Bản án số 52/2023/DS-ST ngày 14/08/2023 của TAND TX. Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 52/2023/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 52/2023/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 52/2023/DS-ST ngày 14/08/2023 của TAND TX. Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Trảng Bàng (TAND tỉnh Tây Ninh) |
| Số hiệu: | 52/2023/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/08/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 52/2023/DS-ST
Ngày: 14-8-2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hùng;
Ông Tạ Kỳ Trung.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân thị
xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên
tòa: Bà Lê Thị Hồng Đào – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng,
tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2022/TLST-DS, ngày
16 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-DS ngày 20
tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Bà Dương Thị Thanh T, sinh năm 1960; cư trú tại: khu phố GH, phường
TB, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Ông Dương Tuấn A, sinh năm 1962; cư trú tại: khu phố TL, phường GL,
thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Dương
Tuấn K;
Bà Đăng Thị L, sinh năm 1962; cư trú tại: ấp PL, xã PM, Huyện DMC,
tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Anh Dương Chí H, sinh năm 1984; cư trú tại: phường A, quận B, Thành
phố Hồ Chí Minh, có mặt.
Anh Dương Chí T1, sinh năm 1982 (hiện không rõ địa chỉ).
- Bị đơn: Ông Dương Tuấn H1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Bích T2,
sinh năm 1969; cư trú tại: khu phố GH, phường TB, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh,
vắng mặt
2
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Nguyễn Minh S, sinh năm 1985;
cư trú tại: khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Tây Ninh (là đại diện theo ủy
quyền theo Hợpđồng ủy quyền ngày 02/8/2023); có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa, nghĩa vụ liên quan: cụ Dương Ngọc T3, sinh
năm 1931; cư trú tại: khu phố LA, phường TB, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh, có đơn
xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/12/2021 và các lời khai tại Tòa án, nguyên
đơn - ông Dương Tuấn A trình bày:
Ông là con ruột thứ tư trong gia đình cụ Dương Ngọc T3 và cụ Nguyễn
Thị T4. Cuối năm 1989, ông lập gia đình và cất nhà ở riêng tại ấp Lộc Trát, xã
Gia Lộc nay là khu phố Tân Lộc, phường Gia Lộc thị xã Trảng Bàng, tỉnh tây
Ninh. Mặc dù ông không sống cùng cha mẹ nhưng ông thường xuyên tới nhà để
chăm sóc, cho tiền và đưa mẹ đi khám bệnh lúc cần thiết. Cho tới tháng 11 năm
2021 mẹ ông qua đời và gia đình phát hiện phần đất cha mẹ đang ở đã sang tên
cho vợ chồng ông H1, bà Bích T2. Tại thời điểm tặng cho quyền sử dụng đất cha
mẹ ông đã lớn tuổi (cha ông 91 tuổi, mẹ ông 89 tuổi) không đủ sức khỏe để định
đoạt tài sản của mình. Phần tài sản trên đất tranh chấp có căn nhà do ông bỏ tiền
ra xây dựng cho cha mẹ ông ở. Nay ông yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Thị T4, cụ Dương Ngọc T3 và ông Dương Tuấn H1
đối với phần đất diện tích 230,6m
2
tại thửa số 119, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại
khu phố Lộc An, phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Lý do
ông cho rằng khi tặng cho quyền sử dụng đất cụ T3, cụ T4 bị lừa dối vì hai cụ đã
hơn 80 tuổi nhưng khi tặng cho không có giấy khám sức khỏe y tế của hai cụ.
Mặt khác, giữa cụ T4 và bà Bích T2 (vợ ông H1) đã xảy ra mâu thuẫn từ lâu.
Nguyên đơn– bà Dương Thị Thanh T trình bày: Bà thống nhất với lời
trình bày của ông Tuấn A và có cùng yêu cầu với ông Tuấn A.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Dương
Tuấn K – bà Đặng Thị L trình bày: Bà là vợ của ông Dương Tuấn K. Ông K đã
chết tháng 02/2022. Ông K và bà có 02 người con gồm Dương Chí T1 và Dương
Chí H. Khi ông K còn sống bà biết ông K có khởi kiện ông H1 về việc yêu cầu
hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ T3, cụ T4 và vợ chồng ông
H1. Nay bà vẫn giữ yêu cầu khởi kiện của ông K.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Dương
Tuấn K – anh Dương Chí H trình bày: Anh là con của ông K. Khi ông K còn
sống bà biết ông K có khởi kiện ông H1 về việc yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất giữa cụ T3, cụ T4 và vợ chồng ông H1. Nay anh vẫn giữ yêu
cầu khởi kiện của ông K.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn – ông Dương Tuấn H1 trình bày: Ông là
con ruột của cụ T4 và cụ T3. Cha mẹ ông lúc đầu ở chung với người con trai út
tên Dương Tuấn Nhã. Nhưng sau đó, ông Nhã chết vì vậy vào năm 2021, cha mẹ
ông mới điện thoại kêu ông về nhà để thông báo là cho tặng ông và vợ ông là
Nguyễn Thị Bích T2 phần đất và căn nhà mà cha mẹ đang ở. Mục đích cho tặng
3
nhà và đất cho ông để ông phụng dưỡng cha mẹ già và lo cúng giỗ sau này. Vì
vậy, vào ngày 18/5/2021, cha mẹ ông cùng vợ chồng ông đến UBND phường
Trảng Bàng ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với phần đất diện tích
230,6m
2
tại thửa số 119, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại khu phố Lộc An, phường
Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Sau khi ký hợp đồng, ông đăng
ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ khi được cha mẹ tặng
cho đất, ông và vợ đã thực hiện đúng như nghĩa vụ của cha mẹ đặt ra như lo cơm
nước cha mẹ hằng ngày. Sau khi mẹ ông chết, vợ chồng ông cũng xây mộ cho
mẹ. Từ khi vợ chồng ông được tặng cho quyền sử dụng đất thì ông không có xây
dựng thêm công trình nào trên đất. Căn nhà trên đất là của cha mẹ của ông. Vào
tháng 8/2022 do nhà bị ngập nước nên ông có đặt cống thoát nước hết 8.890.000
đồng. Nay ông không đồng ý hủy hợp đồng như yêu cầu của nguyên đơn. Trong
trường hợp Tòa án hủy hợp đồng tặng cho đất giữa ông và cha mẹ thì ông cũng
không yêu cầu nguyên đơn trả cho ông lại số tiền 8.890.000 đồng đã làm cống.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị Bích T2 trình bày: Bà là
vợ của ông H1. Bà có cùng ý kiến và yêu cầu với ông H1.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Nguyễn Minh Sang trình bày:
Nguyên đơn khởi kiện nhưng không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi
kiện của mình. Việc cụ T3 và cụ T4 tặng cho quyền sử dụng đất cho bị đơn là
hoàn toàn phù hợp với pháp luật. Do đó, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Dương
Ngọc T3 trình bày: Cụ xác định việc vợ chồng cụ tặng cho quyền sử dụng đất cho
vợ chồng ông H1 là hoàn toàn tự nguyện. Do vợ cụ đề nghị với cụ việc tặng cho
đất này. Ông H1 là người con áp út (con trai út của cụ đã chết) nên vợ chồng cụ
quyết định tặng cho quyền sử dụng đất và nhà cho vợ chồng ông H1 để vợ chồng
ông H1 phụng dưỡng vợ chồng cụ. Do đó, vào ngày 18/5/2021, vợ chồng cụ cùng
vợ chồng ông H1 trực tiếp đến Ủy ban nhân dân phường Trảng Bàng để làm thủ
tục tặng cho đất. Khi tiến hành làm thủ tục tặng cho đất thì không ai yêu cầu cụ
phải nộp giấy khám sức khỏe. Cụ xác định tại thời điểm tặng cho đất này, cụ và
vợ cụ hoàn toàn minh mẫn. Cụ không bị lừa dối hay ép buộc gì khi ký hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất cho ông H1, bà Bích T2. Cụ thừa nhận cụ có ký vào
đơn kH kiện do ông Tuấn A nộp cho Tòa án nhưng cụ không có đọc nội dụng khi
ký. Đơn này do ông Tuấn A viết và đưa cụ ký. Sau khi vợ cụ qua đời thì chỉ có
vợ chồng của ông H1 xây mồ cho vợ cụ. Từ khi vợ chồng cụ tặng cho đất và nhà
cho ông H1 thì vợ chồng ông H1 luôn làm tròn trách nhiệm làm con với vợ chồng
cụ. Nay cụ không đồng ý hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất như yêu cầu
của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây
Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng
xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng

4
Dân sự. Đương sự đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy
định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 459, 500,
501, 502, 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Tuấn A, Dương Thị
Thanh T, bà Đặng Thị L, anh Dương Chí H “tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất” đối với ông Dương Tuấn H1, bà Nguyễn Thị Bích T2 đối với phần
đất diện tích 230,6m
2
tại thửa số 119, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại khu phố Lộc An,
phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
2. Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm
sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Dương Tuấn H1, bà Nguyễn Thị Bích T2 vắng
mặt nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan cụ Dương Ngọc T3 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H1, bà T2, cụ T3 theo quy định tại
khoản 1, 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Thị T4, cụ
Dương Ngọc T3 và ông Dương Tuấn H1, bà Nguyễn Thị Bích T2 đối với phần
đất diện tích 230,6m
2
tại thửa số 119, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại khu phố Lộc An,
phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Lý do nguyên đơn cho
rằng khi tặng cho quyền sử dụng đất cụ T3, cụ T4 bị lừa dối.
[2.1] Về hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất: Hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Thị T4, cụ Dương Ngọc T3 và ông Dương
Tuấn H1, bà Nguyễn Thị Bích T2 được lập thành Văn bản ngày 18/5/2021 và
được Ủy ban nhân dân phường Trảng Bàng chứng thực tại số chứng thực 80
quyển số 01/2021-SCT/HĐ,GD đảm bảo về mặt hình thức theo quy định tại Điều
502 Bộ luật dân sự
[2.2] Về nội dung hợp đồng: Cụ T3 và cụ T4 tặng cho ông H1, bà T2 phần
đất diện tích 230,6m
2
tại thửa số 119, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại khu phố Lộc An,
phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Phần đất này do cụ T3
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00346 QSDĐ/156/2003/QĐ-
CT(HL) ngày 02/6/2003 do Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bàng cấp. Khi tặng
cho quyền sử dụng đất, phần đất này không bị kê biên hoặc bị tranh chấp. Đất do
vợ chồng cụ T4 và cụ T3 quản lý sử dụng. Do đó, khi tặng cho quyền sử dụng đất
thì cụ T3 và cụ T4 có toàn quyền định đoạt đối với phần đất thửa 119.
5
Phía nguyên đơn cho rằng khi tặng cho quyền sử dụng đất cụ T3, cụ T4
không minh mẫn, bị lừa dối. Tuy nhiên, qua làm việc cụ T3 cho rằng việc vợ
chồng cụ tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông H1 hoàn toàn tự nguyện,
không bị lừa dối hay ép buộc gì cả.
[3] Ngoài ra, Tòa án có tiến hành xác minh Ủy ban nhân dân phường Trảng
Bàng về việc chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ T4, cụ T3
và ông H1, bà T2 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Ông Tuấn Anh cho rằng khi cụ T4, cụ T3 tặng cho quyền sử dụng đất cho
vợ chồng của ông H1 thì hai cụ đã trên 80 tuổi nhưng trong hồ sơ tặng cho quyền
sử dụng đất không có giấy khám sức khỏe của hai cụ. Tuy nhiên theo quy định
của pháp luật không có điều khoản nào bắt buộc phải có giấy khám sức khỏe
trong trường hợp này cả.
Mặt khác, nguyên đơn cho rằng giữa cụ T4 và bà Bích T2 (vợ ông H1) đã
xảy ra mâu thuẫn nên không có việc cụ T4 tặng cho quyền sử dụng đất cho bà
Bích T2 nhưng cũng không có chứng cứ cho lời trình bày này.
Từ phân tích trên, xét thấy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ T3,
cụ T4 và ông H1, bà T2 đối với phần đất diện tích 230,6m
2
tại thửa số 119, tờ bản
đồ số 31, tọa lạc tại khu phố Lộc An, phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng,
tỉnh Tây Ninh đảm bảo đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào các Điều 459, 500,
501, 502, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167, 188 Luật đất đai, Hội đồng
xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Anh, bà Thanh T, người kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn đối với ông H1, bà Bích T2.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
[5] Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; ông Quốc phải chịu án phí theo quy
định pháp luật.
[6] Về chi phí xem xét thẩm định, đo vẽ và định giá tài sản: Do yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên căn cứ Điều 157, 158, 165 và
166 Bộ luật tố tụng dân sự nguyên đơn phải chịu 2.500.000 đồng (ghi nhận đã
nộp đủ).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 228, điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng Dân
sự; Điều 459, 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167, 188 Luật
đất đai; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Tuấn Anh, bà
Dương Thị Thanh T, bà Đặng Thị L, anh Dương Chí H “Tranh chấp hợp đồng
6
tặng cho quyền sử dụng đất” đối với ông Dương Tuấn H1, bà Nguyễn Thị Bích
T2 đối với phần đất diện tích 230,6m
2
tại thửa số 119, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại
khu phố Lộc An, phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Dương Tuấn A, bà Dương Thị Thanh
T. Hoàn trả ông Dương Tuấn A 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đồng theo biên
lai số 0026421 ngày 16 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã
Trảng Bàng.
Bà Đặng Thị L, anh Dương Chí H phải chịu 100.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm.
3. Chi phí xem xét, thẩm định, đo vẽ 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn)
đồng, ông Dương Tuấn A, bà Dương Thị Thanh T phải chịu (ghi nhận đã nộp đủ)
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa
có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng đương sự vắng
mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND TX. Trảng Bàng;
- Chi cục THADS TX. Trảng Bàng;
- Lưu: án văn, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Nguyễn Thị Cẩm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm