốc Hoàng Đan, đường N, phường Đ, Quận
M, Thành phố H.
(Văn bản ủy quyền số 009053 ngày 25 tháng 11 năm 2020).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn
Hữu T - Luật sư thuộc Công ty Luật D, Đoàn Luật sư Thành phố H.
2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất - Thương mại - Dịch
vụ T
Địa chỉ: đường A, Phường M, Quận T, Thành phố H.
2
Địa chỉ liên lạc: Đường C, Khu dân cư T, xã B, huyện B, Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn:
- Ông Lê Minh T
Địa chỉ:, chung cư Phường S, Quận T, Thành phố H.
(Giấy ủy quyền số 13/2022/GUQ-TB ngày 10/6/2022);
- Ông Nguyễn Văn L
Địa chỉ: thôn G, xã S, thị xã N, tỉnh Y.
(Giấy ủy quyền số 19/2022/GUQ-TB ngày 20/9/2022)
Tại phiên tòa phúc thẩm: Thị Bích N, ông Nguyễn Hữu T, ông
Minh T có mặt. Ông Nguyễn Văn L vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ
án và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 13 tháng 10 năm 2017, ông N Công ty TNHH Sản Xuất -Thương
mại - Dịch vụ T (sau đây gọi tắt Công ty T) Hợp đồng Mua bán căn hộ
chung cao tầng An Sinh số C-6-8/HĐMB/ANSINH-ASALIGHT (Hợp
đồng).Theo đó, Công ty T sẽ bán cho ông N 01 căn hộ số C-6-8, tại
tầng 6, thuộc Chung cư cao tầng An Sinh, Phường 4, Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh.
Ngày bàn giao dự kiến 30 tháng 6 năm 2018. Ngày bàn giao thực tế thể
muộn hơn so với ngày dự kiến tối đa là 06 tháng. Đến tháng 01 năm 2019, Công
ty T chưa xây dựng xong công trình nên không thể bàn giao căn hộ như hợp
đồng đã . Ngày 04 tháng 4 năm 2019, Ông N và Công ty T đã Biên bản
thanh lý hợp đồng số C-6-8/ANSINH/BBTL/TB/2019. Theo đó, Công ty T đồng
ý hoàn trả cho ông N số tiền đã nhận 421.740.000 đồng bồi thường 30%
trên tổng số tiền ông N đã thanh toán tương đương 126.522.000 đồng. Tổng
cộng 548.262.000 đồng. Ngày 12/7/2019, Công ty T đã thanh toán cho ông N
số tiền 40.000.000 đồng.
Tổng số tiền Công ty T còn phải thanh toán tiếp 508.262.000 đồng, chia
thành 02 đợt lần lượt như sau: đợt 1 vào ngày 30/6/2019 với số tiền 234.131.000
đồng; đợt 2 vào ngày 31/07/2019 với số tiền 274.131.000 đồng. Kể từ ngày
Biên bản thanh lý hợp đồng cho đến nay, Công ty T vẫn chưa thanh toán số tiền
đã cam kết. Theo thỏa thuận của biên bản thanh hợp đồng nếu công ty T
không chi trả đúng hạn thì phải chịu lãi suất phạt quá hạn trên tổng số tiền chậm
thanh toán 18%/năm, được tính từ ngày phải thanh toán đến ngày thực trả.
thế, tiền lãi lần lượt cho 02 đợt thanh toán như sau:
3
+ Lãi suất đợt 1 (từ ngày 30/06/2019 đến 28/9/2022) là 38 tháng 28 ngày x
1,5%/tháng x 234.131.000 đồng = 136.732.504 đồng.
+ Lãi suất đợt 2 (từ ngày 31/07/2019 đến 28/9/2022) là 37 tháng 28 ngày x
1,5%/tháng x 274.131.000 đồng = 155.980.539 đồng.
Tổng tiền lãi là 292.713.043 đồng
Nay ông N yêu cầu: Công ty T thanh toán một lần số tiền 800.975.043
đồng. Trong đó, số tiền bị đơn đã cam kết trả khi ký Biên bản thanh lý hợp đồng
508.262.000 đồng tiền lãi phát sinh tính đến ngày 28/9/2022
292.713.043 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn trình bày: Công ty T Hợp đồng Căn hộ Chung cao tầng
An Sinh số C-6-8/HĐMB/ANSINH-ASALIGHT ngày 13/10/2017 Biên bản
thanh hợp đồng số C-6-8/ANSINH/BBTL/TB/2019 ngày 04/4/2019 như nội
dung đại diện nguyên đơn vừa trình bày. Công ty T không phải chủ đầu dự
án mà là Công ty dịch vụ công ích Quận T, Công ty T chỉ là liên kết đầu tư cùng
Công ty Dịch vụ Công ích Quận T. Do đó Hợp đồng Căn hộ Chung cư cao tầng
An Sinh số C-6-8/HĐMB/ANSINH-ASALIGHT giữa công ty T ông Shy
Cẩm N ngày 13/7/2017 vô hiệu. Công ty T hoàn trả số tiền đã nhận bồi
thường hợp đồng do vô hiệu với mức lãi suất theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự thẩm s 477/2022/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm
2022 của Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố H quyết định:
- Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều
233, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 357, Điều 418, Điều 422, Điều 468 của Bộ luật dân sự
năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Shy Cẩm N.
1.1. Công ty TNHH Sản Xuất - Thương mại - Dịch vụ T trách nhiệm
thanh toán cho ông Shy Cẩm N số tiền 800.975.043 (Tám trăm triệu chín trăm
bảy mươi lăm nghìn không trăm bốn mươi ba) đồng ngay khi bản án hiệu lực
pháp luật.
1.2. Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, nếu
người phải thi hành án không thực hiện việc trả tiền như bản án đã tuyên thì phải
4
trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí:
2.1. Án phí dân sự thẩm 36.029.251 (Ba mươi sáu triệu không trăm
hai mươi chín nghìn hai trăm năm mươi mốt) đồng, Công ty TNHH Sản Xuất -
Thương mại - Dịch vụ T chịu, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2.2. Ông Shy Cẩm N không phải chịu án phí số tiền tạm ứng án p
15.646.241 (Mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn hai trăm bốn mươi
mốt) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0044692 ngày 07/12/2020 của Chi cục Thi
hành án dân sự Quận T được hoàn trả cho ông Shy Cẩm N.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngoài ra án thẩm n tuyên về quyền yêu cầu thi hành án quyền
kháng cáo của các đương sự.
Ngày 11/10/2022, bị đơn Công ty T đơn kháng cáo với nội dung: kháng
cáo toàn bộ bản án thẩm. do kháng cáo: không đồng ý với toàn bộ nội
dung bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người
kháng cáo không rút kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo Công ty T trình bày: Án sơ thẩm
buộc bị đơn trả cho nguyên đơn 30% tiền phạt trên số tiền mua căn hộ sai
Công ty T không được Ủy ban nhân dân Quận T chấp thuận là chủ đầu dự án
xây dựng căn hộ, do đó Hợp đồng mua bán căn hộ giữa hai bên bị hiệu. Mặt
khác, án thẩm buộc bị đơn trả lãi theo mức lãi suất 18%/năm không đúng,
bị đơn chỉ chấp nhận trả tiền lãi 9%/năm. vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc
thẩm sửa án sơ thẩm theo nội dung như trên.
Nguyên đơn Thị Bích N người đại diện theo ủy quyền trình
bày: đề nghị bác kháng cáo của bị đơn. Do bản án thẩm chỉ tính lãi đến ngày
xét xử thẩm nên đề nghị cấp phúc thẩm tính tiếp tiền lãi từ ngày xét xử
thẩm đến ngày xét xử phúc thẩm 53.113.379 đồng. Đồng thời, đnghị cấp
phúc thẩm buộc bị đơn trả thêm tiền lãi với mức lãi suất 18%/năm tính từ
ngày tiếp theo của ngày xét xử phúc thẩm cho đến khi thi hành án xong.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: đề nghị
5
Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhận xét và đề nghị:
Về tố tụng: giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán Hội đồng xét xử thực hiện
đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự được đảm bảo thực hiện
các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: án sơ thẩm buộc bị đơn trả nợ gốc và tiền lãi cho nguyên đơn
căn cứ. Bị đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án thẩm với do hợp đồng
mua bán căn hộ giữa các bên bị vô hiệu là không có cơ sở, vì giữa các bên đã lập
Biên bản thanh hợp đồng ngày 04/4/2019, việc thỏa thuận của các đương sự
trong biên bản thanh lý hợp đồng nêu trên tự nguyện, không vi phạm điều
cấm của pháp luật, nên thỏa thuận này hiệu lực thi hành giữa các bên. Mặt
khác, tại phần quyết định của bản án thẩm tuyên về lãi suất thi hành án
không đúng quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-
HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Đề
nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn, sửa phần quyết định của bản án
sơ thẩm về lãi suất thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét
xử nhận định:
[1]. Đơn kháng cáo của bị đơn đảm bảo đúng quy định vthời hạn thủ
tục kháng cáo, do đó về hình thức là hợp lệ.
[2]. Về người tham gia ttụng trong vụ án, cấp thẩm đã đưa tham gia
đủ, việc tống đạt các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời xác định đúng thẩm
quyền giải quyết vụ án.
[3]. Về quan hpháp luật tranh chấp: cấp thẩm xác định quan hệ
pháp luật tranh chấp trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ là
chính xác.
[4]. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty T:
[4.1]. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ lời trình bày của các đương sự
đã xác định việc nguyên đơn mua của bị đơn căn hộ số C-6-8, tại tầng
6, thuộc Chung cao tầng An Sinh, Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí
Minh, có lập hợp đồng mua bán, ngày bàn giao dự kiến là 30 tháng 6 năm 2018,
ngày bàn giao thực tế thmuộn hơn tối đa 06 tháng. Do bị đơn không bàn
6
giao căn hộ đúng thời hạn nên vào ngày 04/4/2019 các bên đương sự lập Biên
bản thanh hợp đồng với nội dung bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền đã
nhận là 421.740.000 đồng bồi thường 30% trên tổng số tiền mà nguyên đơn
đã thanh toán tương đương 126.522.000 đồng. Tổng cộng 548.262.000 đồng,
thanh toán làm 02 lần, hạn chót vào ngày 31/7/2019, nếu không thanh toán đúng
hạn thì bị đơn phải chịu thêm tiền lãi trên số tiền chưa thanh toán 18%/năm.
Xét việc thỏa thuận này của các bên tự nguyện, không vi phạm điều cấm của
pháp luật, nên có hiệu lực thi hành. Trên thực tế, ngày 12/7/2019, bị đơn đã thực
hiện thỏa thuận nêu trên đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 40.000.000
đồng.
[4.2]. Tại phiên tòa, bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu sửa bản
án thẩm cho rằng hợp đồng mua bán căn hộ giữa các bên bị hiệu nên
không đồng ý với toàn bộ án thẩm. Như đã phân tích mục [4.1] thì cấp
thẩm căn cứ vào biên bản thanh lý hợp đồng để buộc bị đơn phải trả toàn bộ tiền
gốc, tiền lãi và tiền phạt là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các Điều 418, 422,
357 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và bị đơn không cung cấp được bất kỳ
tài liệu, chứng cứ hoặc luận cứ nào để cho rằng án thẩm xét xử không đúng,
trong khi bị đơn xác nhận cho đến nay chưa thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán.
[4.3]. Xét mục [1.2] của quyết định của bản án sơ thẩm tuyên: “Kể từ ngày
người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án
không thực hiện việc trả tiền như bản án đã tuyên thì phải trả lãi đối với số tiền
chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân
sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả” là không đúng theo quy định tại
điểm a Khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do vậy, cần sửa lại phần này
của bản án sơ thẩm cho đúng quy định pháp luật.
Từ những cơ sở chứng cứ và nhận định trên, xét án sơ thẩm đã giải quyết là
căn cứ pháp luật. Không sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn, như ý
kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[5.]. Về án phí phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được
chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng
7
Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vmức thu, miễn, giảm, thu nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Sản Xuất - Thương Mại – Dịch Vụ T.
2. Sửa một phần bản án thẩm số 477/2022/DS-ST ngày ngày 28 tháng 9
năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ C.
2.1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Shy Cẩm N.
2.2 Công ty TNHH Sản Xuất - Thương mại - Dịch vụ T trách nhiệm
thanh toán cho ông Shy Cẩm N số tiền 800.975.043 (Tám trăm triệu chín trăm
bảy mươi lăm nghìn không trăm bốn mươi ba) đồng ngay khi bản án hiệu lực
pháp luật.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2.3 Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
nh án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Biên bản thanh hợp đồng
số C-6-8/ANSINH/BBTL/TB/2019 ngày 04/04/2019.
3. Án phí:
3.1. Án phí dân sự thẩm 36.029.251 (Ba mươi sáu triệu không trăm
hai mươi chín nghìn hai trăm năm mươi mốt) đồng, Công ty TNHH Sản Xuất -
Thương mại - Dịch vụ T chịu.
3.2. Hoàn lại cho ông Shy Cẩm N số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo bn
lai thu số 0044692 ngày 07/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận T.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Sản xuất - Thương mại – Dịch vụ T phải chịu, được khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số
AA/2021/0017505 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận T.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
8
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND Quận 8;
- Chi cục THADS Quận 8;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
Trần Quang Phúc
Tải về
Bản án số 529/2023/DS-PT Bản án số 529/2023/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất