Bản án số 489/2023/DS-PT ngày 14/12/2023 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 489/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 489/2023/DS-PT ngày 14/12/2023 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bình Dương
Số hiệu: 489/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/12/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá bị hủy X- CC
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 489/2023/DS-PT
Ngày 14-12-2023
V/v tranh chấp bồi thường thiệt
hại do kết quả bán đấu giá bị hủy
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết.
Bà Trần Thị Thanh Trúc;
Ông Lê Sỹ Trứ.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Hồng Xuân - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông
Phan Văn Lợi – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 14 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 346/2023/TLPT-DS
ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do kết quả bán
đấu giá bị hủy”.
Do Bản án dân sự thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 07 tháng 6 m 2023 của
Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 368/2023/QĐ-PT ngày 26
tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 516/2023/QĐ-PT ngày 16 tháng 11
năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ơng Lệ X, sinh năm 1984; địa chỉ: số D, A, Phường H,
Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Duy K, sinh năm 1986 hoặc
ông Văn K1, sinh năm 1979; cùng địa chỉ liên hệ: tầng 01, số B, Đại lộ B, phường
P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, người đại diện theo y quyền (Văn bản y quyền
ngày 17/10/2022), ông Võ Duy K mặt, ông Hà Văn K1 vắng mặt.
- Bị đơn:
1. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn B Chức vụ: Chấp hành viên
trung cấp, Phó Chi Cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình
Dương.
2
Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Văn B: Ông Nguyễn Cảnh T, sinh năm
1977 Phan Thị H, sinh năm 1989 Chức vụ: Chấp hành viên, người đại diện
theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 07/12/2023), có mặt.
2. Công ty Đ1; địa chỉ: số B, đường số H, khu dân H, khu G, phường H,
thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Hoàng C Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của ông Đặng Hoàng C: Ông Phạm Minh T1, sinh
năm 1980; địa chỉ: số A, đường D, khu dân C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình
Dương ông Huỳnh Thanh H1, sinh m 1990; địa chỉ: số A, khu phố H, phường T,
thành phố T, tỉnh Bình Dương, người đại diện theo y quyền (Văn bản ủy quyền
ngày 16/11/2023), ông T1 và ông H1 mặt.
3. Ông Trần Quốc T2, sinh năm 1963; địa chỉ: số G, N, Phường A, Quận H,
Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Châu Ngọc P, sinh m 1971; địa chỉ: số D - D, B, Phường A, Quận F,
Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: số G, N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Quốc T2 và bà Châu Ngọc P:
1. Ông Trần Quang V, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Tiền
Giang;
2. Bà Đào Thị T3, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn D, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
Ông V và bà T3 cùng địa chỉ liên hệ: số C, khu phố N, phường B, thành phố D,
tỉnh Bình Dương, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày
10/5/2023), ông V và bà T3 có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Trần Quốc T2
Châu Ngọc P: Thị Thanh N Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật
tỉnh B, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty Cổ phần T7; địa chỉ: số C, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh
Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quốc T2 Chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng quản trị kiêm Giám đốc, vắng mặt.
2. Trần Thị Kim Đ, sinh năm 1966; địa chỉ: số G, N, Phường A, Quận H,
Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Ông Hoàng Ngọc T4, sinh m 1963; địa chỉ: số H, Cách mạng tháng T,
Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ngưi kháng cáo: bị đơn Công ty Đ1; ông Trần Quốc T2 và bà Châu Ngọc P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2016 lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án nguyên đơn bà Vương Lệ X trình bày:
3
Ngày 30/10/2014, Công ty TNHH Đ1 (sau đây gọi tắt Công ty Đ1) tổ chức
bán đấu giá tài sản quyền sử dụng đất 300m
2
tài sản gắn liền với đất nhà n
phòng diện tích sàn y dựng 948,49m
2
thuộc một phần thửa đất số 780, số 781, tờ
bản đồ số 04 tọa lạc tại khu phố N, phường B, thị (nay thành phố ) D, tỉnh Bình
Dương với giá khởi điểm theo chứng thư thẩm định giá 2.815.372.000 đồng.
Vương Lệ X đã mua đấu giá trúng tài sản trên với giá 2.816.000.000 đồng nên Công ty
Đ1 X đã Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 69 ngày 30/10/2014.
Trong hợp đồng hai bên thỏa thuận các vấn đliên quan bao gồm nghĩa vụ thanh toán
trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng; thời hạn giao tài sản 45 ngày làm
việc kể từ ngày X nộp đủ tiền, trừ trường hợp phải cưỡng chế thì thời hạn không
quá 90 ngày làm việc. Ngày 28/11/2014, X nộp đủ số tiền 2.816.000.000 đồng vào
tài khoản của Công ty Đ1. Sau khi nộp đủ tiền, Chi cục Thi hành án dân sự thị (nay
thành phố) An (gọi tắt quan Thi hành án) Công ty Đ1 vẫn không bàn
giao tài sản cho X đúng như thỏa thuận. Sau đó, ông T2, P khởi kiện tại Tòa án
nhân dân thành phố Thủ Dầu Một để yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản ngày
30/10/2014. Ngày 22/01/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã xét xử phúc thẩm
hủy kết quả bán đấu giá hủy Hợp đồng mua bán đấu giá tài sản số 69 ngày
30/10/2014. Nguyên nhân dẫn đến việc hủy trên do quan Thi hành án Công ty
Đ1 lỗi không thực hiện đúng trình tự thủ tục bán đấu giá tài sản theo quy định
pháp luật, vi phạm cam kết, làm thiệt hại lớn về mặt thực tế cho bà X, X đã giao
đủ tiền nhưng nhiều năm vẫn không được nhận tài sản. Ngày 30/12/2016, Công ty Đ1
đã hoàn trả cho X số tiền mua tài sản bán đấu giá 2.816.000.000 đồng nên
nguyên đơn đã rút yêu cầu này chỉ yêu cầu quan Thi hành án Công ty Đ1 bồi
thường thiệt hại với số tiền 1.762.000.000 đồng.
- Bị đơn Chi cục Thi hành án dân sự thị (nay thành phố ) D, tỉnh nh
Dương trình bày:
Thống nhất với ý kiến trình y của nguyên đơn về thời gian, tài sản bán đấu
giá, giá trị tài sản bán đấu giá, người mua đấu giá trúng, các thỏa thuận trong Hợp
đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 69, về thời hạn thanh toán, thời hạn giao tài sản.
quan Thi nh án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc bồi thường thiệt hại
với số tiền 1.762.000.000 đồng của nguyên đơn. cho rằng thtục bán đấu giá tài
sản thực hiện đúng, đầy đủ; cơ quan Thi hành án đã tống đạt Thông báo bán đấu giá tài
sản số 379/TB-CCTHA ngày 22/9/2014 cho ông Khắc C1 người được ông T2,
bà P Công ty Cổ phần T7 y quyền tham gia giai đoạn thi hành án, Công ty Đ1 tiến
hành niêm yết và đăng báo công khai. Việc X không nhận được tài sản mua đấu giá
trúng không phải do lỗi của quan Thi hành án do vợ chồng ông T2, P không
chấp hành giao tài sản do Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2016/DS-PT ngày
26/01/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử không đúng quy định pháp
luật. Mặt khác, số tiền nguyên đơn yêu cầu bồi thường căn cứ vào mức chênh lệch giá
đã mua giá theo chứng thư thẩm định các lần sau không phù hợp, tài sản hiện
tại vẫn chưa bán được. Do đó, quan Thi hành án Công ty Đ1 chỉ đồng ý trả lại
cho nguyên đơn số tiền lãi 146.008.766 đồng phát sinh từ số tiền gửi 2.816.000.000
đồng do Công ty Đ1 quản lý chủ tài khoản.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Đ1 trình bày:
Thống nhất trình bày của nguyên đơn về thời gian tài sản bán đấu giá, giá trị
tài sản bán đấu giá, người mua đấu giá trúng, các thỏa thuận trong Hợp đồng mua bán
4
tài sản bán đấu giá số 69, về thời hạn thanh toán, thời hạn giao tài sản. Trước khi bán
đấu giá tài sản, Công ty Đ1 đã tiến hành niêm yết việc bán đấu giá tài sản tại nơi bán
đấu giá, nơi bất động sản y ban nhân n phường nơi có bất động sản bán đấu
giá, thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng vào ngày 22 ngày
26/9/2014. Tại phiên đấu giá tài sản ngày 30/10/2014 chhai người tham gia đấu
giá Vương Lệ X ông Nguyễn Huỳnh Công K2, phương thức trả giá trực tiếp
bằng lời nói theo từng vòng đấu giá. Kết quả X đã trúng với giá đấu cao nhất tại
vòng đầu tiên 2.816.000.000 đồng. Sau khi X nộp đsố tiền trên, cùng ngày
28/11/2014, Công ty Đ1 ra Công văn số 765/CV-CL đề nghị Chi cục Thi hành án dân
sự thị (nay thành phố) An giao tài sản bán đấu giá cho X. Ngày
22/10/2015, Công ty Đ1 tiếp tục Công văn số 1088/CV-CL đề nghị Chi cục Thi
hành án dân sự thị (nay thành phố) An giao tài sản cho X theo Hợp đồng
mua bán tài sản bán đấu giá số 69. Việc X vẫn không nhận được tài sản mua đấu
giá trúng tCông ty Đ1 không lỗi. Về thủ tục bán đấu giá, Công ty Đ1 đã thực
hiện đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật quy chế bán đấu giá của công ty. Do đó,
Công ty Đ1 không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền 1.762.000.000
đồng của nguyên đơn, chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền lãi 146.008.766 đồng
phát sinh từ số tiền gửi 2.816.000.000 đồng hiện do công ty đang quản chủ i
khoản. Nguyên đơn căn cứ vào mức chênh lệch giữa giá đã mua kết quả chứng thư
thẩm định các lần sau để yêu cầu bồi thường là không phù hợp.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần T7 (sau đây gọi tắt
Công ty T7) trình bày:
Quá trình cưỡng chế, biên, bán đấu giá tài sản để thi hành án theo Quyết
định số 56/2012/QĐST-DS ngày 30/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố An,
Công ty T7, ông T2, bà P đã y quyền cho ông Khắc C1 tham gia với cách
người phải thi hành án, không ghi cụ thtừng nội dung phải thi hành án, không y
quyền với cách của người đang quản , sử dụng người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến tài sản bán đấu giá. Công ty Đ1 không tống đạt cho ông T2, P
Công ty T7 văn bản nào về việc bán đấu giá tài sản. Chi cục Thi hành án dân sự thị
(nay thành phố) An không gửi bất kỳ thư mời tham dự bán đấu giá nào cho ông
C1 chỉ gửi một số thông báo liên quan đến bán đấu giá tài sản nhưng không đầy
đủ. Trình tự bán đấu gđược thực hiện không đúng quy định pháp luật, nhiều sai
phạm như: biên bản đấu giá thể hiện Công ty Đ1 không phổ biến quy chế, thể thức
nội quy phiên đấu giá cho những người tham gia đấu giá. Trong phiên đấu giá vắng
mặt người có tài sản đấu giá, chấp hành viên không có chữ ký. Danh sách những người
đăng tham gia không được công bố công khai tại nơi bán đấu giá Công ty Đ1
không thông báo việc bán đấu giá tài sản cho những người liên quan đến tài sản đó
ông T2, P, Công ty T7 Nguyễn Thị T5 biết vi phạm quy định bán đấu giá
tài sản. Công ty T7 không ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Quốc T2, Châu Ngọc P
thống nhất trình bày:
Thống nhất toàn bộ ý kiến trình bày của ông Võ Khắc C1, đại diện cho Công ty
T7. Ông T2, P không ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
5
Tại Bản án dân sự thẩm số 119/2017/DS-ST ngày 31/8/2017 của Tòa án
nhân dân thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương quyết định:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vương Lệ X yêu cầu
Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) D Công ty TNHH Đ1 hoàn trả
số tiền 2.816.000.000 đồng.
2. Công ty TNHH Đ1 trách nhiệm giao cho V1 Lệ Xuân 146.008.766
đồng là khoản tiền lãi phát sinh từ số tiền gửi 2.816.000.000 đồng.
3. Chi cục Thi hành án dân sự thị (nay thành phố) D trách nhiệm bồi
thường thiệt hại cho bà Vương Lệ X số tiền 969.594.740 đồng.
4. Công ty TNHH Đ1 phải trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Vương
Lệ X số tiền 646.396.493 đồng.
Ngày 12/9/2017, Viện Kiểm sát nhân dân thị (nay thành phố) D quyết
định kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm nêu trên.
Ngày 13/9/2017, Chi cục Thi hành án dân sự thị (nay thành phố) D
Công ty TNHH Đ1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại Bản án n sự phúc thẩm số 86/2018/DS-PT ngày 02/5/2018 của Tòa án
nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định:
1. Không chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân n thị (nay
thành phố ) D, tỉnh Bình Dương.
2. Chấp nhận kháng cáo của Chi cục Thi hành án dân sự thị (nay thành
phố ) D, tỉnh Bình Dương Công ty TNHH Đ1.
3. Hủy Bản án dân sự thẩm số 119/2017/DS-ST ngày 31/8/2017 của Tòa án
nhân dân thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương đình chỉ giải quyết vụ án.
Ngày 08/6/2018, ơng Lệ X đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc
thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định số 80/2019/KN-DS ngày 11/02/2019, Chánh án Tòa án nhân
dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm
nêu trên; đề nghị y ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bBản án dân sự phúc thẩm số 86/2018/DS-PT
ngày 02/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và giữ nguyên Bản án dân sự sơ
thẩm số 119/2017/DS-ST ngày 31/8/2017 của Tòa án nhân dân thị (nay thành
phố ) D, tỉnh Bình Dương.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 82/2019/DS-GĐT ngày 04/5/2019 của Ủy
ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 86/2018/DS-PT ngày 02/5/2018 của Tòa án
nhân dân tỉnh Bình ơng giữ nguyên Bản án n sự thẩm số 119/2017/DS-ST
ngày 31/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương.
Tại Công văn số 969/CCTHADS ngày 27/8/2021, Chi cục Thi nh án dân sự
thành phố D, tỉnh Bình Dương kiến nghị xem xét kháng nghị theo thtục tái thẩm đối
với Quyết định giám đốc thẩm số 82/2019/DS-GĐT ngày 04/5/2019 của Ủy ban Thẩm
phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
6
Ngày 22/9/2021, Công ty Đ1 đơn đề nghị xem xét theo thủ tục tái thẩm đối
với quyết định giám đốc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị tái thẩm số 19/2022/KN-DS ngày 30/5/2022, Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị tái thẩm đối với Quyết định giám đốc thẩm
số 82/2019/DS-GĐT ngày 04/5/2019 của y ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét
xử tái thẩm, hủy quyết định giám đốc thẩm u trên, hủy Bản án dân sự phúc thẩm số
86/2018/DS-PT ngày 02/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh tỉnh Bình Dương hủy
Bản án dân sự sơ thẩm số 119/2017/DS-ST ngày 31/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã
(nay thành phố ) D, tỉnh Bình Dương; giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân thành
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Tại Quyết định tái thẩm số 27/2022/DS-TT ngày 23/8/2022 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định: Hủy Quyết định giám đốc thẩm số
82/2019/DS-GĐT ngày 04/5/2019 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 86/2018/DS-PT ngày
02/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương hủy Bản án dân sự thẩm s
119/2017/DS-ST ngày 31/8/2017 của Tòa án nhân dân thị (nay thành phố ) D,
tỉnh Bình Dương về vụ án “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá
bị hủygiữa nguyên đơn Vương Lệ X với bị đơn Chi cục Thi hành án dân sự
thị An (nay thành phố D), tỉnh Bình Dương những người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan khác; giao hvụ án cho Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh
Bình Dương xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
Tòa án nhân dân thành phố D thụ lại theo thủ tục thẩm. Quá trình giải
quyết vụ án:
- Nguyên đơn bà Vương Lệ X có các đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung:
+ Theo đơn khởi kiện ngày 02/12/2022, Vương Lệ X trình y yêu cầu:
Công ty TNHH Đ1 đã trả lại cho X số tiền 2.816.000.000 đồng theo quyết định tại
Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2016/DS-PT ngày 22/01/2016 của Tòa án nhân dân
Tỉnh Bình Dương. Hiện nay, theo X được biết thì tài sản X mua trúng đấu giá
nêu trên đã được ông Hoàng Ngọc T4 mua theo Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số
04 ngày 11/10/2017 với giá 4.618.000.000 đồng. Như vậy, Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố D, tỉnh Bình Dương và Công ty TNHH Đ1 (nay là Công ty Đ1) đã không
còn tài sản bàn giao cho X theo Hợp đồng mua bán tài sản n đấu giá số 69 ngày
30/10/2014. vậy, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D Công ty TNHH Đ1
(nay Công ty Đ1) vi phạm Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá s 69 ngày
30/10/2014 nên X sửa đổi, bổ sung toàn bộ yêu cầu khởi kiện yêu cầu Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố D, Công ty TNHH Đ1 (nay Công ty Đ1), ông Trần Quốc
T2 Châu Ngọc P phải liên đới bồi thường thiệt hại cho X giá trị chênh lệnh
giữa giá trị tài sản X mua trúng đấu giá theo Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá
số 69 ngày 30/10/2014 (2.816.000.000 đồng) với giá trị tài sản theo giá thị trường hiện
nay, tạm tính yêu cầu bồi thường số tiền là 1.802.000.000 đồng (một tỷ tám trăm lẻ hai
triệu đồng).
+Theo đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 24/4/2023 (bút lục 1364) bà Vương
Lệ X trình bày yêu cầu: Tại Quyết định giám đốc thẩm số 150/2021/DS-GĐT ngày
11/5/2021, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
7
đã quyết định hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2016/DS-PT ngày 22/01/2016 của
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2015/DS-
ST ngày 28/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố T cho nên Hợp đồng mua bán tài
sản đấu giá số 69 ngày 30/10/2014 giữa X Công ty Đ1 vẫn còn hiệu lực. Nhưng
hiện nay, bà X được biết tài sản X mua trúng đấu giá đã được ông Hoàng Ngọc T4
mua theo Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 04 ngày 11/10/2017 với giá là
4.618.000.000 đồng. Sau đó, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D đã giao số tiền
trên cho ông T2 P nên X sửa đổi, bổ sung toàn bộ yêu cầu khởi kiện, X
yêu cầu:
Buộc Chi cục Thi nh án dân sự thành phố D, Công ty TNHH Đ1 (nay
Công ty Đ1) giao tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất đối với khu đất diện tích
300m
2
đất thổ tài sản gắn liền với đất 01 nhà văn phòng (cấp 3) diện tích sàn
xây dựng 948,49m
2
(nhà, đất không đường vào) thuộc một phần thửa đất số 780, số
781, tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại khu phố N, phường B, thị (nay thành phố), tỉnh
Bình Dương cho X theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá
số 69 ngày 30/10/2014.
Nếu không giao được tài sản bán đấu giá thì buộc Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố D, Công ty TNHH Đ1 (nay Công ty Đ1) giao giá trị tài sản tương đương
ông Hoàng Ngọc T4 mua theo Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 04 ngày
11/10/2017, cụ thể: 4.618.000.000 đồng (giá trị tài sản theo Hợp đồng mua bán tài sản
đấu giá số 04 ngày 11/10/2017) 2.816.000.000 đồng (số tiền X đã nhận) =
1.802.000.000 đồng.
+ Theo đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 24/4/2023 (bút lục 1366) bà Vương
Lệ X trình bày yêu cầu: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, Công ty Đ1, ông
T2P không giao tài sản cho X chưa đúng theo nội dung của hợp đồng mua
bán tài sản đấu giá. Số tiền chênh lệch 1.802.000.000 đồng từ việc bán đấu giá tài sản,
ông Trần Quốc T2, Châu Ngọc P người hưởng lợi. Theo quy định của Bộ luật
Dân sự về việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình mua n tài sản đấu giá.
Tài sản bà X mua trúng đấu giá theo Hợp đồng mua bán đấu giá số 69 ngày
30/10/2014 không thể tiến hành bàn giao cho X được. Nay X yêu cầu Chi cục
Thi hành án dân sự thành phố D, Công ty Đ1, ông Trần Quốc T2 Châu Ngọc P
liên đới trả cho X giá trị tài sản chênh lệch 4.618.000.000 đồng - 2.816.000.000
đồng = 1.802.000.000 đồng.
Ngoài ra, trong quá trình tố tụng X người đại diện hợp pháp của X
trình bày: Đối với số tiền 128.631.265 đồng bà X đã nhận của Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố D thì bà X đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 646.396.493 đồng X nhận của Công ty Đ1 đã thi hành án
theo Bản án dân sự thẩm số 119/2017/DS-ST ngày 31/8/2017 của Tòa án nhân dân
thị xã (nay là thành phố) D thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bà X không đồng ý thanh toán tiền lãi suất chậm trả cho Công ty Đ1 với số tiền
51.711.719 đồng, bà X nhận tiền theo bản án hiệu lực pháp luật hiện tại chưa
bản án quyết định nào buộc X phải trả lại khoản tiền đã nhận nên X chưa vi
phạm nghĩa vụ thanh toán.
8
- Tại Văn bản số 1526/CCTHADS ngày 25/10/2022, Văn bản số
2029/CCTHADS ngày 11/11/2022 Văn bản số 2030/CCTHADS ngày 11/11/2022 bị
đơn Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dương trình bày:
Căn cứ Quyết định giám đốc thẩm số 82/2019/DS-GĐT ngày 04/5/2019 của
Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; Bản án dân sự phúc thẩm số
86/2018/DS-PT ngày 02/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương; Bản án dân sự
thẩm số 119/2017/DS-ST ngày 31/8/2017 của Tòa án nhân dân thị (nay thành
phố) D, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D tổ chức thi hành án theo yêu cầu của
bà X, cụ thể như sau: tại Quyết định thi hành án số 2402/QĐ-CCTHADS ngày
18/6/2019, Công ty Đ1 có trách nhiệm giao cho bà X số tiền lãi 146.008.766 đồng phát
sinh từ số tiền 2.816.000.000 đồng mà bà X đã nộp cho Công ty Đ1 vào ngày
28/11/2014 và bồi thường thiệt hại cho X số tiền 646.396.493 đồng. Tại Quyết định
thi hành án số 2403/QĐ-CCTHADS ngày 18/6/2019, Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố D trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho X số tiền 969.594.740 đồng.
Quá trình thi hành án, Công ty Đ1 đã thanh toán choX các khoản tiền nêu trên theo
Quyết định thi hành án số 2403/QĐ-CCTHADS. Quá trình thi nh án, Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố D đã thanh toán cho X số tiền 128.631.265 đồng theo
Quyết định thi nh án số 2403/QĐ-CCTHADS. Các khoản còn phải thi hành án là:
Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) D trách nhiệm bồi thường thiệt
hại cho Vương Lệ X, sinh năm 1984, thường trú: số D, A, Phường H, Quận E,
Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 840.963.475 đồng (tám trăm bốn mươi triệu chín
trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi năm đồng). Cùng khoản tiền kể trên từ
ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành
xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015.
Ngày 18/8/2021, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D nhận được Quyết
định giám đốc thẩm s150/2021/DS-GĐT ngày 11/5/2021 của a án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung hủy Bản án dân sự phúc thẩm số
25/2016/DS-PT ngày 22/01/2016 của a án nhân dân tỉnh Bình Dương; giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số 73/2015/DS-ST ngày 28/9/2015 của Tòa án nhân dân thành
phố T, tỉnh Bình ơng xét xử vụ án “Tranh chấp kết quả bán đấu giá tài sản” giữa
nguyên đơn ông Trần Quốc T2, Châu Ngọc P với bị đơn Công ty TNHH Đ1;
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vương Lệ X Chi cục Thi hành án dân
sự thị xã (nay là thành phố) D.
Bản án dân sự phúc thẩm s25/2016/DS-PT ngày 22/01/2016 của Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Dương đã bị hủy, đồng thời giữ nguyên Bản án n sự thẩm số
73/2015/DS-ST ngày 28/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương
đã tuyên: “1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quốc T2,
Châu Ngọc P đối với Công ty TNHH Đ1 về “Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài
sản”; 2. Hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2015/QĐ-
BPKCTT ngày 22/5/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương”. Chi cục Thi hành án dân sự thị (nay thành phố) D đã tiếp tục thực hiện
các thủ tục giao i sản đã được bán đấu giá thành cho Vương Lệ X, đúng theo quy
định của pháp luật, không làm phát sinh việc X khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt
hại theo chênh lệch về giá trị tài sản như đã nêu trên.
9
Ngày 22/9/2022, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D nhận được Quyết
định tái thẩm số 27/2022/DS-TT ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân tối cao, nội
dung của quyết định hủy Quyết định giám đốc thẩm số 82/2019/DS-GĐT ngày
04/5/2019, hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 86/2018/DS-PT ngày 02/5/2018, hủy Bản
án dân sự thẩm số 119/2017/DS-ST ngày 31/8/2017 giao hồ về Tòa án nhân
dân thành phố D giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Do đó, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D yêu cầu Tòa án buộc X trả
lại cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D số tiền 128.631.265 đồng, Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố D không phải tiếp tục nộp cho X số tiền còn lại theo bản
án các quyết định thi hành án; Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D không yêu
cầu bà X phải trả tiền lãi đối với số tiền đã nhận 128.631.265 đồng.
Việc Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D không giao được tài sản bán đấu
giá cho X không phải do lỗi của quan thi hành án do bản án dân sự phúc
thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương tuyên hủy hợp đồng mua bán tài sản bán
đấu giá sai. vậy, Chi cục Thi nh án dân sự thành phố D không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của bà X.
- Theo đơn yêu cầu ngày 10/11/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn
Công ty Đ1 người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty Đ1 Công Lập ông
Phạm Minh T1 và ông Huỳnh Thanh H1 thống nhất trình bày:
Bản án dân sự phúc thẩm s25/2016/DS-PT ngày 22/01/2016 của Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Dương tuyên hủy Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 69 ngày
30/10/2014 giữa Công ty Đ1 với Vương Lệ X; Công ty Đ1 trách nhiệm giao cho
Vương Lệ X số tiền 2.816.000.000 đồng X đã nhận lại số tiền này. Căn cứ
bản án trên Vương Lệ X khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu
giá bị hủy. Ngày 04/5/2019, Tòa án cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành
Quyết định giám đốc thẩm số 82/2019/DS-GĐT tuyên xử hủy toàn bộ Bản án dân sự
phúc thẩm số 86/2018/DS-PT ngày 02/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 119/2017/DS-ST ngày 31/8/2017 của Tòa án
nhân dân thị (nay thành phố ) D, tỉnh Bình Dương. Ngày 18/6/2019, Chi cục Thi
hành án dân sự thị (nay thành phố ) D, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định thi
hành án theo đơn yêu cầu số 2402/QĐ-CCTHADS buộc Công ty Đ1 bồi thường thiệt
hại cho nguyên đơn ơng Lệ X số tiền 646.396.493 đồng. Ngày 19/6/2020, Công
ty Đ1 nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D số tiền 200.000.000 đồng
(Biên lai thu tiền số AA/2013/01562 ngày 19/6/2020); ngày 02/10/2020, Công ty Đ1
nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phAn số tiền 446.396.493 đồng (Biên
lai thu tiền số AA/2016/0010815 ngày 02/10/2020), tổng số tiền Công ty ng Lập
nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An là 646.396.493 đồng.
Như vậy, việc Công ty Đ1 phải thi hành án cho Quyết định giám đốc thẩm số
82/2019/DS-GĐT ngày 04/5/2019 Bản án dân sự sơ thẩm số 119/2017/DS-ST ngày
31/8/2017 của Tòa án nhân dân thị (nay thành phố) D, tỉnh Bình Dương nêu trên
để giải quyết hậu quả của việc Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 69 ngày
30/10/2014 đã bị hủy theo Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2016/DS-PT ngày
22/01/2016 của Tòa án nhân n tỉnh Bình Dương. Hậu quả của việc Hợp đồng mua
bán tài sản bán đấu giá số 69 ngày 30/10/2014 bị hủy nguyên đơn được nhận tiền
bồi thường theo hai bản án trên. Từ những nội dung trình bày trên, hiện Hợp đồng mua
bán tài sản bán đấu giá số 69 ngày 30/10/2014 đã bị hủy, không còn giá trị pháp lý. Do
10
đó, Công ty Đ1 không nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán tài sản đấu giá đối với
nguyên đơn. Hơn nữa, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá ký kết giữa nguyên đơn và bị
đơn từ ngày 30/10/2014. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, thời hiệu khởi kiện của
hợp đồng 03 năm. vậy, thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
đấu giá đã hết nên Công ty Đ1 đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn với lý do hết thời hiệu khởi kiện.
Công ty Đ1 nhận thấy nguyên nhân nguyên đơn tranh chấp yêu cầu bị đơn phải
liên đới trả giá trị tài sản chênh lệch với số tiền 1.802.000.000 đồng do Thẩm
phán Trương Văn L của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã tuyên Bản án dân sự
phúc thẩm số 25/2016/DS-PT ngày 22/01/2016 về việc “Tranh chấp kết quả bán đấu
giá tài sản trái pháp luật” đã bị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy bản án y. Bản án trái pháp luật của Thẩm phán
Trương Văn L, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương nêu trên đã xâm phạm đến quyền và
lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
mình thì nguyên đơn phải khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với Thẩm phán
Trương Văn L Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thay vì đang khởi kiện tranh chấp
như hiện nay.
Công ty Đ1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộcX hoàn trả cho Công ty Đ1 số
tiền 646.396.493 đồng thanh toán tiền lãi suất đối với số tiền 646.396.493 đồng với
mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày Tòa án thụ đơn yêu cầu cho đến ngày Tòa án xét
xử sơ thẩm với số tiền 51.711.719 đồng. Tổng cộng số tiền phải thanh toán là
698.108.212 đồng.
- Bị đơn ông Trần Quốc T2 Châu Ngọc P do ông Trần Quang V, Đào
Thị T3 là người đại diện thống nhất trình bày:
Ông T2 P không kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá với X,
không quyền nghĩa vụ liên quan với X nên ông T2 P không đồng ý
đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hơn nữa, Hợp đồng mua bán tài sản đấu
giá số 69 giữa X với Công ty Đ1 được kết ngày 30/10/2014, tính về thời hiệu
khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua n tài sản đấu giá theo quy định của Bộ luật Dân
sự thì thời hiệu khởi kiện đã hết. vậy, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với do hết thời hiệu khởi kiện. Việc X không
nhận được tài sản bán đấu giá do bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
tuyên xử trái pháp luật nên đề nghị X khởi kiện ông Trương Văn L Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Dương yêu cầu bồi thường thiệt hại chứ không phải là khởi kiện ông T2
và bà P.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần T7 trình bày:
Công ty Cổ phần T7 không ý kiến đối với việc X khởi kiện Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố An, Công ty Đ1, ông T2 P đề nghị vắng mặt
trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim Đ trình bày:
Đ xác định không quyền lợi liên quan đến tài sản bán đấu gcũng
không ý kiến đối với việc X khởi kiện đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình
Tòa án giải quyết vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Ngọc T4 trình bày:
11
Ông T4 người mua trúng đấu giá đối với tài sản quyền sử dụng đất với
diện tích 300m
2
tài sản gắn liền với đất nhà văn phòng diện tích sàn y dựng
948,49m
2
thuộc một phần thửa đất số 780, số 781, tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại khu phố
N, phường B, thành phD, tỉnh Bình ơng. Ông T4 đã được Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất số CU 033023, số vào sổ CS09155 ngày 10/01/2020. Hiện tại
ông T4 đang quản lý, sử dụng tài sản này. Ông T4 xác định không có quyền lợi đối
với yêu cầu khởi kiện của X đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án
giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 07/6/2023 của Tòa án
nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Vương Lệ X yêu
cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D Công ty Đ1 hoàn trả số tiền
2.816.000.000 đồng (hai tỷ tám trăm mười sáu triệu đồng).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Vương Lệ X.
Buộc ông Trần Quốc T2 Châu Ngọc P liên đới bồi thường cho V1 Lệ
Xuân số tiền 1.802.000.000 đồng (một tỷ tám trăm lẻ hai triệu đồng).
3. Không chấp nhận u cầu khởi kiện của Vương Lệ X về việc yêu cầu Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố D Công ty Đ1 phải liên đới bồi thường số tiền
1.802.000.000 đồng (một tỷ tám trăm lẻ hai triệu đồng).
4. Buộc bà Vương Lệ X trả cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D số tiền
128.631.265 đồng (một trăm hai mươi tám triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm
sáu mươi lăm đồng).
5. BuộcVương Lệ X trả cho Công ty Đ1 số tiền 646.396.493 đồng (sáu trăm
bốn mươi sáu triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn bốn trăm chín mươi ba đồng).
6. Buộc Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D trả cho V1 Lệ Xuân phí thi
hành án 27.631.095 đồng (hai mươi bảy triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn không
trăm chín mươi lăm đồng).
7. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty Đ1 buộc Vương Lệ X trả tiền lãi
51.711.719 đồng (năm mươi mốt triệu bảy trăm mười một nghìn bảy trăm mười chín
đồng).
Ngoài ra bản án n quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm trả và
quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 05/6/2023, bị đơn ông Trần Quốc T2 Châu
Ngọc P kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án
sơ thẩm.
Ngày 22/6/2023, Công ty Đ1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của Công ty Đ1 rút kháng
cáo, người đại diện hợp pháp của bị đơn ông T2, P vẫn giữ yêu cầu kháng cáo. Các
đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyế vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông T2, bà P trình bày quan
điểm tranh luận:
12
- Về tố tụng: Tòa án án cấp thẩm xác định sai tư cách tố tụng của ông T2,
P; việc xác định sai tư cách tố tụng ngay từ đầu, chậm trễ trong việc thay đổi tư cách tố
tụng của Toà án cấp thẩm, thậm chí còn không nhận định về việc thay đổi cách
tố tụng tại phiên toà, trong bản án đã ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi ích của
ông T2, P; ông T2, P không thể thực hiện các quyền hợp pháp của họ với đúng
tư cách là bị đơn.
Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi thụ lý đơn khởi
kiện của nguyên đơn nội dung thay đổi yêu cầu khởi kiện ợt qphạm vi khởi
kiện ban đầu khi phiên toà xét xử sơ thẩm đã diễn ra đến thủ tục nghị án. Tại phiên toà
thẩm ngày 21/4/2023, diễn biến phiên toà đã đến thủ tục nghị án, tại thời điểm y,
sau quá trình giải quyết vụ án phần tranh tụng tại phiên toà, thì quan hệ tranh chấp
trong vụ án được xác định “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu
giá bị huỷ”. Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 07/6/2023 của Tòa án
nhân dân thành phố An không khách quan, vi phạm quy định ttụng khi thụ
yêu cầu mới vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, m phạm nghiêm trọng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của ông T2, bà P.
Tòa án cấp thẩm vi phạm thủ tục tố tụng trong phiên toà sơ thẩm khi không
tiếp tục diễn biến phiên tòa sau khi tạm ngừng phiên tòa quay trở lại phần thủ tục
chuẩn bị xét xử thực hiện lại toàn bộ thủ tục phiên tòa thẩm cả 03 phiên tòa
ngày 21/4/2023, ngày 25/5/2023 và ngày 07/6/2023.
Vi phạm thủ tục tố tụng trong quá trình chuẩn bị xét xử, không tống đạt thông
báo thụ bổ sung cho người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; không mời người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tiếp cận, công khai chứng cvà hoà giải đối
với yêu cầu khởi kiện mới của nguyên đơn.
Yêu cầu của X đã được Tòa án chấp nhận một phần nhưng Tòa án cấp
thẩm lại buộc ông T2, P chịu chi phí tố tụng vi phạm quy định tại khoản 1 Điều
165 của Bộ luật Tố tụng dân sự về nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định, định giá
tài sản.
Tòa án cấp thẩm xác định sai quan hệ tranh chấp đối với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, m hưởng đến quyền lợi ích của tất cả các đương sự trong vụ án.
Bản chất của vụ án vẫn “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá
bị hủy”.
Với việc sai phạm quá nhiều các thủ tục tố tụng của Tán sơ thẩm thì ông T2,
P thực sự không c định được cách của mình trong ván này gì, quyền
nghĩa vụ của họ đến đâu trong vụ án này; không chỉ làm ảnh hưởng đến quyền lợi
ích hợp pháp của ông T2, bà P mà còn của các đương sự khác.
- Về nội dung: Tòa án cấp thẩm vi phạm về việc nhận định người thứ ba
ngay tình nên cho rằng quyền lợi của X được bảo vệ như quyền lợi của người thứ
ba ngay tình đã làm nh hưởng, thiệt hại đến quyền lợi của các đương sự khác
nghiêm trọng nhất là ông T2, bà P
Sai phạm trong nhận định về yếu tố lỗi: Toà án cấp thẩm không có bất kỳ cơ
sở pháp nào nhưng lại phán quyết ông T2, P phải chịu trách nhiệm bồi thường
cho X xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của ông T2, P khi phải bồi
thường cho một nhân mà hkhông giao dịch, không lỗi cũng không tham gia
trong mối quan hệ tranh chấp.
13
Sai phạm trong việc nhận định ông T2, bà P hưởng lợi: bản án thẩm không
nêu rõ ông T2, bà P phải bồi thường cho bà X căn cứ vào đâu, trong mối quan hệ tranh
chấp nào. Quan htranh chấp của vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản bán
đấu giá” nhưng ông T2, P không kết hợp đồng bán đấu giá, không tham gia vào
quá trình bán đấu giá cũng như không có bất kỳ giao dịch nào với X trong mối quan
hệ bán đấu giá tài sản nên không thể bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Nếu
mối quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì bản chất quan hệ tranh chấp đã
xác định sai. Đồng thời, căn cứ theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015
thì yếu tố lỗi không phải một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng nên việc Tòa án cấp thẩm nhận định Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố An Công ty Đ1 không lỗi để loại trừ trách nhiệm bồi
thường không đúng. Tuy yếu tố lỗi không phải một trong những căn cứ phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nhưng yếu tố lỗi lại căn cứ để xác
định mức độ trách nhiệm bồi thường, trong mối quan hệ tranh chấp này, ông T2, P
không hề lỗi, cũng không hề chủ động được trong việc chậm giao tài sản đối với bà
X.
Sai phạm trong việc nhận định mối quan hệ tương quan giữa quan hệ tranh chấp
vai trò của ông T2, P trong vụ án: giữa quan hệ tranh chấp được Tòa án cấp
thẩm xác định kết quả tuyên của bản án không hbất k mối quan hệ tương
quan, nhân qunào, ông T2, P không giữ bất k vai trò nào lại phải chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là không có cơ sở, xâm phạm quyền lợi của
ông T2, bà P.
Do Toà án cấp sơ thẩm đã có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và
nội dung ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự nên đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung:
+ Về thủ tục tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đưa thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan:
Tại Biên bản phiên tòa ngày 21/4/2023, Tòa án xét xử quan hệ tranh chấp
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài sản bị hủytương ứng
với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thị (nay thành
phố) D, Công ty Đ1, ông T2 và bà P liên đới bồi thường cho bà X số tiền là
6.237.655.000 đồng”. Tòa án nghị án đến ngày 28/4/2023 thì quay lại phần hỏi để xác
định lại yêu cầu của nguyên đơn: Chi cục Thi hành án dân sthành phố D, Công ty
Đ1, ông T2 bà P phải liên đới bồi thường cho bà X”. Hội đồng xét xử ra Quyết định
tạm ngừng phiên tòa ngày 28/4/2023 để thu thập thêm chứng cứ.
Tại Biên bản phiên tòa ngày 07/6/2023, Tòa án xét xử quan hệ tranh chấp
Tranh chấp về hợp hợp đồng mua bán tài sản đấu giátương ứng với yêu cầu: “X
yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và Công ty Đ1,
ông Trần Quốc T2 Châu Ngọc P liên đới trả cho X giá trị tài sản chênh lệch
là 1.802.000.000 đồng”.
14
Như vậy, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện từ bồi thường thiệt hại sang
tranh chấp hợp đồng mua tài sản bán đấu giá, từ một bđơn thành 04 bị đơn n việc
thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và sau
khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ
luật Tố tụng dân sự “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của
đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu
khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu”.
Cục Thi hành án dân stỉnh Bình ơng rút hồ thi hành án lên để thi hành,
bán tài sản qua đấu giá cho ông Hoàng Ngọc T4 phân phối số tiền bán đấu giá
được. Tòa án cấp thẩm cho rằng ông T2, P hưởng lợi từ số tiền chênh lệch giữa
lần bán tài sản cho ông T4 4.600.000.000 đồng t đồng với lần bán cho X
2.800.000.000 đồng nhưng Tòa án cấp thẩm lại không đưa Cục Thi hành án dân sự
tỉnh Bình Dương tham gia tố tụng để làm rõ việc ông T2, bà P có hưởng lợi hay không
để buộc bồi thường.
+ Giải quyết vụ án chưa triệt để, không đúng yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn:
Nguyên đơn X căn cứ Hợp đồng mua n tài sản bán đấu giá số 69 ngày
30/10/2014 để khởi kiện yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, Công ty
Đ1, ông Trần Quốc T2 Châu Ngọc P liên đới trả cho X giá trị tài sản chênh
lệch 4.618.000.000 đồng - 2.816.000.000 đồng = 1.802.000.000 đồng được Tòa án
thụ quan hệ tranh chấp Tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản đấu giá”. Tòa án
cấp thẩm nhận định tài sản X mua trúng đấu giá được bán cho ông Hoàng
Ngọc T4 nhưng Tòa án không tuyên hủy hợp đồng này.
Ông Trần Quốc T2 Châu Ngọc P không tham gia kết Hợp đồng mua
bán tài sản bán đấu giá số 69 ngày 30/10/2014, nguyên đơn bà X thay đổi yêu cầu về
bồi thường thiệt hại thành trả lại cho X giá trị tài sản chênh lệch Tòa án thụ
quan hệ tranh chấp Tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản đấu giá nhưng Tòa án
cấp thẩm lại tuyên trách nhiệm bồi thường của ông T2 P: Buộc ông Trần
Quốc T2 và bà Châu Ngọc P liên đới bồi thường cho bà V1 Lệ Xuân số tiền
1.802.000.000 đồng” là giải quyết không đúng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Căn cứ phát sinh thiệt hại:
Quyết định giám đốc thẩm số 150/2021/DS-GĐT ngày 11/5/2021 quyết định
hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2016/DS-PT ngày 22/01/2016 của Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Dương, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 73/2015/DS-ST ngày
28/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương. Theo Quyết định giám
đốc thẩm số 150/2021/DS-GĐT ngày 11/5/2021, kết quả bán đấu giá tài sản cho X
hiệu lực. X chưa yêu cầu quan thi hành án giao tài sản mua trúng đấu giá thì
không thể có căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại.
+ Xác định giá trị tài sản thiệt hại không phù hợp:
Sau khi Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2016/DS-PT ngày 22/01/2016 của
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về hủy kết quả đấu giá, hủy Hợp đồng mua bán tài
sản bán đấu giá số 69 ngày 30/10/2014, X đơn khởi kiện bồi thường thiệt hại do
kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy được Tòa án thụ lý ngày 26/10/2016.
15
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa, ngày 30/12/2016, Công ty Đ1 đã trả
cho X toàn bộ số tiền mua tài sản trúng đấu giá 2.816.000.000 đồng. Từ thời
điểm X nhận lại tiền mua trúng đấu giá ngày 30/12/2016 thì không còn phát sinh
thiệt hại bao gồm giá trị chêch lệch phát sinh sau thời điểm này.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm phải xác định giá trị tài sản tại thời điểm
30/12/2016 bao nhiêu thì mới căn cứ tính giá trị i sản chênh lệch so với thời
điểm X mua trúng đấu giá ngày 30/10/2014. Nhưng X lấy giá trị 4.618.000.000
đồng tại thời điểm ông T4 mua trúng đấu giá ngày 11/10/2017 so với thời điểm X
mua trúng đấu giá ngày 30/10/2014 chêch lệch 1.802.000.000 đồng được Tòa án
chấp nhận là không có căn cứ.
Do vậy, căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét
xử chấp nhận kháng o của các bị đơn ông T2, P về hủy bản án thẩm; đình chỉ
xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo bị đơn Công ty Đ1, hủy Bản án dân sự thẩm
số 55/2023/DS-ST ngày 07/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình
Dương và giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ trong hồ sơ ván được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình y của các đương sự,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn có văn bản ủy quyền cho ông
Duy K hoặc ông Văn K1. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Văn K1 vắng mặt
và có đơn đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa do ông Văn K1 bị bệnh, chưa
thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ ánkhông đủ sức khỏe để tham gia phiên tòa; ông
Duy K mặt và yêu cầu hoãn phiên tòaông chưa có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ
án. Xét thấy, đối với ông Văn K1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để
tham gia phiên tòa nhưng ông K1 vẫn vắng mặt không lý do, ông Văn K1 cho rằng
mình bị bệnh, không đủ sức khỏe để tham gia phiên tòa nhưng không chứng cứ
chứng minh ông không đến tham dự phiên tòa vì bị bệnh. Đồng thời, nguyên đơn X
ủy quyền cho ông Hà Văn K1 hoặc ông Duy K, ông Võ Duy K có mặt tại phiên tòa
nên đối với yêu cầu hoãn phiên tòa của ông Văn K1 thì Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt đối với ông n K1. Đối với ông Duy K yêu cầu hoãn do ông
chưa thời gian nghiên cứu hồ vụ án thì không thuộc các trường hợp phải hoãn
phiên tòa theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử không chấp nhận yêu cầu hoãn phiên tòa của người đại diện hợp
pháp nguyên đơn và tiến hành xét xử vắng mặt ông Hà Văn K1.
[2] Đối với yêu cầu kháng cáo của Công ty Đ1: Tại phiên tòa, người đại diện
hợp pháp của Công ty Đ1 đã rút yêu cầu kháng cáo, việc rút kháng cáo hoàn toàn tự
nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của
Công ty Đ1.
[3] Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Kim Đ, ông Hoàng
Ngọc T4 đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; người đại diện hợp pháp của Công ty Cổ
phần T7 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn
vắng mặt không do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những
16
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[4] Tại các Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 56/2012/QĐST-DS, số
57/2012/QĐST-DS, số 58/2012/QĐST-DS ng ngày 30/5/2012, Tòa án nhân dân thị
(nay thành phố ) D, tỉnh Bình Dương đã quyết định ông Trần Quốc T2, Châu
Ngọc P phải trả cho Nguyễn Thị T5, Thị H2, ông Minh T6 tổng số tiền
25.632.400.000 đồng. Do ông T2, bà P không có khả năng trả nợ nên Chi cục Thi hành
án dân sự thị (nay thành phố ) D, tỉnh Bình Dương đã biên tài sản (nhà đất)
của ông T2, P bán đấu giá để thi hành án. Tại Biên bản bán đấu giá tài sản ngày
30/10/2014 thể hiện Vương Lệ X đã mua trúng đấu giá tài sản nêu trên với số tiền
2.816.000.000 đồng. Công ty TNHH Đ1 (nay Công ty Đ1) X đã Hợp đồng
mua bán tài sản bán đấu giá số 69 ngày 30/10/2014 X đã nộp đủ số tiền nêu trên
vào ngày 28/11/2014 nhưng chưa được nhận tài sản mua trúng đấu giá.
[5] Ngày 19/01/2015, ông T2, P đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết
quả bán đấu giá ngày 30/10/2014 tuyên bHợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá
số 69 nêu trên hiệu. Tại Bản án dân sự thẩm số 73/2015/DS-ST ngày 28/9/2015
Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương quyết định không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của ông T2, P. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số
25/2016/DS-PT ngày 22/01/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của ông T2, P, hủy kết quả bán đấu giá tài sản và hủy Hợp
đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 69 ngày 30/10/2014 giữa Công ty Đ1 với X.
[6] Ngày 17/10/2016, X đơn khởi kiện yêu cầu Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố An, tỉnh Bình Dương bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài
sản bị hủy. Tòa án cấp thẩm (tại Bản án dân sự thẩm số 119/2017/DS-ST ngày
31/8/2017), Tòa án cấp phúc thẩm (tại Bản án dân sự phúc thẩm s86/2018/DS-PT
ngày 02/5/2018) và Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh (tại Quyết định giám đốc thẩm số 82/2019/DS-GĐT ngày 04/5/2019) đều căn cứ
Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2016/DS-PT ngày 22/01/2016 của Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Dương để giải quyết vụ án.
[7] Tuy nhiên, tại Quyết định kháng nghị s03/2021/KN-DS ngày 19/01/2021,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản
án dân sự phúc thẩm số 25/2016/DS-PT ngày 22/01/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Dương. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 150/2021/DS-GĐT ngày 11/5/2021,
Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định
chấp nhận Quyết định kháng nghị số 03/2021/KN-DS ngày 19/01/2021 của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2016/DS-PT ngày
22/01/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm
số 73/2015/DS-ST ngày 28/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình
Dương.
[8] Như vậy, Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2016/DS-PT ngày 22/01/2016 của
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án
“Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá bị hủy” giữa nguyên đơn là
Vương Lệ X với bị đơn Chi cục Thi hành án dân sự thị (nay là thành phố ) D,
tỉnh Bình ơng đã bị hủy bỏ. Ngày 30/5/2022, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã
kháng nghị tái thẩm đối với Quyết định giám đốc thẩm số 82/2019/DS-T ngày
04/5/2019 của y ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
17
Minh theo Quyết định kháng nghị tái thẩm số 19/2022/KN-DS. Tại Quyết định tái
thẩm số 27/2022/DS-GĐT ngày 23/8/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao đã chấp nhận kháng nghị, hủy quyết định giám đốc thẩm nêu trên, hủy Bản án
dân sự phúc thẩm số 86/2018/DS-PT ngày 02/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh nh
Dương hủy Bản án dân sự thẩm số 119/2017/DS-ST ngày 31/8/2017 của Tòa án
nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương; giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân thành
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
[9] Khi thụ lại vụ án, thì quan hệ tranh chấp vẫn phải “Tranh chấp về bồi
thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá bị hủy”. Tuy nhiên, Tòa án cấp thẩm căn cứ
vào đơn khởi kiện đơn khởi kiện bổ sung sau khi đã quyết định đưa vụ án ra xét
xử, chấp nhận đơn khởi kiện bổ sung thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác
định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản đấu giá” không
đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, không đúng
yêu cầu khởi kiện.
[10] Do xác định sai quan hệ pháp luật dẫn đến Tòa án cấp thẩm không thu
thập kết quả việc thi hành án đối với Bản án dân sự thẩm số 73/2015/DS-ST ngày
28/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương để làm sau khi
Quyết định giám đốc thẩm số 150/2021/DS-GĐT ngày 11/5/2021 của y ban Thẩm
phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phHồ Chí Minh thì X đã yêu cầu bàn
giao tài sản, thi hành án đối với bản án thẩm nêu trên chưa để m hay không
thiệt hại do không bàn giao được tài sản theo hợp đồng mua bán đấu giá cho X,
lỗi dẫn đến việc không bàn giao tài sản để làm thiệt hại ng như trách nhiệm bồi
thường cho X. Đồng thời, tài sản Vương Lệ X mua theo hợp đồng mua bán
tài sản được công nhận theo Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2015/DS-ST ngày 28/9/2015
của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình ơng đã được Cục Thi hành án dân sự
tỉnh Bình Dương rút hồ thi hành án tiến hành bán đấu giá lại tài sản. Nvậy,
Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương phải tham gia tố tụng với cách người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng Tòa án cấp thẩm nhận định không đưa vào
tham gia tố tụng là vi phạm khoản 6 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[11] Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp thẩm thu thập chứng cứ
chưa được thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự vi phạm
nghiêm trọng về thủ tục tố tụng nên Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
[12] Đề nghị người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông T2, bà P là
có căn cứ.
[13] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên
tòa là phù hợp.
[14] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy bản án thẩm nên người kháng cáo
không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148; khoản 3 Điều 308; Điều 312, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
18
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của Công ty Đ1.
2. Chấp nhận kháng cáo của ông Trần Quốc T2, bà Châu Ngọc P.
3. Hủy Bản án dân sự thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2023
của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Chuyển hồ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trần Quốc T2,Châu Ngọc PCông ty Đ1 không phải chịu.
Hoàn tr cho Trần Quốc T2, Châu Ngọc P mỗi người s tiền 300.000 đng
(ba trăm ngàn đồng) tm ứng án phí đã nộp ti Biên lai thu tm ng án phí, l phí Tòa
án s 0006556 s 0006557 cùng ngày 20 tháng 6 năm 2023 ca Chi cc Thi hành
án dân s thành phố D, tỉnh Bình Dương (do bà Đào Thị T3 nộp thay).
Hoàn trả cho Công ty Đ1 số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng
án phí đã nộp tại Biên lai thu tm ng án phí, l phí Tòa án s 0006584 ngày 26 tháng
6 năm 2023 của Chi cục Thi hành dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dương (do ông
Huỳnh Thanh H1 nộp thay).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- Chi cục THADS thành ph D;
- TAND thành ph D;
- Các đương sự;
- Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.
Tải về
Bản án số 489/2023/DS-PT Bản án số 489/2023/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất