Bản án số 506/2025 ngày 19/09/2025 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp đất đai
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 506/2025
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 506/2025
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 506/2025
| Tên Bản án: | Bản án số 506/2025 ngày 19/09/2025 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp đất đai |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Nai |
| Số hiệu: | 506/2025 |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Khi bán đã giao ước lượng, sau nhiều năm cho rằng bị đơn lấn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 506/2025/DS-PT
Ngày: 19 - 9 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản và hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Quý Chi
Các Thẩm phán: Ông Lê Viết Phong
Ông Phạm Tiến Hiệp
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Lê Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà
Lê Huyền Kim - Kiểm sát viên
Trong các ngày 13/9/2025 và 19/9/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
294/2025/TLPT-DS ngày 22/7/2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do
Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2025/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Tòa án
nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là Toà án nhân dân khu vực A - Đồng
Nai) bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 411/2025/QĐPT-DS
ngày 25 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đinh Xuân T, sinh năm 1955. Vắng mặt
Bà Lê Thị L, sinh năm 1956. Có mặt
Cùng cư trú tại: Thôn D, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước (Nay là: số
191, QL 14, thôn M, xã B, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo ủy quyền của ông T, bà L:
- Chị Đinh Thị T1, sinh năm 1986; Cư trú tại: Thôn D, xã M, huyện B,
tỉnh Bình Phước (nay là xã B, tỉnh Đồng Nai); địa chỉ liên lạc: số B, đường số A,
khu phố C, phường H, thành phố T, TP . (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí
Minh). Có mặt.
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991; cư trú tại: Thôn E, xã Đ, huyện B,
tỉnh Bình Phước (nay là Thôn E, xã N, tỉnh Đồng Nai). Vắng mặt
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T, bà L: ông Nguyễn
Thành K – Luật sư thuộc Công ty L1, chi nhánh B2. Có mặt
2. Bị đơn: Ông Phạm Hoàng H, sinh năm 1958; Cư trú tại: Thôn D, xã M,
huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là thôn D, xã B, tỉnh Đồng Nai). Có mặt
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Hoàng H: Ông Phạm Xuân
H1, sinh năm 1968; trú tại: C, CC H, khu phố B, phường T, quận A, thành phố
Hồ Chí Minh (nay là số C, Chung cư H, khu phố B, phường T, thành phố Hồ
Chí Minh). Có mặt
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1973; Cư trú tại: Thôn D, xã M, huyện
B, tỉnh Bình Phước (nay là thôn D, xã B, tỉnh Đồng Nai). Xin vắng mặt
- Ông Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1966. Có mặt
- Bà Phan Thị O, sinh năm 1974. Xin vắng mặt
Cùng cư trú tại: Thôn D, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là xã B,
tỉnh Đồng Nai).
- Ông Lê Ngọc B, sinh năm 1947; Cư trú tại: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh
Hà Tĩnh (nay là xã M, tỉnh Hà Tĩnh). Xin vắng mặt
- Ông Bùi Văn T5, sinh năm 1963; Cư trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện N,
tỉnh Ninh Bình (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình). Vắng mặt
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/4/2022, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày
07/9/2023 của nguyên đơn ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L và quá trình giải quyết
vụ án ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L trình bày:
Vào năm 1989, ông T và bà L có nhận chuyển nhượng của bà Đỗ Thị
Minh N một thửa đất tọa lạc tại thôn D, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi
nhận chuyển nhượng có làm viết giấy tay nhưng không thể hiện diện tích cụ thể
mà các bên chỉ có chỉ ranh đất. tại thời điểm chuyển nhượng chưa được cấp giấy
CNQSDĐ. Đến tháng 6/1996, vợ chồng ông T, bà L chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Ngọc T4 một phần diện tích có chiều ngang giáp mặt đường 15 mét
ngang nhưng cho thêm 01 mét ngang thành 16 mét ngang, chiều dài từ tim
đường xuống là 48m với giá 04 chỉ vàng tương đương 2.000.000 đồng. Năm
1997, ông T tiếp tục chuyển nhượng cho ông Bùi Văn T5 diện tích 05m x 40m
(tính từ tim đường). Sau đó, ông T5 chuyển nhượng phần diện tích đất này cho
ông Lê Ngọc B. Ông B làm nhà trên thửa đất này sinh sống tới năm 2013 thì
chuyển chỗ khác sinh sống nên chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn T3.
Năm 2019, ông T3 chuyển nhượng lại cho ông Phạm Hoàng H. Năm 2021, ông
H làm nhà trên đất lấn qua phần đất của gia đình ông T. Mặc dù ông T đã thông
3
báo nhưng ông H vẫn cố tình xây dựng nên ông T, bà L khởi kiện ông H ra Tòa
án nhân dân huyện B yêu cầu ông H phải tháo dỡ, di dời tài sản trên phần diện
tích đất khoảng 0,3m x20m để trả lại phần đất này cho ông T, bà L.
Quá trình đo đạc phần diện tích đất tranh chấp, ông T và bà L được biết
ông Nguyễn Ngọc T4 đang quản lý và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với phần diện tích đất nhiều phần diện tích đất ông T, bà L đã chuyển
nhượng (thửa đất giáp ranh với thửa đất ông T, bà L đang khởi kiện ông H) là
0,43m x 30m (đo đạc thực tế là 5,5m
2
). Do đó ông T và bà L khởi kiện bổ sung
yêu cầu ông T4 phải trả lại phần diện tích đất đang lấn chiếm cho ông T, bà L.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông T bà L giữ nguyên
lời khai và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H phải tháo dỡ, di dời tài sản
trên phần diện tích đất theo đo đạc thực tế 53,0m
2
để trả lại phần đất 53,0m
2
cho
ông T, bà L; yêu cầu Tòa án xem xét thu hồi, hủy bỏ giấy CNQSDĐ cấp đứng
tên ông Lê Ngọc B; yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T4 và O phải trả lại
phần đất lấn chiếm 5,5m
2
cho ông T5 để ông H được sử dụng đúng diện tích đất
nhận chuyển nhượng; yêu cầu Tòa án xem xét thu hồi, hủy bỏ giấy CNQSDĐ
cấp đứng tên ông Nguyễn Ngọc T4 và Phạm Thị O1.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phạm Hoàng H trình bày:
Nguồn gốc của thửa đất số 60, số 61, số 62, tờ bản đồ số 39 tại thôn D, xã
M, huyện B, tỉnh Bình Phước ban đầu là của bà Đỗ Thị Minh N. Khoảng đầu
năm 1990, bà N chuyển nhượng cho ông T. Sau đó, ông T chuyển nhượng lại
cho ông T5 06m và ông T4 16m. Phần đất còn lại nhà ông T quản lý sử dụng
cho tới nay. Sau đó, vào năm 1997 ông T5 chuyển nhượng lại cho ông B. Ông B
làm nhà tạm ở trên đất. Đến năm 1999 thì được cấp sổ đứng tên ông B. Năm
2008 ông B chuyển nhượng lại cho ông T3 nhưng chưa sang tên giấy CNQSDĐ.
Tới năm 2019 ông nhận chuyển nhượng diện tích đất của ông T3 phần đất này
nhưng cũng chưa sang tên. Từ thời điểm ông T5, ông B không tranh chấp gì
nhưng sau này khi ông đã nhận chuyển nhượng đất xong thì mới nghe nói khi
ông T3 nhận chuyển nhượng tiến hành cắm mốc thì gia đình ông T ngăn cản
nhưng thời điểm đó lại không thưa kiện.
Khi nhận chuyển nhượng thì các bên thỏa thuận nhận chuyển nhượng theo
diện tích đất đã được cấp giấy CNQSDĐ. Ông T3 có chỉ ranh cho ông, cụ thể
tính từ giáp tường rào nhà ông T4 qua nhà ông T là 6,5 mét ngang nhưng không
đo đạc cụ thể. Phía giáp nhà ông T không có ranh xác định vị trí đất. Khi nhận
chuyển nhượng có bụi tre và 01 giếng đào nằm phía đầu đất (giáp đường), phía
sau có cây mít. Còn căn nhà ông B làm đã bị phá từ lâu. Sau khi nhận chuyển
nhượng đất ông phá bụi tre và tiến hành xây dựng nhà từ vị trí giáp ranh nhà ông
T4 qua nhà ông T có diện tích là 05 mét ngang.
4
Khi ông làm nhà thì gia đình ông T mới cho rằng lấn đất của nhà ông T.
Khi làm nhà ông có ra xã báo việc làm nhà chiều rộng 05m thì ông bà Thứ cho
xây. Nhưng khi xây lại cho rằng ông lấn nên ngăn cản không cho xây nhưng ông
vẫn tiến hành xây nên ông T bà L mới khởi kiện ông ra Tòa.
Đối với diện tích đất ông T4 đang sử dụng: Khi ông T4 nhận chuyển
nhượng đất của ông T cụ thể như thế nào thì ông không biết nhưng sau khi ông
T4 nhận chuyển nhượng đất xong thì có làm hàng rào bằng kẽm gai theo đúng vị
trị ranh (có cọc bê tông nhưng khi làm nhà ông đã nhổ đi). Sau đó, ông T4 xây
nhà và làm hàng rào kiên cố như hiện nay đúng theo vị trí hành rào trước đây.
Ông nghe nói thời điểm các bên nhận chuyển nhượng chuyển nhượng chỉ đo đạc
ước chừng bằng cây rồi đóng cọc chứ không kéo thước nên việc diện tích đất
chênh lệch là hoàn toàn có thể xảy ra. Do đó việc ông T cho rằng ông T4 sử
dụng không đúng diện tích đất đã nhận chuyển nhượng là không đúng. Đối với
phần đất ông T chuyển nhượng cho ông T5 cũng chỉ đo đạc ước chừng bằng cây
chứ không kéo dây nhưng quá trình ông T5, ông B sử dụng không có ý kiến gì.
Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 và cấp đổi năm 2014 ông
B và ông T, ông T4 được cấp cùng thời điểm, có đo đạc nhưng không có ý kiến
tranh chấp gì cũng không có thắc mắc gì đối với việc cấp giấy. Do đó, việc ông
T bà L khởi kiện không có căn cứ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T bà L, ông không đồng ý vì ông nhận
chuyển nhượng đúng theo giấy CNQSDĐ đã được cấp từ năm 1999 và năm
2014 (từ vị trí đất nhà ông T4 được cấp sổ qua giáp ông T là phía trước giáp
đường có chiều ngang 6,5 mét ngang, phía sau rộng 6,3 mét ngang.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông H trình bày: Theo
như quá trình sử dụng đất của ông T5, ông B và giấy mua bán đất của từ ông T5
đến ông B, từ ông B đến ông T3 đều thể hiện diện tích đất ban đầu ông T5 nhận
chuyển nhượng của ông T có chiều ngang là 06 mét chứ không phải là 05 mét
ngang như ông T bà L trình bày. Khi ông H nhận chuyển nhượng đất từ ông T3
và xây dựng nhà sinh sống thì ông H cũng không có lấn chiếm đất của ông T bà
L. Vì vậy, ông H không đồng ý trả lại diện tích đất có chiều ngang 01 mét cho
ông T bà L. Đối với diện tích đất có chiều ngang 0,5 mét thì ông H đồng ý trả lại
cho ông T bà L.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện của người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc T4 trình bày:
Ông thống nhất với lời khai của ông T, bà lương, ông H về nguồn gốc của
thửa đất số 60, số 61 và số 62. Năm 1996, vợ chồng T, bà L chuyển nhượng lại
cho ông một phần chiều ngang giáp mặt đường và giáp hồ là 16 mét, chiều dài
đến hồ nước phía sau (ông nhận chuyển nhượng 15 mét ngang nhưng ông T cho
thêm 01 mét ngang thành tổng diện tích đất là 16 mét ngang) với giá khoảng 02
5
triệu đồng. Các bên có viết giấy tay nhưng hiện đã thất lạc. Chúng tôi có đo đất
bằng cây lồ ô chứ không phải thước (ước chừng bằng gang tay). Khi nhận
chuyển nhượng trên đất trên đất có mấy cây điều. Sau khi nhận chuyển nhượng
nhận chuyển nhượng xong thì khoảng 02 tháng sau gia đình ông làm 01 căn nhà
tạm bằng gỗ để ở. Năm 1999, ông làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và được UBND huyện B cấp giấy số vào sổ cấp 201/QSDĐ ngày
20/01/1999, còn diện tích thì ông không nhớ. Năm 1999 khi làm sổ đỏ thì cơ
quan đo đạc có tiến hành đo đạc nhưng ông nói phần đất của ông là 16 mét
ngang đã cọc tre đóng vào thời điểm nhận chuyển nhượng của ông T nên cơ
quan đo đạc đo theo vị trí cọc đã có sẵn đó. Tới thời điểm cấp đổi thì cơ quan đo
đạc có tiến hành đo đạc nhưng không có mặt ông mà do được thôn thông báo
trước nên ông có xịt sơn làm dấu vị trị đất để cơ quan đo đạc đo theo vị trí đó.
Thời điểm năm 1999 là đo đạc đồng loạt nên cơ quan đo đạc có tiến hành đo cả
đất ông B giáp ranh đất ông và đất gia đình ông T. Còn việc đo cụ thể như thế
nào thì ông không biết. Thời điểm cấp đổi năm 2014 ông không rõ ông B và ông
T có tham gia chứng kiến đo đạc và chỉ ranh hay không vì ông không có nhà.
Tới năm 2006 thì gia đình ông phá căn nhà cũ để xây lại căn nhà, làm
hàng rào kiên cố như hiện nay. Năm 2014, ông và bà O1 được cấp đổi giấy
CNQSDĐ số CH01810 do UBND huyện B cấp ngày 25/11/2014 với diện tích
667,8m
2
. Ông bà vẫn đang quản lý, sử dụng phần đất này cho đến nay không ai
tranh chấp cho tới khi ông T kiện ông Phạm Hoàng H thì ông T mới cho rằng
diện tích đất ông đang sử dụng nhiều hơn diện tích ông T chuyển nhượng cho
ông.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T bà L thì năm 2022 ông có thỏa thuận
trả cho bà L, ông T bằng giá trị tiền nhưng phía ông T không đồng ý. Hiện nay
ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T bà L vì phần diện tích này ông
đã quản lý, sử dụng ổn định không tranh chấp với ai. Mặt khác, phần diện tích
đất hiện nay ông đang sử dụng nhiều hơn diện tích thỏa thuận nhận chuyển
nhượng chuyển nhượng năm 1996 là do khi nhận chuyển nhượng chuyển
nhượng các bên chỉ đo ước chừng chứ không có thước nên không chính xác số
liệu. Ngoài ra, ông không có ý kiên hay yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, ông giữ nguyên lời khai và ý kiến của ông.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị O1 vắng mặt tại
phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án, bà O1 trình bày: bà là vợ của ông
Nguyễn Văn T6, bà nhất trí với lời khai và ý kiến của ông T6 và không bổ sung
gì thêm.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Lê Ngọc B trình bày:
6
Năm 1997 ông nhận chuyển nhượng của ông Bùi Văn T5 diện tích đất có
chiều ngang 06 mét dọc đường quốc lộ 14 cũ, chiều dài 30 mét. Khi nhận
chuyển nhượng đất chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Khi nhận chuyển
nhượng đất thì ông và ông T5 có làm giấy viết tay và có người làm chứng là ông
Phùng Thế T7. Năm 1999, ông làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Năm 2014, ông làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì
diện tích đất tăng lên 265,4m
2
chiều ngang tăng lên 6,5 mét, chiều dài khoảng 60
mét. Quá trình sử dụng ông sử dụng ổn định. Mặc dù không có vật gì làm ranh
giới nhưng ông sử dụng theo đúng theo hiện trạng được cấp giấy CNQSDĐ,
không có ai tranh chấp. Đến năm 2008 thì ông chuyển nhượng lại cho ông T3
toàn bộ thửa đất này với giá 50 triệu đồng nhưng bớt 10 triệu đồng để ông T3
làm thủ tục sang tên nhưng ông T3 không làm thủ tục sang tên được. Đến năm
2019 thì ông T3 chuyển nhượng lại cho ông Phạm Hoàng H. Do đó, cho đến nay
ông T3 và ông H vẫn chưa làm được thủ tục sang tên mà ông vẫn đứng tên trên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại thời điểm chuyển nhượng thì trên đất không có tài sản gì (đất trống).
Sau khi nhận chuyển nhượng đất ông làm nhà sàn bằng gỗ ở trên đất. Khi
chuyển nhượng đất thì ông chuyển nhượng nguyên hiện trạng cho ông T3 và về
quê Hà Tĩnh sinh sống cho đến nay nên việc ông T3 chuyển nhượng lại cho ông
H như thế như thế nào thì ông không biết. Đến thời gian gần đây ông H gọi điện
cho ông thông báo ông T tranh chấp đòi đất nên ông mới biết ông T3 đã chuyển
nhượng đất cho ông H.
Khi ông nhận chuyển nhượng lại đất của ông Bùi Văn T5 thì các bên có
tiến hành đo đạc bằng cây (ước chừng bằng đo gang tay) có sự chứng kiến của
ông Phùng Thế T7 và ông T. Khi ông nhận chuyển nhượng thì ông T6 đã nhận
chuyển nhượng đất của ông T (là phần diện tích đất hiện nay gia đình ông T6
đang ở giáp với phần đất ông chuyển nhượng cho ông T3 mà vợ chồng ông T
đang kiện ông H) nên khi đo thì đo từ phần đất của ông T6 đổ qua 06 mét ngang
(mặt trước và mặt sau đều 0 mét), dài xuống đến bưng. Sau khi nhận chuyển
nhượng đất thì ông trồng 01 bụi tre trên đầu đường và 01 cây tràm ở giữa đất
nhưng hiện nay gia đình ông T đã chặt (ông không biết chặt khi nào). Trước đây
ông T trồng cây làm hàng rào (không nhớ cây gì) nhưng hiện nay ông T đã chặt,
còn trên phần đất này thì có một vài cây điều đã được trồng trước đó.
Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 thì có tiến
hành đo đạc theo sự chỉ ranh của ông. Thời điểm đó có mặt ông T và phía nhà
ông T6 (không nhớ là ông T6 hay là vợ ông T6). Khi cấp đổi sổ 2014 thì cũng
có đo đạc lại theo sự chỉ của ông, ông T6 và ông T không có mặt nhưng vẫn đo
theo đúng ranh, vị trí lần cấp ban đầu. Khi được cấp sổ thì diện tích đất của ông
tăng lên từ 6m lên 6,5m nên tổng thể diện tích đất tang. Ông thấy nhà ai sau khi
7
cấp đổi cũng đều tăng diện tích (theo ông nghĩ là do trước đây đo thủ công nay
cấp đổi sử dụng máy móc nên diện tích tăng lên). Ông không biết ông T có biết
việc này hay không nhưng quá trình ông sử dụng đất và được cấp sổ đất thì ông
T không có ý kiến gì.
Ông không rõ ông T5 nhận chuyển nhượng đất của ông T, bà L khi nào
nhưng tới năm 1997 thì ông nhận chuyển nhượng lại của ông T5 (có làm giấy
tờ) và diện tích đất có chiều ngang 06m chứ không phải là 05m như ông T trình
bày. Khi nhận chuyển nhượng đất thì ông T5 đã san sẵn nền đất để làm nhà nên
sau khi nhận chuyển nhượng đất thì ông làm nhà sàn trên nền đất có sẵn này có
diện tích khoảng 6mx6m chứ không phải là cái lán như vợ chồng ông T trình
bày. Khi làm nhà sàn thì ông xây 01 nhà vệ sinh bằng gạch có diện tích khoảng
01m2 để sử dụng ngay sát cây tràm làm ranh nhưng hiện nay không còn nhà vệ
sinh này nữa, còn ai phá nhà vệ sinh này thì ông không rõ. Phía ông T xác định
không đúng vì đó là nhà vệ sinh do ông làm. Nhà ông T không xây nhà vệ sinh
nào sát ranh hai bên thời điểm ông ở trên đất cả. Ngoài ra, có cây mít ở giữa
vườn, khi ông nhận chuyển nhượng đã có sẵn rồi chứ ông không rõ là do ai
trồng hay tự mọc, ông chỉ biết lúc nhận chuyển nhượng có 02 cây điều nhưng
hiện nay không còn.
Việc hòa giải mà ông T nói không phải việc ông T5 chuyển nhượng đất
cho ông mà là hòa giải việc ông T tranh chấp phần đất phía cuối đất (phần đất
bưng) giáp ao. Sự việc này được UBND xã giải quyết không phải đất của ông T
mà là đất thuộc UBND xã quản lý, ai muốn sử dụng thì phải đăng ký với Ủy
ban. Từ đó, ông T không tranh chấp gì với phần đất ông nhận chuyển nhượng
của ông T5 cho tới khi ông H làm nhà. Ông khẳng định ông sử dụng đất đúng
với diện tích đất ông nhận chuyển nhượng của ông T5 và phần diện tích đất
được cấp giấy CNQSDĐ nên việc ông T bà L khởi kiện cho rằng lấn chiếm là
không đúng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn T5 vắng mặt tại
phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án ông T5 trình bày:
Năm 1995, ông vào huyện B, tỉnh Bình Phước để làm ăn kinh tế thì ông
có quen biết với ông Đinh Xuân T, sinh năm 1955 và ông Lê Ngọc B, sinh năm
1947 đều ở thôn D, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước. Ông không quen biết bà
Lê Thị L, ông Phạm Hoàng H. Vào năm 1996 (không nhớ rõ ngày tháng), ông
có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L một thửa
đất diện tích 180m
2
tại thôn D, M, xã B, tỉnh Bình Phước (lúc đó chưa có số
thửa và ông T, bà L chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như giấy
tờ hợp pháp đối với diện tích ông nhận chuyển nhượng) với giá chuyển nhượng
là 01 chỉ vàng 9999 tương tương với khoảng 500.000 đồng (Năm trăm nghìn
đồng). Khi nhận chuyển nhượng thì ông và vợ chồng ông T8, bà L chỉ thỏa
8
thuận với nhau bằng miệng chứ không lập văn bản và không thông qua chính
quyền địa phương. Ngoài ông, vợ chồng ông T, bà L ra thì khi thỏa thuận mua
bán đất còn có sự chứng kiến của anh họ tôi là anh Bùi Văn Đ (đã chết). Phần
diện tích đất ông nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T, bà L có diện tích
180m
2
có chiều dài 30m, chiều rộng 06m. Ông chỉ biết khi chuyển nhượng vợ
chồng ông T, bà L có chỉ vị trí đất cho ông và có đo chiều ngang trước mặt giáp
đường 14 cũ rộng 06m còn chiều dài từ mép đường 14 cũ vào đến ao (sinh) là
30m. Lúc đó chỗ đất ông nhận chuyển nhượng không có gia đình nào sinh sống,
bên cạnh mà là đất trống nên ông không biết đất mình nhận chuyển nhượng của
ông T, bà L giáp với nhà ai. Trên phần đất ông nhận chuyển nhượng của vợ
chồng ông T, bà L chỉ có một vài cây điều con. Ngoài ra không có bất cứ tài sản
gì khác. Khoảng 01 tuần sau khi thỏa thuận chuyển nhượng đất và giao 01 chỉ
vàng 9999 cho vợ chồng ông T, bà L thì ông đã đắp móng nhà bằng đất với diện
tích là 30m
2
(rộng 06m, dài 05m) trên phần diện tích đất ông T8, bà L chuyển
nhượng cho ông. Khi ông đắp móng nhà thì ông T lại ra trực tiếp chỉ và đo phần
diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông. Quá trình ông đắp móng nhà thì ông T,
bà L không có ý kiến cũng như tranh chấp gì đối với diện tích đã chuyển nhượng
cho ông.
Đến ngày 02/4/1997, do ông có nhu cầu chuyển nhượng diện tích đất nên
ông đã chuyển nhượng lại phần diện tích đất 180m
2
nhận chuyển nhượng từ ông
T, bà L cho ông Lê Ngọc B, sinh năm 1947 ở thôn D, xã M, huyện B, tỉnh Bình
Phước với giá chuyển nhượng là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Ông B
là người trực tiếp viết giấy chuyển nhượng đất ở. Sau đó ông và ông B cùng ký
vào Giấy chuyển nhượng với sự chứng kiến của ông Phùng Thế T7 có nhà ở gần
khu đất ông chuyển nhượng cho ông B. Khi ông chuyển nhượng diện tích đất
180m
2
cho ông B thì ông B có đo lại diện tích đất dưới sự chứng kiến của ông T,
ông T7 và ông. Ông B trực tiếp ghi chiều dài và giáp ranh các cạnh vào Giấy
chuyển nhượng đất ở ngày 02/4/1997 chứ thực tế là ông không biết thửa đất
mình đã nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông T, bà L giáp ranh với ai. Khi ông
chuyển nhượng lại đất cho ông B thì trên thửa đất ngoài móng nhà bằng đất ông
đã làm thì không có tài sản, cây trồng gì khác. Phần diện tích đất ông chuyển
nhượng cho ông B chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi
chuyển nhượng cho ông B cũng không thông qua chính quyền địa phương. Sau
khi ông chuyển nhượng lại đất cho ông B thì ông không biết ông B đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào thời gian nào và với diện tích đất là bao
nhiêu. Ông cũng không biết việc ông B đã chuyển nhượng lại thửa đất này cho
ông Nguyễn Văn T3 cũng như việc ông T3 đã chuyển nhượng lại thửa đất cho
ông Phạm Hoàng H2.
9
Đối với lời trình bày của ông T xác định “phần diện tích đất ông T chuyển
nhượng cho ông T5 chỉ có chiều ngang mặt đường là 05m, chiều dài từ tim
đường vào 40m, hai bên mới chỉ thỏa thuận bằng miệng chưa làm giấy tờ, ông
T5 cũng chưa trả tiền (việc chuyển nhượng này bà L không biết). Sau khi ông T
thỏa thuận với ông T5 một vài ngày thì ông Lê Ngọc B đến dựng lán (nhà tạm)
để ở và nói với gia đình ông T là đã nhận chuyển nhượng lại của ông T5". Ông
xác định lời trình bầy của ông T8 như vậy là không đúng. Ông khẳng định lại
một lần nữa là phần diện tích đất ông đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông
T, bà L có chiều ngang bám mặt đường 14 cũ là 06m, chiều dài từ đường 14 cũ
vào đến sinh (ao) là 30m. Ông đã giao đủ 01 chỉ vàng 9999 cho vợ chồng ông T,
bà L tại nhà ông T, bà L. Như vậy, bà L có biết việc chuyển nhượng đất của vợ
chồng bà L, ông T cho tôi. Ông cam đoan lời khai trên của ônh là đúng vì ông
không có quan hệ anh em họ hàng cũng như không có mâu thuẫn gì với ông
Đinh Xuân T, bà Lê Thị L, ông Phạm Hoàng H2, ông Lê Văn B1.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2025/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu
vực A - Đồng Nai) tuyên xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Xuân
T, bà Lê Thị L đối với ông Phạm Hoàng H về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phạm Hoàng H về việc trả lại diện tích đất
diện tích đất 10,5m
2
(được ký hiệu bằng các điểm 7,6,14 theo mảnh trích đo địa
chính số TĐ 07341-2024 đề ngày 31/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai huyện B) cho ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Xuân T, bà
Lê Thị L đối với ông Phạm Hoàng H đối với diện tích đất 53,0m
2
(được ký hiệu
bằng các điểm 6,5,4,15,14 theo mảnh trích đo địa chính số TĐ 07341-2024 đề
ngày 31/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B)
2/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Xuân T,
bà Lê Thị L đối với ông Nguyễn Ngọc T4 và bà Phan Thị O về việc tranh chấp
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 5,5m
2
(được ký hiệu bằng các 2,3,17
theo mảnh trích đo địa chính số TĐ 07341-2024 đề ngày 31/5/2024 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B)
3/ Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy CNQSDĐ số
CH00934 do UBND huyện B ngày 25/11/2014 cấp cho người sử dụng đất ông
Lê Ngọc B.
Ông Lê Ngọc B, ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L có quyền và nghĩa vụ liên
hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, đăng ký biến động đối với phần đất nêu trên.
10
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và
quyền kháng cáo.
Ngày 18/6/2025, nguyên đơn ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L có đơn
kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ
thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và thay đổi nội dung
kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết lại
theo thủ tục chung mà không yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm như đơn kháng cáo đã
trình bày.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án
từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội
đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản
1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
34/2025/DS-ST ngày 10/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước
(nay là Tòa án nhân dân khu vực A - Đồng Nai).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong thời hạn luật định, có hình
thức, nội dung và phạm vi kháng cáo phù hợp với quy định tại các điều 271,
272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện được xem xét
giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự và các tài liệu chứng cứ
đã thu thập được có căn cứ xác định diện tích đất mà vợ chồng ông T bà L, vợ
chồng ông T4 bà O và gia đình ông H đang quản lý, sử dụng (bao gồm cả các
phần đất tranh chấp) có nguồn gốc: vào năm 1989 vợ chồng ông T bà L nhận
chuyển nhượng từ bà Đỗ Thị Minh N, khi nhận chuyển nhượng các bên chỉ viết
giấy tay không ghi diện tích cụ thể, thời điểm này đất chưa được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là: GCNQSDĐ). Đến tháng 6 năm
1996 vợ chồng ông T bà L chuyển nhượng lại cho ông T4 15m chiều ngang và
tặng cho thêm 1m ngang với chiều dài 48m từ tim đường đến cuối đất với giá 02
triệu đồng. Năm 1997, ông T chuyển nhượng tiếp cho ông Bùi Văn T5 5m
ngang và cho thêm 1m ngang thành 6m ngang, chiều dài 30m tính từ tim đường.
Tháng 4 năm 1997 ông T5 chuyển nhượng lại cho ông Lê Ngọc B. Thời điểm
ông T5 chuyển nhượng lại cho ông B thì ông T5 cũng chưa được cấp
11
GCNQSDĐ. Đến năm 1999, do đo đạc đồng loạt nên cả 3 gia đình đều được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, trong đó ông T bà L được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 423m
2
thuộc thửa đất số 65, tờ bản
đồ 23 theo GCNQSDĐ số L 119853, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 221/QSDĐ
do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 20/01/1999 (BL 113), ông T4 được cấp
GCNQSDĐ số N 488444 số vào sổ cấp GCN: 201QSDĐ do UBND huyện B
cấp ngày 20/01/1999 với diện tích 473m
2
thuộc thửa 63, tờ bản đồ 24 (BL 140);
hộ ông Lê Ngọc B được cấp 190m
2
thuộc thửa số 54, tờ bản đồ số 23 theo
GCNQSDĐ số 873395 số vào sổ cấp GCN 1185 QSDĐ do UBND huyện B cấp
ngày 08/11/1999 (BL 143). Sau đó đến ngày 25/11/2014 cả 3 hộ gia đình ông T,
bà L, ông T4 và ông B đều được cấp đổi GCNQSDĐ mới. Trong đó, ông T bà L
được cấp đổi thành GCNQSDĐ số BM 674293 số vào sổ cấp GCN CH 00757
với diện tích 1115,0m
2
thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ 39 (BL86); hộ ông T4
được cấp đổi thành Giấy chứng nhận số BM 674486 số vào sổ cấp GCN: CH
01810 với diện tích 667,8m
2
thuộc thửa số 60, tờ bản đồ 89 (BL 141); hộ ông B
được cấp đổi thành Giấy chứng nhận số BM 689418 số vào sổ cấp GCN:
CH00934 với diện tích 265,4m
2
thuộc thửa đất 61, tờ bản đồ 39 (BL 120). Kể từ
sau khi được cấp đổi giấy chứng nhận năm 2014 đến nay ông T4 vẫn quản lý, sử
dụng diện tích đất đã nhận chuyển nhượng. Còn ông B sử dụng đất ổn định đến
năm 2008 thì chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn T3 toàn bộ thửa đất, năm
2019 ông T3 tiếp tục chuyển nhượng lại cho ông H. Việc chuyển nhượng giữa
ông B với ông T3, giữa ông T3 với ông H các bên chỉ làm giấy tay mà không
làm thủ tục sang tên theo quy định pháp luật, hiện nay ông H là người giữ bản
gốc GCNQSDĐ mang tên hộ ông B và quản lý sử dụng diện tích đất do ông B
đứng tên mà chưa làm được thủ tục sang tên do vướng việc tranh chấp của ông
T bà L.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T bà L về việc ông bà yêu
cầu ông T4 phải trả lại phần diện tích đất 5,5m
2
cho ông T5; buộc ông H phải
tháo dỡ di dời tài sản trên diện tích đất 53m
2
để trả lại cho ông T bà L; yêu cầu
Tòa thu hồi và huỷ bỏ các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đã cấp cho ông T4
và ông B. Các phần đất 5,5m
2
và 53m
2
trên có vị trí, tứ cận thể hiện tại Mảnh
trích đo địa chính số TB 07341-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
huyện B (cũ) lập ngày 31/5/2024 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B (cũ)
xét duyệt ngày 25/7/2024. Hội đồng xét xử xét thấy:
[4] Đối với việc chuyển nhượng giữa ông T5 với ông B, giữa ông B với
ông T3 và giữa ông T3 với ông H: các đương sự này không ai tranh chấp với
nhau về hợp đồng chuyển nhượng mà các bên đã ký kết đồng thời nhất trí việc
đã chuyển nhượng cho nhau. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị T1 người đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn (cũng là con ông T bà L) cho rằng ông T bà L
chuyển nhượng cho ông T4 16m và chuyển nhượng cho ông T5 05m và không
cho thêm ai mét đất nào thế nhưng, theo kết quả đo đạc thì diện tích đất ông T4
đang sử dụng là 16,43m ngang sâu 30m; ông H là người nhận chuyển nhượng
lại diện tích của ông T5 trước đây lại sử dụng diện tích 6,5m ngang là vượt quá
diện tích ông T bà L chuyển nhượng ban đầu nên ông T, bà L yêu cầu ông T4,
12
ông H trả lại các phần đất dư như trên. Xét căn cứ khởi kiện của nguyên đơn Hội
đồng xét xử xét thấy: phía nguyên đơn trình bày mâu thuẫn về diện tích chuyển
nhượng, tại Toà án cấp sơ thẩm, phía nguyên đơn cho rằng trước đây chuyển
nhượng cho ông T4 15m chiều ngang, cho thêm 01m là thành 16m ngang, chiều
sâu 28m và chuyển nhượng cho ông T5 5m ngang, thêm 1m thành 6m với chiều
sâu 40m. Nhưng, tại Tòa phúc thẩm lại cho rằng: ông T bà L chuyển nhượng
cho ông T4 16m ngang, chuyển nhượng cho ông T5 5m ngang và không cho ai
thêm mét đất nào là trình bày không thống nhất. Bên cạnh đó, quá trình giải
quyết vụ án chính phía nguyên đơn và cả bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan đều thừa nhận tại thời điểm ông T bà L nhận chuyển nhượng đất từ bà
N cho đến khi ông T, bà L chuyển nhượng đất cho các ông T4, ông T5 thì đất
chưa có GCNQSDĐ; khi các bên bàn giao đất cũng chỉ đo đạc mang tính ước
lượng - đo bằng cây lồ ô và ước chừng bằng gang tay. Và, trong cả hai lần cấp
GCNQSDĐ lần đầu năm 1999 và lần cấp đổi năm 2014 thì cả 03 giấy chứng
nhận cấp cho 03 hộ gia đình đều được cấp cùng một thời điểm, thậm chí được
cấp cùng ngày theo diện cấp sổ đại trà (đồng loạt). Nhưng, gia đình ông T vẫn
không có ý kiến gì đối với diện tích đất mà ông T4, ông B được cấp, cấp đổi tại
GCNQSDĐ. Mặt khác, hiện nay gia đình ông T4 đang sử dụng đúng với diện
tích được cấp trong Giấy chứng nhận còn ông H đang sử dụng ít hơn 10,5m
2
so
với diện tích được cấp trong GCNQSDĐ. Mặt khác, trong suốt thời gian dài sử
dụng đất các bên đều không có tranh chấp gì về ranh giới, chỉ đến năm 2021, vợ
chồng ông T bà L mới khởi kiện yêu cầu đòi trả đất là không có căn cứ. Hơn
nữa, đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu “ông T4 phải trả lại ông
T5 0,43m chiều ngang để ông H sử dụng đúng vị trí nhằm trả lại cho ông T bà L
52,9m
2
“ là không phù hợp bởi ông T5 không yêu cầu được nhận diện tích đất
này. Do đó, yêu cầu này của ông T bà L không có cơ sở chấp nhận. Như vậy, có
cơ sở xác định tại thời điểm chuyển nhượng thì đất chưa có GCNQSDĐ, mặc dù
có thỏa thuận về số mét chuyển nhượng nhưng khi bàn giao các bên đã tự
nguyện thực hiện việc bàn giao diện tích mang tính ước lệ, tự nguyện xác định
vị trí đất dẫn đến diện tích chuyển nhượng ban đầu so với diện tích đo đạc bằng
thiết bị hiện đại, chính quy sau này không phù hợp với nhau. Vì vậy, việc
nguyên đơn yêu cầu các bị đơn phải trả đất là không có căn cứ chấp nhận. Tuy
nhiên, xét tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông H đã đồng ý trả lại cho ông T bà L
phần đất 10,5m
2
được giới hạn bởi các điểm 7, 6, 14 trên Mảnh trích đo địa
chính là sự tự nguyện và phù hợp với việc phần đất này mặc dù được cấp cho hộ
ông H nhưng ông T bà L đang sử dụng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự
nguyện trên của ông H là phù hợp, cần giữ nguyên quyết định này của Bản án sơ
thẩm.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu huỷ các GCNQSDĐ đã cấp cho
ông T4, ông B, Hội đồng xét xử xét thấy: như đã phân tích, không có căn cứ
buộc ông T4 phải trả đất cho ông T5; không có căn cứ buộc ông H phải trả đất
cho Thứ bà L ngoài 10,5m
2
mà ông H tự nguyện trả theo yêu cầu của nguyên
đơn và cho đến nay không có cơ sở nào xác định GCNQSDĐ đã cấp cho ông
T4, ông B là trái pháp luật nên không có cơ sở để huỷ các GCNQSDĐ này. Bên
13
cạnh đó, mặc dù ông H đã nhận chuyển nhượng lại đất trong khi đất vẫn mang
tên ông B trên GCNQSDĐ cũng như việc ông H tự nguyện trả một phần đất cho
ông T bà L thì đây cũng không phải là căn cứ để Tòa án tuyên thu hồi, hủy bỏ
GCNQSDĐ đã cấp cho ông B nên yêu cầu về phần này của nguyên đơn cũng
không được cấp nhận.
[6] Xét kháng cáo của nguyên đơn về yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy
Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo
thủ tục chung, vì các lý do: Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận việc ông H đồng ý trả
ông T bà L 10,5m
2
đất nhưng trong gia đình ông H còn có vợ ông H là bà Kim
Thị D và các con là các anh chị Phạm Ngọc D1, Phạm Ngọc D2 và Phạm Thị
Diễm H3 nhưng chưa làm rõ; nguyên đơn yêu cầu hủy GCNQSDĐ của ông B,
của ông T4 và yêu cầu ông T4 phải trả đất thì ông B, ông T4 phải là bị đơn
nhưng lại xác định những người này người liên quan là không chính xác. Hội
đồng xét xử xét thấy: đối với ông B, tại các Đơn khởi kiện và Đơn khởi kiện bổ
sung nguyên đơn không yêu cầu hủy hoặc thu hồi GCNQSDĐ của ông B, Tòa
án cũng không thụ lý yêu cầu này mà yêu cầu này chỉ được nguyên đơn trình
bày tại phiên tòa sơ thẩm. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông B là người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chính xác. Đối với ông T4, tại Đơn khởi kiện
bổ sung ngày 07/9/2023 (BL 96), vợ chồng ông T bà L “yêu cầu gia đình ông
T4” phải có trách nhiệm trả cho ông T bà L phần đất có diện tích 0,43m x 30m.
Vì vậy, ông T4 phải là bị đơn trong vụ án này mới đúng nhưng Tòa án cấp sơ
thẩm lại xác định ông T4 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa chính
xác. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những thành viên trong hộ gia
đình ông H gồm vợ ông H (bà D), các con ông H (các anh chị Doanh, D2, H3)
vào tham gia tố tụng là chưa đầy đủ. Tuy nhiên, tại các bản tự khai và Giấy xác
nhận về việc đồng ý cho ông Phạm Hoàng H toàn quyền quyết định vụ việc
tranh chấp đất đai với ông Đinh Xuân T đề ngày 15/9/2025 gửi Tòa án cấp phúc
thẩm, bà D và các anh chị D1, D2, H3 đều có ý kiến: đồng ý với lời khai và ý
kiến của ông H; đồng ý để cho ông H toàn quyền quyết định mọi nội dung liên
quan đến việc tranh chấp đất đai với ông T; không có ý kiến gì về việc Tòa án
cấp sơ thẩm không đưa họ vào tham gia tố tụng đồng thời đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.
[7] Vì vậy, từ những phân tích trên thấy rằng, mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm
có những thiếu sót trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự
như đã phân tích ở đoạn [6] nhưng đường lối giải quyết vụ án đã phù hợp quy
định của pháp luật. Đồng thời, xét thấy những thiếu sót trên không làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, Tòa
án cấp phúc thẩm thấy không cần thiết phải hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết
lại, tránh kéo dài thời gian, chi phí của đương sự và của cơ quan nhà nước vì các
lý do phía nguyên đơn đã nêu. Song, Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút
kinh nghiệm về những thiếu sót trên. Như vậy, kháng cáo của nguyên đơn không
được chấp nhận, Bản án sơ thẩm được giữ nguyên.
14
[8] Tuy nhiên, tại phần Quyết định của Bản án sơ thẩm Tòa án cấp sơ
thẩm tuyên: “Ông Lê Ngọc B, ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L có quyền và nghĩa
vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, đăng ký biến động đối với phần đất nêu trên.”, xét thấy ông
H là người đang sử dụng đất nên việc tuyên như vậy là chưa đầy đủ mà cần bổ
sung thêm ông H vào nội dung này mới đảm bảo. Đối với nội dung Tòa án cấp
sơ thẩm tuyên kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho
ông B cũng cần điểu chỉnh lại cách tuyên cho phù hợp với việc tự nguyện trả đất
của ông H và nhận định của Hội đồng xét xử tại đoạn [5].
[9] Chi phí xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ, chi phí định giá là
10.579.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của ông T bà L được chấp nhận một
phần nên ông T bà L phải chịu chi phí xem xét, thẩm định, đo đạc và định giá là
6.947.000 đồng(đã nộp xong). Ông H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định, đo
đạc và định giá là 3.526.000 đồng. Ông T bà L đã nộp tạm ứng trước nên ông H
có trách nhiệm trả lại cho ông T bà L số tiền chi phí xem xét, thẩm định, đo đạc
và định giá là 3.526.000 đồng.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: ông T, bà L được miễn do ông bà là người
cao tuổi và có yêu cầu được miễn; Bị đơn ông H được miễn do ông là người cao
tuổi và có yêu cầu được miễn; ông T4 không phải chịu.
[11] Án phí dân sự phúc thẩm: ông T, bà L phải chịu nhưng do ông bà là
người cao tuổi và có yêu cầu được miễn nên được Hội đồng xét xử cho miễn án
phí.
[12] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là có
căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị
L;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2025/DS-ST ngày 10 tháng 6
năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân
dân khu vực A - Đồng Nai).
Căn cứ các Điều 166, Điều 175, Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTNQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Xuân T,
bà Lê Thị L đối với bị đơn ông Phạm Hoàng H về tranh chấp quyền sử dụng đất.
15
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phạm Hoàng H về việc ông H đồng ý trả
lại diện tích đất 10,5m
2
(được ký hiệu bằng các điểm 7, 6, 14 theo Mảnh trích đo
địa chính số TĐ 07341-2024 đề ngày 31/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện B) cho ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Xuân T, bà
Lê Thị L đối với ông Phạm Hoàng H về yêu cầu trả lại diện tích đất 53,0m
2
(được ký hiệu bằng các điểm 6,5,4,15,14 theo mảnh trích đo địa chính số TĐ
07341-2024 đề ngày 31/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện
B).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Xuân T, bà
Lê Thị L đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Ngọc T4 và bà Phan Thị O phải trả
lại diện tích đất 5,5m
2
(được ký hiệu bằng các 2,3,17 theo mảnh trích đo địa
chính số TĐ 07341-2024 đề ngày 31/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai huyện B).
Ông Lê Ngọc B, ông Phạm Hoàng H, ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L có
quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng
ký cấp lại GCNQSDĐ hoặc điều chỉnh biến động trên GCNQSDĐ đã cấp cho
ông B đối với phần đất nêu trên.
Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi hoặc điều chỉnh biến
động về diện tích đất 10,5m
2
mà ông Phạm Hoàng H tự nguyện trả lại cho ông
Đinh Xuân T, bà Lê Thị L đối với giấy CNQSDĐ số CH00934 do UBND huyện
B ngày 25/11/2014 cấp cho người sử dụng đất ông Lê Ngọc B theo quyết định
tại Bản án này.
Về chi phí tố tụng: ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L phải chịu chi phí xem
xét, thẩm định, đo đạc và định giá là 6.947.000đồng (đã nộp xong);
Ông Phạm Hoàng H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định, đo đạc và định
giá là 3.526.000 đồng; ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L đã nộp tạm ứng trước nên
ông Phạm Hoàng H có trách nhiệm trả lại cho ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị L số
tiền chi phí xem xét, thẩm định, đo đạc và định giá là 3.526.000đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị L
và ông Phạm Hoàng H được miễn. Phòng Thi hành án dân sự khu vực A – Đồng
Nai hoàn trả cho ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị L số tiền 1.250.000đồng tạm
ứng mà ông bà đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000681 ngày 17/10/2022.
Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị L
được miễn.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND khu vực A – Đồng Nai;
- THADS tỉnh Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Quý Chi
16
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm