Bản án số 484/2026/DS-PT ngày 30/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 484/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 484/2026/DS-PT ngày 30/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 484/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lương Văn H kiện yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 484/2026/DS-PT Bản án số 484/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 484/2026/DS-PT Bản án số 484/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số:484/2026/DSPT
Ngày: 30/9/2026
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huyền
Các Thẩm Phán: Bà Đặng Thị Thu Hằng và bà Nguyễn Thị My My
- Thư k phiên ta: Ông Phạm Quang –Thẩm tra viên, Ta án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên ta: Bà Trương
Thị Bích Thuỷ - kiểm sát viên
Trong các ngày 08 và 30/9/2026 tại trụ sở Ta án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:194/2026/TLPT-DS, ngày 15 tháng
7 năm 2026 về vic: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”;
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2026/DSST ngày 30/3/2026 của Toà án nhân
dân khu vực 7- Đắk Lắk bị kháng cáo
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sô: 414/2026/QĐXXPT-DS ngày 17 tháng
8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số:456/2026/QĐ-PT ngày 08 tháng 9 năm
2026 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; Giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ông Lương Văn H, sinh năm 1975 và bà Lê Thị P1, sinh năm
1970. Nơi cư trú: Thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
Đại din theo ủy quyền của ông Lương Văn H: Bà Lê Thị P1, sinh năm 1970.
Nơi cư trú: Thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk, theo văn bản ủy quyền số công chứng 817,
quyển số 02/2025 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/02/2025 tại Văn phng C2; Có mặt
2.Bị đơn: Bà Trần Thị Thanh N, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Số nhà E đường
T, thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1.Anh Nguyễn Trần Anh Q, sinh năm 1989 và chị Huỳnh Ngọc Bảo T, sinh
2
năm 1993. Nơi cư trú: Thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk
3.2.Anh Nguyễn Trần Ái Q1, sinh năm 1995.
3.3.Chị Nguyễn Trần Phúc Q2, sinh năm 1997.
Cùng nơi cư trú: Thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
3.4.Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1930. Nơi cư trú: Thôn A, xã V, thành phố Đà
Nẵng.
Đại din theo ủy quyền của anh Nguyễn Trần Anh Q, anh Nguyễn Trần Ái Q1,
chị Nguyễn Trần Phúc Q2 và bà Nguyễn Thị L: Bà Trần Thị Thanh N. Nơi cư trú:
Số nhà E đường T, thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
3.5.Bà Ngô Thị M, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
Vắng mặt
4.Người làm chứng:
4.1.Bà H’ Buăt Mlô, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Buôn M, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
Vắng mặt
4.2.Bà H’ Mon Mlô, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Buôn M, xã E, tỉnh Đắk
Lắk.Vắng mặt
4.3.Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn I, xã E, tỉnh Đắk
Lắk.Vắng mặt
4.4.Ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Thôn F, xã E, tỉnh Đắk
Lắk. Vắng mặt
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị P1; Bị đơn bà Trần Thị thanh N
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 29/11/224 và tại các lời khai trong quá trình thu
thập chứng cứ, cũng như tại phiên toà nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn ông Lương Văn H là bà Lê Thị P1 trình bày:
Vào ngày 09 tháng 02 năm 2001 ông Nguyễn Thành T1 (chồng của bà Trần
Thị Thanh N) có chuyển nhượng cho ông Lương Văn H và bà Lê Thị P1 01 lô đất
thổ cư có chiều ngang theo mặt đường T là 5,5m và chiều dài 25m, với tổng din
tích 137,5m
2
, với giá chuyển nhượng là 9,5 chỉ vàng loại 24k/1m ngang, thành tổng
số tiền là 52,25 chỉ vàng 24k. Tại thời điểm chuyển nhượng ông H đã trả cho ông
T1 được 4 cây vàng 24k (40 chỉ), số vàng cn nợ lại 12,25 chỉ vàng 24k hai bên thỏa
thuận hẹn khi nào xong sổ đỏ (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) sẽ trả đủ số vàng
cn lại cho ông T1 và ông Nguyễn Thành T1 phải chịu giấy tờ sang nhượng. Sau khi
giao đủ 40 chỉ vàng 24k thì các bên xác lập giấy sang nhượng viết tay ghi ngày
09/02/2001 và ông Nguyễn Thành T1 với ông Lương Văn H ký xác nhận giấy sang
nhượng đất thổ cư. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng din tích đất trên của ông T1
đã có quyết định giao đất nhưng chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất (giấy CNQSD đất) theo quy định.
3
Sau khi nhận chuyển nhượng ông H, bà P1 đã xây nhà cấp 4 và công trình phụ
(giáp hàng rào bà H B), rồi sinh sống từ đó cho đến nay. Năm 2005 bà N bán phần
đất phía sau mới mua của ông Y B1 cho bà P1 với giá là 12,25 chỉ vàng 24k, khoảng
03 ngày sau bà P1 mang tiền sang trả cho bà N tương ứng với 12,25 chỉ vàng 24k,
khi trả tiền không viết giấy nhận tiền, bà N nói sau này xong giấy tờ em trả số vàng
cn nợ 12,25 chỉ vàng là được và khi trả tiền bà P1 cũng không nhớ giá vàng tại thời
điểm trả có giá bao nhiêu tiền 01 chỉ và cũng không nhớ trả cho bà N là bao nhiêu
tiền. Vic mua phần din tích đất phía sau chỉ nói bằng ming, không viết giấy tờ gì.
Năm 2010 bà N lấy phần din tích đất phía sau đã hứa bán cho bà P1 để làm
quán cà phê nên đã xảy ra tranh chấp và gia đình bà P1 đã làm đơn gửi đến UBND
thị trấn E giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng với bà N. Tại buổi làm
vic ngày 26/03/2010, bà N có ý kiến "Khi nào tôi lấy bìa bên ngân hàng lúc đó tôi
mới tách bìa cho chị P1 và cũng dựa theo giấy tờ mua bán đất k vào ngày
09/02/2001" nên bà P1, ông H đã rút đơn về để hai bên gia đình thỏa thuận, nhưng
từ đó đến nay bà N vẫn không làm thủ tục tách thửa sang tên cho bà P1, ông H. Vì
vậy, ông Lương Văn H và Lê Thị P1 khởi kin yêu cầu Ta án giải quyết:
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày
09/02/2001 tại giấy sang nhượng đất thổ cư giữa ông Nguyễn Thành T1 và ông
Lương Văn H đối với din tích đất là 137,5m
2
đất thổ cư (chiều ngang theo mặt
đường T có cạnh dài 5,5m và chiều dài 25m) thuộc một phần thửa số 222, tờ bản đồ
số 94, địa chỉ thửa đất tọa lạc tại thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Din tích đất có tứ cận
như sau: Phía Đông giáp ông Y B1; Phía Tây giáp đường tỉnh lộ (T); Phía Nam giáp
nhà ông S (nay đất ông K); Phía Bắc giáp phần đất cn lại của ông T1. Nếu din tích
đất chuyển nhượng không đủ 137,5m
2
đất thổ cư thì yêu cầu bà N phải trả lại cho gia
đình bà P1 số tiền chuyển đổi mục đất sang đất thổ cư.
- Buộc bà Trần Thị Thanh N phải tiếp tục thực hin hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông Lương Văn H với ông Nguyễn Thành T1 và yêu cầu bà
N thực hin vic tách thửa, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đúng với thửa đất
chuyển nhượng cho bà P1, ông H.
* Đối với yêu cầu khởi kin phản tố ngày 13/01/2025 và khởi kin phản tố bổ
sung ngày 20/3/2025 của bị đơn bà Trần Thị Thanh N thì phía nguyên đơn không
chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà N.
Đối với din tích đất 5.4m
2
theo kết quả đo ngày 30/7/2025 của Công ty cổ
phần Đ1 thể hin din tích đất trên thuộc một phần thửa đất số 249, tờ bản đồ số 24
cấp ngày 31/7/2009 cho bà Trần Thị Thanh N và thay đổi cơ sở pháp lý tặng cho
ông Nguyễn Trần Anh Q và bà Huỳnh Ngọc Bảo T ngày 19/01/2024. Nay bà T ông
Q yêu cầu bà P1 ông H trả lại din tích đất trên thì bà P1 không đồng ý, vì gia đình
bà P1 đã sử dụng din tích đất này từ năm 2001 trước khi bà N được cấp bìa đỏ vào
năm 2009.
* Bị đơn và đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan anh Nguyễn Trần Anh Q, anh Nguyễn Trần Ái Q1, chị Nguyễn Trần Phúc
Q2 và bà Nguyễn Thị L là bà Trần Thị T2 trình bày:
4
Vào ngày 09/02/2001, chồng bà Trần Thị Thanh N là ông Nguyễn Thành T1
(tên thường gọi là L1 đã chết năm 2005) có chuyển nhượng cho ông Lương Văn H
một lô đất tại khối D, thị trấn E din tích đất chiều rộng theo đường Trần Phú dài
5,5m, chiều dài 25m tính từ mép đường nhựa vào với giá chuyển nhượng là 9,5 chỉ
vàng loại 24k/1m ngang thành số vàng là 52,25 chỉ vàng. Khi bán đất ông H đã trả
cho ông T1 được 40 chỉ vàng lại 24k, ông H cn nợ lại 12,25 chỉ vàng24k, trong
giấy chuyển nhượng ông T1 thỏa thuận chi phí chuyển nhượng do ông T1 chịu và
số vàng cn lại hẹn đến khi nào xong thủ tục giấy tờ ông H giao đủ cho ông T1. Tại
thời điểm ông Trung chuyển N1 đất thì din tích đất trên thuộc một din tích đất
được cấp theo quyết định cấp đất số 362/QĐ-UB ngày 28/12/1991 của UBND huyn
E cấp cho ông Nguyễn Thành T1, có din tích 1000m
2
đất làm nhà ở nhưng chưa
được Nhà nước cấp giấy CNQSD đất theo quy định.
Ngày 01/11/2001, ông T1 có đơn xin đăng ký cấp giấy CNQSD đất, đến ngày
31/12/2001 UBND huyn E có quyết định số 468/QĐ-UB về vic thu hồi Quyết định
giao đất số 362/QĐ-UBND, đồng thời ban hành quyết định số 467/QĐ-UB về vic
cấp giấy CNQSD đất thửa đất số 59, tờ bản đồ 24 với din tích 635m
2
, mục đích sử
dụng là khu dân cư và đã được UBND huyn E cấp giấy CNQSD đất số P0 413601
cấp cho hộ Nguyễn Thành T1, với din tích 635m
2
, trong đó có 400m
2
đất ở và
235m
2
đất màu. Năm 2005 ông T1 bị bnh chết không để lại di chúc, bà N đã làm
thủ tục thừa kế do người chết để lại, đến ngày 25/01/2007 UBND huyn E cấp giấy
CNQSD đất số AG 679937 đất thửa đất số 59, tờ bản đồ 24 với din tích 635m
2
;
mục đích sử dụng đất: 400m
2
ODT và 235m
2
CHN cấp cho bà Trần Thị Thanh N.
Đến năm 2010 bà P1, ông H làm đơn gửi đến UBND thị trấn E và tại UBND
thị trấn E bà N có ý kiến hin tại bìa đang thế chấp Ngân hàng khi nào lấy về bà N
cắt đất cho ông H, bà P1 theo giấy sang nhượng đất lập ngày 09/02/2001 của bác L1
nhưng không biết din tích đất cụ thể là bao nhiêu.
Năm 2024 bà N làm thủ tục đo đạt để làm thủ tách đất thì din tích đất sử dụng
trên tích tế nhiều hơn so với giấy CNQSD đất được cấp nên bà N đã làm thủ tục
đăng ký biến động đã được UBND huyn E cấp giấy CNQSD đất số DQ679633, cấp
ngày 05/11/2024, thửa đất số 222, tờ bản đồ 94, din tích 730 m
2
, loại đất: 400 m
2
đất ở đô thị và đất trồng cây hàng năm khác là 330,5m
2
. Sau khi được cấp lại giấy
CNQSD đất từ tháng 6/2024 bà N đã nhiều lần liên lạc với ông H, bà P1 đến để làm
thủ tục tách thửa nhưng ông H bà P1 cứ hẹn mãi. Khoảng tháng 11/2024 hai bên gia
đình cùng với Công ty Đ1 đến để đo đạc lại din tích đất thì bà P1 yêu cầu tôi phải
tách 137,5 m
2
đất thổ cư và bà P1 muốn tôi tách hết chiều dài theo Giấy CNQSD đất
số DQ 679633, thửa đất số 249, tờ bản đồ số 94 đứng tên con trai tôi là Nguyễn Trần
Anh Q và chị Huỳnh Ngọc Bảo T có nguồn gốc tôi mua của bà H' Bruat Mlô vào
ngày 16/06/2006) và din tích đất sử dụng chiều ngang nhiều hơn so với giấy sang
nhượng nên đã xảy ra tranh chấp. Nay ông H, bà P1 khởi kin thì bị đơn đề nghị Ta
án giải quyết đối với các yêu cầu sau:
1. Đối với yêu cầu khởi của ông H, bà P1 về vic yêu cầu công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 09/02/2001 tại giấy sang nhượng
đất thổ cư giữa ông Nguyễn Thành T1 và ông Lương Văn H, có chiều dài 25m tính
5
từ mép đường nhựa Trần P kéo vào, chiều rộng 5,5m. Din tích có tứ cận như sau:
Phía Đông giáp đất bà H Bruat M1 (ông Y B1), có cạnh dài 5,5m; phía Tây giáp
đường T có cạnh dài 5,5m; Phía Nam giáp đất ông K (trước đây là đất ông S) có
cạnh dài 25m; phía Bắc giáp phần đất cn lại của bà N và tiếp tục thực hin hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Thành T1 với ông Lương
Văn H thì bà N đồng ý. Đối với yêu cầu khởi kin đề nghị công nhận din tích
137,5m
2
đất thổ cư thuộc một phần thửa đất số 222, tờ bản đồ 94, din tích cấp 730
m
2
theo giấy CNQSD đất số DQ679633, cấp ngày 05/11/2024 thì bà N không đồng
ý.
2. Đối với nội dung khởi kin phản tố ngày 23/12/2024 và đơn khởi kin phản
tố bổ sung ngày 03/3/2025 bà N yêu cầu Ta án giải quyết:
+ Buộc ông Lương Văn H, bà Lê Thị P1 có trách nhim trả lại cho bà N giá
trị phần din tích đất chuyển nhượng chưa thanh toán theo giá thị trường tương ứng
với số vàng cn nợ lại 12,25 chỉ vàng 24k.
+ Buộc ông H, bà P1 trả lại cho bà N din tích bị lấn chiếm theo kết quả đo
đạc ngày 30/7/2024 của Công ty Đ1 có chiều ngang theo mặt đường T 0,41 mét
ngang (din tích 7,2m
2
). Đồng thời yêu cầu bà P1 ông H phải tháo dỡ toàn bộ tài sản
xây dựng trên đất để trả lại hin trạng đất cho bà N.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Ngọc Bảo T trình bày:
Theo biên bản thẩm định giá và theo kết quả đo ngày 30/7/2025 của Công ty cổ phần
Đ1 thể hin din tích 5,4m
2
đất mà ông H, bà P1 đang sử dụng là thuộc một phần
thửa đất số 249, tờ bản đồ số 24 cấp cho bà Trần Thị Thanh N, cấp ngày 31/7/2009
và thay đổi cơ sở pháp lý ngày 19/01/2024 tặng cho ông Nguyễn Trần Anh Q và bà
Huỳnh Ngọc Bảo T. Do đó tôi đề nghị Ta án căn cứ các quy định của pháp luật
buộc bà P1 ông H trả lại phần din tích đất lấn chiếm thuộc quyền sở hữu của gia
đình tôi.
Ý kiến của những người làm chứng:
* Bà Ngô Thị M trình bày: Bà M là vợ của ông Lê Xuân K (đã chết), gia đình
bà M sống giáp ranh với đất của ông H, bà P1 sử dụng ổn định từ năm 2015 đến nay
vẫn nguyên hin trạng, không tranh chấp. Nay bà M đã già không thể tham gia tố
tụng tại phiên ta được nên bà M từ chối tham gia tố tụng và xin xét xử vắng mặt.
* Ông Nguyễn Quang C trình bày: Vào năm 2001 ông C là khối trưởng khối
D, thị trấn E nên vào ngày 09/02/2001 ông C có xác nhận dưới mục đại din ban tự
quản khối 4 có nội dung: “Theo giấy sang nhượng là đúng thực tế, hin tại lô đất
không tranh chấp, kính chuyển cấp có thẩm quyền tạo điều kin cho hai chủ ghi
trong giấy, ghi ngày 09/02/2001” và chữ ký, chữ viết Nguyễn Văn C1 do ông C1
trực tiếp ký và viết ra. Tại thời điểm ký giấy xác nhận cho đến nay do thời gian đã
lâu ông C1 không nhớ là do ông Lương Văn H hay ông Nguyễn Thành T1 đưa đến
để ông C1 ký xác nhận. Ngoài những nội dung trên ông C1 không chứng kiến gì
thêm.
* Ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Vào tháng 4/2025 ông Đ có thuê nhà của
ông H tại thôn F, xã E để bán xe máy. Phần din tích đất này thuộc thửa đất nào thì
6
ông Đ không biết nhưng ông chỉ biết din tích đất này đang tranh chấp giữa ông H
và bà N. Vic ông Đ thuê đất của ông H, bà P1 chỉ thỏa thuận bằng ming, không
lập hợp đồng, không thỏa thuận thời gian thuê, ông chỉ thuê đến khi nào ông H cần
sử dụng thì ông trả lại, khi tôi thuê thì nhà và công trình phù của ông H đã xây sẵn
tôi không xây dựng hay sửa chữa gì thêm. Vic tranh chấp của các bên tôi không
liên quan nên không có ý kiến gì.
* Bà H’ Buăt Mlô trình bày: Vic ông T1 bán đất cho ông H như thế nào bà
không chứng kiến, ông H đến ở đó năm nào thì bà cũng nhớ. Một thời gian sau ông
H có hỏi mua thêm phần đất phía sau giáp ranh với đất nhà tôi nhưng tôi không bán.
Năm 2008 bà N có mượn phần đất của tôi giáp với đất ông H để xây nhà cho nhân
viên ở và làm nhà pha chế. Năm 2009 bà H’ Buăt bán phần din tích đất cn lại cho
bà N, sau khi bán đất đến năm 2010 bà H’ Buăt mới chuyển đến chỗ đang ở hin tại
để sinh sống. Tại thời điểm bán đất phần đuôi cho bà N thì din tích đất của tôi chưa
được cấp bìa, vẫn sử dụng ổn định, không bị tranh chấp. Vic tranh chấp đất giữa bà
N, ông H, bà P1 như thế nào tôi thì tôi không biết, không liên quan.
* Bà H Mon Mlô trình bày: Bà H M2 là con gái ruột của bà H’ Buăt Mlô, vic
mua bán đất giữa mẹ tôi với bà Trần Thị Thanh N như thế nào thì tôi không nhớ cụ
thể, giấy tờ biên nhận tiền sang nhượng tiền ghi ngày 16/06/2006 do bà N cung cấp
là chữ ký của tôi nên tôi xác nhận là đúng. Vic mua bán đất giữa mẹ tôi bà H’ Buăt
với bà N đã thanh toán xong, không tranh chấp gì nên không liên quan gì đến tôi nên
tôi từ chối tham gia tố tụng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2026/DSST ngày 30/3/2026 của TAND
khu vực 7- Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39,
khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều
165, Điều 203; Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 118 bộ luật dân sự năm 1995; Điều 117, 129 Bộ luật dân sự năm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2024;
Điều 75 Luật đất đai năm 1993; Điều 27 và Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về án phí, l phí Ta án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kin của ông Lương Văn H và bà Lê Thị
P1.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giấy sang nhượng
đất thổ cư) lập ngày 09/02/2001 giữa ông Lương Văn H và ông Nguyễn Thành T1
với din tích là 84,20m
2
trong đó có 60 m
2
đất ở đô thị và 24,20m
2
đất trồng cây
hàng năm khác thuộc một phần thửa đất số 222, tờ bản đồ 94 theo giấy CNQSD đất
số DQ 679633 do UBND huyn E cấp ngày 05/11/2024 cấp cho bà Trần Thị Thanh
N; Din tích đất có tứ cận như sau: Phía Tây theo đường T có cạnh dài 5,5m ngang
(từ điểm 7+22); Phía Bắc có cạnh dài là 17,59m (từ điểm 22+23+24+25+26); Phía
7
Đông có cạnh dài là 5,06m (từ điểm 25+4); Phía Nam có cạnh dài là 16,14m (từ
điểm 3+4+5+6+7). Địa chỉ thửa đất tại thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
- Buộc bà Trần Thị Thanh N phải tiếp tục thực hin hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông Lương Văn H và ông Nguyễn Thành T1 với din tích là
84,20m
2
trong đó có 60 m
2
đất ở đô thị và 24,20m
2
đất trồng cây hàng năm khác
thuộc một phần thửa đất số 222, tờ bản đồ 94 theo giấy CNQSD đất số DQ 679633
do UBND huyn E cấp ngày 05/11/2024 cấp cho bà Trần Thị Thanh N. Địa chỉ thửa
đất tại thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
Các bên có tên trên có trách nhim liên h với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
làm thủ tục chuyển nhượng, đăng ký biến động theo quy định của pháp luật về đất
đai.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn về vic công nhận 77,5
m
2
đất thổ cư theo giấy sang nhượng lập ngày 09/02/2001.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố và yêu cầu phản tố bổ sung của bị đơn.
Buộc ông Lương Văn H và bà Lê Thị P1 phải có trách nhim trả cho bà Trần
Thị Thanh N số vàng cn nợ 12,25 chỉ vàng 24k và số tiền chênh lch giá là
149.682.286đ (một trăm bốn mươi chín triệu sáu trăm tám mươi hai nghìn hai trăm
tám mươi sau đồng).
4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Thanh N. Buộc ông Lương Văn
H và bà Lê Thị P1 phải trả cho bà Trần Thị Thanh N din tích đất lấn chiếm 7,2 m
2
đất trồng cây hàng năm khác thuộc một phần thửa đất số 222, tờ bản đồ 94 theo giấy
CNQSD đất số DQ 679633 do UBND huyn E cấp ngày 05/11/2024 cấp cho bà Trần
Thị Thanh N; Din tích đất có tứ cận như sau: Phía Tây có cạnh dài 0,4m ngang (từ
điểm 22+15); Phái Bắc có cạnh dài là 19,11m (từ điểm 15+16+17+18+19); P có
cạnh dài là 0,45m (từ điểm 26+19); Phía Nam có là 17,59m (từ điểm
22+23+24+25+26). Buộc ông H, bà P1 có trách nhim tháo dỡ các công trình xây
dựng trên đất để trả lại hin trạng đất cho bà N.
5.Về Quyết định áp dụng bin pháp khẩn cấp tạm thời: Tiếp tục duy trì Quyết
định áp dụng bin pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2024/QĐ – ADBPKCTT, ngày
20/12/2024 của Ta án nhân dân huyn Ea Kar (nay Ta án nhân dân khu vực 7 –
Đắk Lắk). Quyết định này có thể bị hủy bỏ khi có một trong các căn cứ quy định tại
Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngoài ra bản án cn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của
các đương sự.
-Ngày 17/4/2026 nguyên đơn bà Lê Thị P1 kháng cáo, đề nghị HĐXX cấp phúc
thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng: Buộc bị đơn bà Trần Thị Thanh N phải bồi thường
cho bà din tích đất cn thiếu so với hợp đồng mua bán, quy đổi ra giá trị đất tại thời
điểm hin tại là 77,5m
2
x 254.161.000đ/m
2
= 1.949.977.500đ; Huỷ một phần
GCNQSD đất tại thửa 223, tờ bản đồ số 94 với din tích 5,4m
2
đất đã cấp cho bà
Trần Thị Thanh N ( thay đổi cơ sở pháp lý cho tặng bà Huỳnh Ngọc Bảo T, ông
Nguyễn Trần Anh Q); bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Thanh N.
8
- Ngày 12/4/2026 bị đơn bà Trần Thị Thanh N kháng cáo yêu cầu HĐXX cấp
phúc thẩm sửa án dân sự sơ thẩm theo hướng: Xác định tại thời điểm chuyển nhượng
QSD đất giữa các bên din tích đất chuyển nhượng chưa được xác định là đất ở; Do
đó, đề nghị buộc nguyên đơn thanh toán hoàn trả cho bị đơn giá trị chênh lch đối
với 60m
2
đất ở theo giá thị trường tại vị trí đất nên trên đơn giá 6.100.000đ/m
2
, tương
ứng số tiền 366.000.000đ; Buộc nguyên đơn trả lại phần din tích đất 9,2 m
2
.
Tại phiên toà phúc thẩm:
-Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kin và kháng cáo.
-Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo.
-Đại din Vin kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:
+Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng
xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã chấp hành đúng
quy định về quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.
+Về nội dung vụ án: Nguyên đơn, Bị đơn kháng cáo không cơ sở chấp nhận
nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
ta, căn cứ vào tài liu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên ta, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, Bị đơn kháng cáo trong hạn luật định và
đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm trong hạn luật định; Căn cứ Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định
về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lphí Ta án và
khoản 1 Điều 273 của BLTTDS năm 2025 là kháng cáo hợp l được xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị P1, bị đơn bà Trần Thị Thanh
N, HĐXX phúc thẩm thấy rằng:
[2.1] Đối với kháng cáo của Nguyên đơn bà Lê Thị P1:
[2.1.1]Buộc bị đơn bà Trần Thị Thanh N phải bồi thường diện tích đất
thổ cư còn thiếu so với hợp đồng mua bán: 77,5m
2
x 25.161.000đ/m
2
=
1.949.977.500đ; Thấy rằng:
Tại quyết định số: 362/QĐ-UB ngày 28/12/1991 của UBND huyên E giao đất
cho ông Nguyễn Thành T1 thể hin 1.000m
2
đất làm nhà ở; Ngày 09/02/2001 giữa
ông Nguyễn Thành T1 và ông Lương Văn H lập “ Giấy sang nhượng đất thổ cư”, có
xác nhận của ban tự quản khối 4, thị trấn E (nay thôn F, xã E); Din tích đất chuyển
nhượng là một phần din tích đất đã được UBND huyên Ea Kar giao đất theo Quyết
định số 362/QĐ-UB ngày 28/12/1991. Mặc dù thực tế bà N không trực tiếp ký xác
lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng quá trình giải quyết vụ án bà
P1 với bà N đã thừa nhận có vic chuyển nhượng din tích đất này;Vị trí đất: chiều
ngang theo mặt đường T có cạnh dài 5,5m và chiều dài 25m; tọa lạc tại khối D, thị
9
trấn E cũ ( nay là thôn F, xã E), có tứ cận như sau: Phía Đông giáp bà H B; Phía Tây
giáp đường tỉnh lộ (T); Phía Nam giáp nhà ông S (nay là đất ông K); Phía Bắc giáp
phần đất cn lại của ông T1.
Như vậy, ý chí tại thời điểm các bên chuyển nhượng thể hin đất thổ cư là trên
cơ sở Quyết định số:362/QĐ-UB ngày 28/12/1991; Sau khi nhận chuyển nhượng
ông H, bà P1 đã xây nhà cấp 4 sinh sống từ đó cho đến nay;
Ngày 01/11/2001, ông T1 có đơn xin đăng ký cấp giấy CNQSD đất, đến ngày
31/12/2001 UBND huyn E ban hành quyết định số 468/QĐ-UB về vic thu hồi
Quyết định giao đất số 362/QĐ-UBND, đồng thời ban hành quyết định số 467/QĐ-
UB về vic cấp giấy CNQSD đất thửa đất số 59, tờ bản đồ 24 với din tích 635m
2
,
mục đích sử dụng là khu dân cư và đã được UBND huyn E cấp giấy CNQSD đất
số P0 413601 cấp cho hộ Nguyễn Thành T1, với din tích 635m
2
, trong đó có 400m
2
đất ở và 235m
2
đất màu. Như vậy, so với quyết định số 362/QĐ-UB ngày 28/12/1991
của UBND huyên E giao đất cho ông Nguyễn Thành T1 thể hin 1.000m
2
đất làm
nhà ở thì din tích đất ở chỉ 400m
2
.
Tại Công văn số: 2037 ngày 03/6/2025 của Sở xây dựng tỉnh Đ xác định tại
Quyết định số: 2483/QĐ-UB, ngày 24/10/1998 của UBND tỉnh Đ thì điểm đầu tại
thị trấn huyn E (K) điểm cuối tại thị trấn huyn K theo tiêu chuẩn nền đường rộng
7,5m, mặt nhựa rộng 5,5m, lề rộng 1mx2 bên) và theo bản đo vẽ ngày 30/7/2025 của
Công ty cổ phần Đ1 thể hin din tích đất chuyển nhượng chiều ngang đường T có
cạnh dài 5,5 m, chiều dài tính từ giáp lề có cạnh dài 25m; Cấp sơ thẩm đã chấp nhận
cho nguyên đơn din tích đất 60m
2
ở đô thị. Tuy nhiên, xét kết quả định giá đo vẽ
ông H, bà P1 xây nhà trên đất có din tích 64m
2
nên cần công nhận din tích đất ở
bằng din tích đã xây dựng nhà là phù hợp, nên cần sửa bản án sơ thẩm về công nhận
din tích đất ở là 64m
2
. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo
của nguyên đơn bà Lê Thị P1 buộc bị đơn bà Trần Thị Thanh N phải bồi thường cho
nguyên đơn din tích đất ở có din tích 77,5m
2
x 25.162.000đ = 1.949.977.500đ.
[2.1.2] Huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số
233, tờ bản đồ số 94 với diện tích 5,4m
2
đã cấp cho bà Trần Thị Thanh N (thay
đổi cơ sở pháp lý cho tặng bà Huỳnh Ngọc Bảo T và ông Nguyễn Trần Anh Q);
Thấy rằng:
Tại phiên toà sơ thẩm: chị Huỳnh Ngọc Bảo T yêu cầu ông Lương Văn H, bà
Lê Thị P1 trả lại cho anh Q, chị T din tích đất lấn chiếm 5,4m
2
thuộc một phần thửa
đất số 249, tờ bản đồ số 24 cấp ngày 31/7/2009 và thay đổi cơ sở pháp lý ngày
19/01/2024 tặng cho anh Nguyễn Trần Anh Q và chị Huỳnh Ngọc Bảo T: Tuy nhiên,
Chị T anh Q không có đơn yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết
trong vu án; Đồng thời, tại cấp sơ thẩm nguyên đơn bà Lê Thị P1 cũng không yêu
cầu Toà giải quyết huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nên nội dung
kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị P1 yêu cầu: Huỷ một phần GCNQSDĐ tại thửa
đất số 233, tờ bản đồ số 94 với din tích 5,4m
2
đã cấp cho bà Trẩn Thị Thanh N2
(thay đổi cơ sở pháp lý cho tặng bà Huỳnh Ngọc Bảo T và ông Nguyễn Trần Anh
Q) cấp phúc thẩm không xem xét.
10
[2.1.3]Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Thanh N; Thấy
rằng:
+. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải thanh toán giá
trị chênh lch giá đối với số vàng cn lại của hợp đồng theo giá trị thị trường tại thời
điểm xét xử. HĐXX xét thấy: Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông H và ông
T1 đã thống nhất giá trị thửa đất chuyển nhượng là 50,25 chỉ vàng 24k. Ông H đã
trả trước cho ông T1 số vàng là 40 chỉ và cn nợ lại 12,25 chỉ vàng 24k. Trong hợp
đồng các bên có xác định thời hạn trả số vàng cn lại sau khi có giấy CNQSD đất sẽ
trả đủ số vàng cn lại cho ông T1 và ông T1 phải chịu giấy tờ sang nhượng; Tuy
nhiên, sau khi có giấy CNQSDĐ ông T1 là người vi phạm nghĩa vụ không làm thủ
tục sang tên mà đồng thời lại đem GCNQSD Đ thế chấp vay vốn Ngân hàng nên đến
nay các bên vẫn chưa tiến hành các thủ tục theo quy định; Cấp sơ thẩm cho rằng các
bên có lỗi ngang nhau nên ông H bà P1 phải chịu ½ phần lỗi và bà N chịu lỗi ½ và
tính giá trị chênh lch về giá đối với số vàng chưa trả theo chứng thư thẩm định giá
của Công ty cổ phần T3 ngày 30/10/2025 xác định thửa đất số 222 din tích 84,20m
2
có
giá trị là 2.118.556.200 đồng. Khi nhận chuyển nhượng nguyên đơn đã thanh toán
số vàng 40 chỉ/52,25 chỉ vàng 24k, tương ứng tỷ l 76,56%. Cn lại giá trị phần trăm
mà nguyên đơn cn phải thực hin với bị đơn là 23.44%. Như vậy, giá trị chênh lch
tài sản là 2.118.556.200 đồng x 23.44% = 496.589.573 đồng – 12,25 chỉ vàng loại
24k (giá vàng tại thời điểm xét xử 16.100.000đ/chỉ, thành tiền 197.225.000đ) =
299.364.573đ/2 và quyết định nguyên đơn ông H, bà P1 phải trả giá trị tài sản chênh
lch giá cho bị đơn bà Trần Thị Thanh N số tiền là 149.682.286đ (một trăm bốn
mươi chín triệu sáu trăm tám mươi hai nghìn hai trăm tám mươi sau đồng) là không
có căn cứ chấp nhận; Do đó, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn sửa án sơ thẩm
chấp nhận một phần phản tố của bị đơn bà Trần Thị Thanh N buộc nguyên đơn phải
trả số vàng cn nợ lại là 12,25 chỉ vàng 24k (giá vàng tại thời điểm xét xử
16.100.000đ/chỉ, thành tiền 197.225.000đ), bác một phần yêu cầu phản tố của bị đơn
về vic yêu cầu nguyên đơn phải thanh toán giá trị chênh lnh là số tiền 149.682.286đ
(Một trăm bốn mươi chín triệu sáu trăm tám mươi hai ngàn hai tăm tám sáu đồng).
+. Đối với yêu cầu phản tố về vic yêu cầu buộc bà P1, ông H trả lại cho bà N
din tích lấn chiếm chiều ngang theo mặt đường T có cạnh dài 0,4 mét ngang với
din tích 7,2m
2
. HĐXX thấy: Quá trình thu thập chứng cứ các bên đều thừa nhận
kích thước chiều ngang theo đường T có cạnh 5,5 m ngang nhưng theo kết quả đo
đạc của Công ty cổ phần Đ1 ngày 30/7/2025 thể hin din tích đất ông H, bà P1 sử
dụng trên thực tế theo giấy CNQSD đất số DQ 679633, thửa đất số 222, tờ bản đồ
94 có cạnh ngang 5,9m nhiều hơn din tích đất chuyển nhượng là 0,4m ngang. Có
tứ cận như sau: Phía Tây theo đường T có cạnh dài 5,9m ngang (từ điểm 7+22+15),
cạnh dài hướng Bắc là 19,11m (từ điểm 15+16+17+18+19); cạnh dài hướng Đông
là 5,51m (từ điểm 3+26+19);cạnh dài hướng Nam là 16,14m (từ điểm 3+4+5+6+7)
với tổng din tích 91,5m
2
, nhiều hơn phần din tích đất đã được công nhận là 7,2m
2
;
Xét thấy, ngay sau khi nhận chuyển nhương các bên đã tiến hành giao nhận đất,
nguyên đơn xây dựng nhà kiên cố, ổn định trên toàn bộ din tích nhưng bị đơn không
ý kiến, phản đối. Như vậy, có căn cứ xác định mặc dù kích thước chiều ngang các
bên lập văn bản thoả thuận ít hơn so với kích thước chiều ngang giao nhận thực tế
11
nhưng nguyên đơn không có hành vi lấn chiếm, được sự đồng ý của bị đơn. Mặc dù,
quá trình tố tụng tại cắp sơ thẩm nguyên đơn xác nhận trường hợp đo đạc đất chiều
ngang thừa so với văn bản thoả thuận thì nguyên đơn đồng ý trả lại. Tuy nhiên, tại
phiên toà phúc thẩm nguyên đơn xác định phần din tích thừa nguyên đơn đã xây
nhà kiên cố trên toàn bộ din tích đất. Xét kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
29/9/2026 của cấp phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thấy rằng: Trong din
tích 7,2m
2
mà cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn tháo dỡ tài sản trả lại đất cho bị đơn có
6,0m
2
có tứ cận như sau: Phía Tây từ điểm 22+15, Phía Đông từ điểm 25+18; Phía
Bắc từ điểm 15+18; Phía Nam từ điểm 22+25 là bức tường nhà cấp 4 của nguyên
đơn, khi xây dựng nhà bị đơn không ngăn cản, tranh chấp, với 6,0m
2
tuy lớn hơn
kích thước 5,5m ngang chuyển nhượng nhưng ranh giới được xác định ổn định. Bản
án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bị đơn, buộc bà P1 ông H có trách nhim tháo dở
phần tài sản tạo lập trên đất trả lại cho bà N din tích lấn chiếm là 7,2m
2
là không
bảo đảm công tácThi hành án, không bảo đảm công năng sử dụng của căn nhà và vật
kiến trúc trên đất và không tôn trọng tính ổn định trặt tự của vic thoả thuận giao
nhận kích thước thực tế đã từ rất lâu.
Do vậy, cấp phúc thẩm cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một
phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà N về vic buộc nguyên đơn ông H, bà P1 trả lại
1,2m
2
; Không chấp nhận yêu cầu buộc bà P1, ông H trả lại cho bà N din tích lấn
chiếm 6,0m
2
.
[2.2] Đối với kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thanh N:
[2.2.1]Đề nghị Toà phúc thẩm buộc nguyên đơn bà Lê Thị Thanh P1 và
ông Lương Văn H thanh toán, hoàn trả giá trị chênh lệch đối với 60m
2
đất ở
theo giá đất hiện tại với đơn giá 6.100.000đ/m
2
=366.000.000đ; Thấy rằng: Như
tại phần [2.1.2] nhận định cấp sơ thẩm cần công nhận cho nguyên đơn 64m
2
đất ở
đô thị là phù hợp, nên nội dung kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thanh N: Đề nghị
Toà phúc thẩm buộc nguyên đơn bà Lê Thị Thanh P1 và ông Lương Văn H thanh
toán, hoàn trả giá trị chênh lch đối với 60m
2
đất ở theo giá đất hin tại với đơn giá
6.100.000đ/m
2
=366.000.000đ là không có căn cứ chấp nhận.
[2.2.2]Buộc bà Lê Thị P1 và ông Lương Văn H trả lại phần diện tích 9,2m
2
;
Thấy rằng: Ngày 09/02/2001 giữa ông Nguyễn Thành T1 và ông Lương Văn H lập
“ Giấy sang nhượng đất thổ cư”, có xác nhận của ban tự quản khối 4, thị trấn E (nay
thôn F, xã E); gắn vị trí đất: chiều ngang theo mặt đường T có cạnh dài 5,5m và
chiều dài 25m; tọa lạc tại khối D, thị trấn E cũ ( nay là thôn F, xã E), có tứ cận như
sau: Phía Đông giáp bà H B; Phía Tây giáp đường tỉnh lộ (T); Phía Nam giáp nhà
ông S (nay là đất ông K); Phía Bắc giáp phần đất ông T1. Tại Sơ đồ lồng ghép do
Công ty Cổ phần Đ1 lập ngày 30/7/2025 thể hin:Phía Bắc từ điểm 11-25=25,36m;
Phía Nam từ điểm 10 -4=26,5m; Đông từ điểm 4 - 25 = 5,50m; Tây từ điểm 10-
11=5,50m; Căn cứ din tích trên với Giấy sang nhượng đất thổ cư lập ngày
09/02/2001 là đúng ý chí thoả thuân hai bên và đã đủ din tích; Tuy nhiên, cấp sơ
thẩm chấp nhận thêm cho nguyên đơn đối với din tích 9,2m
2
( Phía Bắc từ điểm
25-26; Phía Nam từ điểm 4 -3; Phía Đông từ điểm 4-25; Phía Tây từ điểm 3-26 là
không có căn cứ;
12
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29/92026 của cấp phúc thẩm Toà
án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thấy rằng: Trên din tích 9,2m
2
+ 1,2m
2
không có tài sản,
công trình kiên cố của nguyên đơn, chỉ có một phần mái tôn lợp tạm của nguyên đơn
nhưng có h thống thoát nước mưa của bị đơn chảy xuống phần din tích này. Do
đó, đủ căn cứ xác định phần din tích 9,2m
2
+1,2m
2
là của bị đơn, nên chấp nhận
kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thanh N sửa án sơ thẩm không chấp nhận din
tích 9,2m
2
+ 1,2m
2
(vị trí: 18-19; 19-26; 26-25; 25-18) của nguyên đơn bà Lê Thị
P1, ông Lương Văn H là có căn cứ.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên cần tính lại án phí
DSSTnhư sau:
+ Buộc bà Trần Thị Thanh N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án
phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và 7.484.000đ án phí đối với yêu cầu phản
tố không được chấp nhận (Theo mức: 149.682.286đ x 5% = 7.484.000đ đồng), đươc
khấu trừ vào số tiền 10.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, bà N được nhận
lại số tiền 2.215.000đồng tiền tạm ứng án phí cn lại theo biên lai thu tiền tạm ứng
án phí số AA/2023/0000922 ngày 10/01/2025 và số tiền 5.000.000 đồng tiền tạm
ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0001048 ngày
18/03/2025 tại Phng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Đắk Lắk ( trước đây là Chi
cục Thi hành án dân sự huyn Ea Kar).
+ Buộc nguyên đơn ông Lương Văn H và bà Lê Thị P1 phải chịu phải chịu
9.861.250 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. (Theo mức: (197.225.000đ x 5%) =
9.861.250 đồng). Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai thu số 60AA/2023/000073 ngày 10/12/2024 tại Phng Thi hành án
dân sự khu vực 7, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là Chi cục Thi hành án dân sự huyn Ea
Kar). Ông Lương Văn H và bà Lê Thị P1 cn phải tiếp tục nộp số tiền 9.561.250đ.
[4]Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị P1, bị đơn bà
Trần Thị Thanh N được chấp nhận một phần nên các bên không phải chịu án phí
DSPT;
[4]Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm số tiền 2.200.000; Tại toà nguyên đơn
tự nguyn chịu, nên không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố dân sự; Chấp nhận một
phần kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số:
04/2026/DSST ngày 30/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39,
khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều
165, Điều 203; Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 118 bộ luật dân sự năm 1995; Điều 117, 129 Bộ luật dân sự năm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2024;
13
Điều 75 Luật đất đai năm 1993; Điều 27 và Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về án phí, l phí Ta án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kin của nguyên đơn ông Lương Văn H
và bà Lê Thị P1.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giấy sang nhượng
đất thổ cư) lập ngày 09/02/2001 giữa ông Lương Văn H và ông Nguyễn Thành T1;
- Ông Lương Văn H, bà Lê Thị P1 được quyền quản lý, sử dụng din tích đất
79,8m
2
trong đó có 64 m
2
đất ở đô thị và 15,8 m
2
đất trồng cây hàng năm khác thuộc
một phần thửa đất số 222, tờ bản đồ 94 theo giấy CNQSD đất số DQ 679633 do
UBND huyn E cấp ngày 05/11/2024 cấp cho bà Trần Thị Thanh N; Din tích đất
có tứ cận như sau: Phía Tây theo đường T có cạnh từ điểm 7-15; Phía Bắc từ điểm
15-18; Phía Đông từ điểm 4-18; Phía Nam từ điểm7-4. Địa chỉ thửa đất tại thôn F,
xã E, tỉnh Đắk Lắk (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Buộc bà Trần Thị Thanh N phải tiếp tục thực hin hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông Lương Văn H và ông Nguyễn Thành T1 với din tích là
79,8m
2
trong đó có 64 m
2
đất ở đô thị và 15,8 m
2
đất trồng cây hàng năm khác thuộc
một phần thửa đất số 222, tờ bản đồ 94 theo giấy CNQSD đất số DQ 679633 do
UBND huyn E cấp ngày 05/11/2024 cấp cho bà Trần Thị Thanh N. Địa chỉ thửa
đất tại thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
Các bên có quyền và nghĩa vụ kê khai đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền xin cấp GCNQSDD theo quy định của pháp luật về đất đai.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn về vic công nhận 77,5
m
2
đất thổ cư theo giấy sang nhượng lập ngày 09/02/2001.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kin của nguyên đơn về vic công nhận din
tích 9,2m
2
+ 1,2m
2
( Phía Bắc từ điểm 18 -19; Phía Nam từ điểm 4 -3; Phía Đông từ
điểm 4-18; Phía Tây từ điểm 3-19) là không có căn cứ;
4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố và yêu cầu phản tố bổ sung của bị đơn
bà N. Buộc ông Lương Văn H và bà Lê Thị P1 phải có trách nhim trả cho bà Trần
Thị Thanh N số vàng cn nợ 12,25 chỉ vàng 24k theo giá trị tại thời điểm xét xử là
197.225.000đ (Một trăm chín bảy triệu hai trăm hai lăm ngàn đồng) và trả cho bà
Trần Thị Thanh N din tích 1,2m
2
, có tứ cận như sau: Phía Tây có cạnh từ điểm18-
25; Phía Bắc từ điểm 18 -19; Phía Đông từ điểm 19-26; Phía Nam từ điểm 25-26.
Địa chỉ thửa đất tại thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án cn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền
cn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
dân sự năm 2015.
4. Bác một phần yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Thanh N về vic: Buộc nguyên
đơn ông Lương Văn H, bà Lê Thị P1 phải trả giá trị tài sản chênh lch giá cho bị
14
đơn bà Trần Thị Thanh N số tiền là 149.682.286đ (Một trăm bốn mươi chín triệu
sáu trăm tám hai ngàn hai trăm tám sáu đồng); Buộc ông Lương Văn H và bà Lê
Thị P1 phải trả cho bà Trần Thị Thanh N din tích đất lấn chiếm 6,0 m
2
: Gắn vị trí:
Phía Tây từ điểm 22-15, Phía Đông từ điểm 25-18; Phía Bắc từ điểm 15-18; Phía
Nam từ điểm 22-25 đất trồng cây hàng năm khác thuộc một phần thửa đất số 222, tờ
bản đồ 94 theo giấy CNQSD đất số DQ 679633 do UBND huyn E cấp ngày
05/11/2024 cấp cho bà Trần Thị Thanh N(có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
5. Về Quyết định áp dụng bin pháp khẩn cấp tạm thời: Tiếp tục duy trì Quyết
định áp dụng bin pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2024/QĐ – ADBPKCTT, ngày
20/12/2024 của Ta án nhân dân huyn EaKar (nay Ta án nhân dân khu vực 7 -
Đắk Lắk). Quyết định này có thể bị hủy bỏ khi có một trong các căn cứ quy định tại
Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự.
6. Về chi phí tố tụng sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Trần Thị Thanh N có trách nhim
trả lại cho bà Lê Thị P1 và ông Lương Văn H số tiền 9.130.000đ (chín triệu một
trăm ba mươi nghìn đồng).
7. Về án phí sơ thẩm:
+ Buộc bà Trần Thị Thanh N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án
phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và 7.484.000đ (bảy triệu bốn trăm tám mươi
bốn ngàn đồng) án phí đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận (Theo mức:
149.682.286đ x 5% = 7.484.000đ đồng), đươc khấu trừ vào số tiền 10.000.000 đồng
(mười triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp, bà N được nhận lại số tiền 2.215.000
đồng (hai triệu hai trăm mười lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí cn lại theo biên
lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0000922 ngày 10/01/2025 và số tiền
5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí số AA/2023/0001048 ngày 18/03/2025 tại Phng Thi hành án dân
sự khu vực 7, tỉnh Đắk Lắk ( trước đây là Chi cục Thi hành án dân sự huyn Ea Kar).
+ Buộc nguyên đơn ông Lương Văn H và bà Lê Thị P1 phải chịu phải chịu
9.861.250 đồng(Chín triệu tám trăm sáu mươi mốt ngàn hai trăm năm chục đồng)
tiền án phí dân sự sơ thẩm. (Theo mức: (197.225.000đ x 5%) = 9.861.250 đồng).
Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai thu số 60AA/2023/000073 ngày 10/12/2024 tại Phng Thi hành
án dân sự khu vực 7, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là Chi cục Thi hành án dân sự huyn
Ea Kar). Ông Lương Văn H và bà Lê Thị P1 cn phải tiếp tục nộp số tiền 9.561.250đ
(chín triệu năm trăm sáu mươi mốt ngàn hai trăm năm chục đồng).
8.Về án phí phúc thẩm: H2 lại số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng
án phí phúc thẩm cho nguyên đơn bà Lê Thị P1 tại biên lai số 0004695 ngày
29/4/2026 và số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm cho
bị đơn bà Trần Thị Thanh N tại biên lai số 0004691 ngày 29/4/2026; Tất cả tại Thi
hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
9.Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm:Nguyên đơn bà Lê Thị P1 tự nguyn
chịu số tiền 2.200.000đ (hai triệu hai trăm ngàn đồng), đã nộp đủ.
Bản án phúc thẩm có hiu lực kể từ ngày tuyên án.
15
Nơi nhận TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-TANDTC THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
-VKSND tỉnh ĐL.
-Phng THADS tỉnh ĐL
-Các đương sự Lê Thị Thanh Huyền
-Lưu hs
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 484/2026/DS-PT Bản án số 484/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 484/2026/DS-PT Bản án số 484/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất