Bản án số 49/2025/HNGĐ-PT ngày 25/11/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 49/2025/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 49/2025/HNGĐ-PT ngày 25/11/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 49/2025/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/11/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: - Chấp nhận yêu cầu kháng cáo anh Phạm Văn Vũ L. - Sửa một phần bản án hôn nhân sơ thẩm số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Vĩnh Long. Tuyên xử
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 49/2025/HNGĐ-PT
Ngày: 25-11-2025
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũng
Bà Phạm Thị Thu Trang
Thư phiên tòa: Huỳnh Thị Hồng Nhả, Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Anh Định - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại Tòa án nhân dân tnh Vĩnh Long xét xử
phúc thẩm ng khai vụ án thụ số: 36/2025/TLPT-HNngày 02 tháng 10
năm 2025 về việc “Ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn ”.
Do Bản án hôn nhân sơ thẩm số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 7 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 46/2025/QĐ-PT ngày
20 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Bích H, sinh năm 1980.
Địa ch cư trú: ấp C, xã T, tnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn Vũ L, sinh năm 1991.
Địa ch cư trú: ấp C, xã T, tnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn: Luật Nguyễn Thị T - Công
ty TNHH K - Đoàn luật sư thành phố H.
- Người kháng cáo: Anh Phạm Văn Vũ L là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Bích H trình bày: Chị H
và anh L tự nguyện kết hôn và đăng kết hôn ngày 25/11/2022 tại UBND
T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 11/2024 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải. Nay chH
nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh L.
- Về con chung: Vợ chồng không con chung nên không yêu cầu giải
quyết.
2
- Về tài sản chung của vchồng: Vào năm 2024, vợ chồng mua 01 chiếc
xe tải biển số 64H - 02959. Hiện tại giá trị của chiếc xe 200.000.000 đồng (Hai
trăm triệu đồng). Nguồn tiền để mua chiếc xe tiền của cha mẹ chồng chị bán
đất cho tiền chị H, anh L mua xe. Nay chị H yêu cầu được chia ½ giá trị ca chiếc
xe tải với số tiền là 100.000.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm chị H yêu cầu anh L
chia cho chị bằng 70.000.000 đồng.
- Về nợ phải thu, phải trả: Không có.
Bị đơn anh Phạm Văn L trình bày: Thống nhất với lời trình bày của
nguyên đơn về thời gian kết hôn quá trình chung sống. Nay bị đơn đồng ý ly
hôn với nguyên đơn.
- Về con chung: Vợ chồng không con chung nên không yêu cầu giải
quyết.
- Về tài sản chung của vợ chồng: Không có.
Đối với chiếc xe tải biển số 64H- 02959 là tài sản riêng của anh L. Nguồn
tiền để mua xe do anh L mượn mẹ anh 300.000.000 đồng, khi anh mượn tiền thì
chị H không biết. Anh L1 thống nhất giá trị chiếc xe hiện tại 200.000.000 đồng.
Nay anh không đồng ý chia giá trị chiếc xe cho chị H là 70.000.000 đồng. Chiếc
xe là tài sản riêng của anh.
- Về nợ chung của vợ chồng: không có.
Tại Bản án sơ thẩm số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 7 năm 2025 của
Tòa án nhân dân kh vực 4- Vĩnh Long đã tuyên xử:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Thị Bích H anh Phạm Văn
Vũ L.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tải sản chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Bích H về việc yêu
cầu anh Phạm Văn L chia 1/2 giá trị chiếc xe tải biển số 64H - 02959 số tiền
70.000.000 đồng.
Buộc anh Phạm Văn Vũ L có nghĩa vụ hoàn trả cho chị Lê Thị Bích H số
tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
Anh Phạm Văn Vũ L được quyền sở hữu chiếc xe tải biển số 64H - 02959
do anh L đứng tên chủ sở hữu.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên tiền án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án
quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 8/8/2025 anh Phạm Văn L kháng cáo không đồng ý chia tài sản
chung cho chị Lê Thị Bích H.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị
đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, anh Vũ L cung cấp thêm chứng cứ mới
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/01/2023 Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cấp cho anh Phan Văn Vũ L2 ngày 31/01/2023.
- Chị Thị Bích H thừa nhận chiếc xe tải do cha mcủa anh L2 cho đất
anh L2 bán để mua xe chcó phụ tiền sữa chửa đăng xe hơn 20.000.000
đồng, chị yêu cầu anh L2 phải chia cho chị một phần để đảm bảo cuộc sống sau
khi ly hôn.
- Anh L2 khai chiếc xe tải anh mua từ tiền chuyển nhượng đất của cha mẹ
anh cho anh để mua xe khi nào có tiền thì trả cho mẹ anh. Khi mua xe chị L2 ch
3
phụ hơn hai triệu đồng để đăng xe. Nay anh yêu cầu công nhận quyền sở
hữu chiếc xe tải biển số 64H- 02959, anh đồng ý hỗ trợ cho chị L2 bằng
10.000.000 đồng do có phần đóng góp tiền đăng ký xe để hoạt động
Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Chiếc xe
tải biển số 64H – 02959 anh L2 mua từ nguồn tiền cha mẹ anh L2 cho đất anh L2
bán để lấy tiền mua xe nên chiếc xe là tài sản riêng của anh L2 đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cao của anh L2 sửa bản án thẩm không chia
cho chị H gtrị chiếc xe tải biển số 64H - 02959 do anh L2 đứng tên chủ sở hữu.
Tuy nhiên anh L2 đồng ý cho chị L2 10.000.000 đồng để tạo cuộc sống khác đề
nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh Vĩnh Long về vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm các đương
sự đã chấp hành đúng quyền nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Về nội dung vụ án: Kháng cáo của anh L2 sở đchấp nhận. Bởi
lẽ tại phiên tòa phúc thẩm anh L2 có cung cấp chứng cứ chứng minh chiếc xe tải
biển số 64H- 02959 anh L2 mua từ tiền chuyển nhượng đất cho cha manh L2
tặng cho đất riêng anh L2. Chị H cho rằng cùng phụ 20.000.000 đồng để sữa
chửa xe đăng xe để hoạt động, anh L2 không thừa nhận chH không
chứng cứ chứng minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh L2,
sửa bản án thẩm. Ghi nhận sự tự nguyện của anh L2 hỗ trợ cho chị L2
10.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, căn cứ vào kết qutranh
tụng tại phiên tòa trên sở xem xét đầy đtoàn diện chứng cứ, ý kiến của các
bên đương sự và Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Phạm Văn L còn trong
hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của của anh Phạm Văn Vũ L không đồng ý chia cho chị
H 50% giá trị chiếc xe tải biển số 64H 02959. Anh L khai chiếc xe là tải sản
riêng của anh.
Tại phiên tòa phúc thẩm anh Vũ L cung cấp chứng cứ năm 2023 anh được
cha mẹ là ông Phạm Văn QTrần Thị H1 cho riêng diện tích đất 2.430,1 m
2
đất anh L chuyển nhượng đất được 600.000.000 đồng anh L lấy tiền mua xe biển
số 64H 02959 bằng 280.000.000 đồng. Chị H thừa nhận chiếc xe anh L mua
tiền chuyển nhượng đất. Chi L3 cho rằng sau khu mua xe chị có phụ tiền để làm
thủ tục đăng kiểm làm biển số gắn phù hiệu xe hơn 20.000.000 đồng, anh L3
thừa nhận chị H ch phụ tiền đăng ký biển số xe hơn hai triệu đồng. Chị H không
cung cấp được chứng cứ chứng minh đã đưa anh L3 20.000.000 đồng để sữa chửa,
đăng ký xe hoạt động.
Như vậy chiếc xe biển số 64H 02959 hình thành từ tải sản riêng của anh
L3. Chị H có công trong việc cùng đi mua xe và phụ tiền làm thủ tục đăng kiểm.
4
Tại phiên tòa anh L3 đồng ý cho chH bằng 10.000.000 đồng để tạo dựng cuộc
sống khác, số tiền này cũng tương đương 5% giá trị xe phần công sức đóng góp
vào chiếc xe của chị H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Từ những chứng cứ nêu trên chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của
anh Phạm Văn Vũ L sửa một phần bản án sơ thẩm. Việc sửa bản án sơ thẩm, Tòa
án cấp thẩm không lỗi do chứng cứ mới cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không b
kháng nghị tiếp tục có hiệu lực thi hành.
[4] Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bđơn căn cứ
một phần được chấp nhận, ý kiến kiểm sát viên phù hợp với các tình tiết
trong vụ án nên được chấp nhận.
[5 ] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của anh L được chấp nhận nên
không phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 33, Điều 43, Điều 59 của luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo anh Phạm Văn Vũ L.
- Sửa một phần bản án hôn nhân thẩm s15/2025/HNGĐ-ST ngày 25
tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Vĩnh Long.
Tuyên xử:
Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Văn Vũ L cho chị Lê Thị Bích H số
tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Anh Phạm Văn Vũ L được quyền sở hữu chiếc xe tải biển số 64H - 02959
do anh L đứng tên chủ sở hữu.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
tiếp tục có hiệu lực thi hành.
Về án phí sơ thẩm: Chị Thị Bích H anh Phạm Văn L mỗi người
phải chịu 150.000 đồng án phí hôn nhân thẩm. Chị H đã nộp 3.800.000 đồng
tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009881 ngày 27/01/2025 của Chi cục thi
hành án dân sự huyn Vũng Liêm nên cấn trừ, còn lại 3.650.000 đồng hoàn trả
cho chị Lê Thị Bích H.
Về án phí phúc thẩm: Anh Phạm Văn Vũ L không phải chịu. Hoàn trả cho
anh L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 000 1710 ngày
08/8/2025 của Thi hành án dân sự tnh Vĩnh Long.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
5
dân squyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 4- Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 4 - Vĩnh Long;
- Các đương sự (theo địa ch);
- Lưu: hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thành Trung
Tải về
Bản án số 49/2025/HNGĐ-PT Bản án số 49/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 49/2025/HNGĐ-PT Bản án số 49/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất