Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 26/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp hợp đồng mượn tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 47/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 47/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 47/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 26/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp hợp đồng mượn tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa |
| Số hiệu: | 47/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Công ty cổ phần S kiện tranh chấp Hợp đồng vay có cầm cố tài sản, Hợp đồng mượn tài sản đối với Nguyễn V |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 47/2025/DS-ST.
Ngày: 26 - 9 - 2025.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản”
và “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Đình Nguyên.
Bà Dương Thị Mỹ Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang - Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 5 – Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên
tòa: Bà Lê Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa
xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 508/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 10
năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản” và “Tranh chấp hợp
đồng mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-DS
ngày 18 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2025/QĐST-DS ngày
08 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S.
Địa chỉ trụ sở chính: Số 128 Nguyễn D, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An
(Nay là số 128 đường Nguyễn D, phường TV, tỉnh Nghệ An).
Người đại diện theo pháp luật: Ông KANORWATPAISAL NAPA - Sinh năm
1972 - Chức danh: Giám đốc.
Địa chỉ liên lạc: Số 928 đường Lạc Long Q, phường 8, quận Tân B, Thành phố
Hồ Chí Minh (Nay là Số 928 đường Lạc Long Q, phường Tân H, thành phố Hồ Chí
Minh).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hoàn T - Sinh năm 1996; Chức vụ:
2
Nhân viên Công ty Cổ phần S (Theo Giấy ủy quyền số 236/2023/UQ-SVN ngày
25/10/2023) (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 273 Ngô G, phường T1, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (Nay là
Số 273 Ngô G, phường R, tỉnh Khánh Hòa).
2/ Bị đơn: Ông Nguyễn V - Sinh năm 1973 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố 1, phường PH, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (Nay là tổ
dân phố 7, phường R, tỉnh Khánh Hòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án, người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Hoàn T trình bày:
Công ty Cổ phần S (Viết tắt là Công ty S) không được Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam cấp phép hoạt động nên không hoạt động kinh doanh theo Luật các tổ
chức tín dụng và các Văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với
các tổ chức tín dụng phi Ngân hàng. Công ty S chỉ được Phòng đăng ký kinh doanh -
Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công
ty cổ phần, đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 27/3/2024.
Công ty S có các tên ngành đăng ký theo “Giấy xác nhận về việc thay đổi nội
dung đăng ký doanh nghiệp” số 5942/24 ngày 22/3/2024 của Phòng đăng ký kinh
doanh - Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Nghệ An. Theo đó, thông tin của doanh nghiệp
(Công ty S) được cập nhật vào hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
gồm ngành nghề kinh doanh, mã ngành và kinh doanh đúng các ngành nghề đã đăng
ký; trong đó có ngành chính là “Dịch vụ cầm đồ” theo mã ngành 6492.
Vào ngày 10/04/2021 ông Nguyễn V có đến Công ty Cổ phần S chi nhánh văn
phòng đại diện chi nhánh Ninh Thuận - Phan Rang 2 của công ty tại địa chỉ số 202
Lê D, phường M, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (Nay là số 202 Lê D, phường B,
tỉnh Khánh Hòa) để ký hợp đồng cầm cố tài sản số: P2M210402009NA19X với tài
sản cầm cố là xe mô tô biển số 85B1-718.31, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS 110cc
màu đỏ đen; số khung 3240KY245443; số máy E3X9E696752 cùng với giấy chứng
nhận đăng ký xe mô tô số (85) 052366, do Công an tỉnh Ninh Thuận cấp ngày
01/08/2019 để cầm cố vay với số tiền là 9.680.000 đồng (Chín triệu sáu trăm tám
mươi nghìn đồng); Thời hạn cầm cố là 12 tháng (Từ ngày 10/04/2021 đến
10/04/2022) với mức lãi suất 1,1%/tháng.
Sau khi hợp đồng cầm cố được ký kết, Công ty Cổ phần S đã giải ngân đầy đủ
số tiền theo hợp đồng cho ông Nguyễn V. Tuy nhiên, do nhu cầu cần có xe để đi lại
hàng ngày nên Công ty Cổ phần S có ký giấy cho ông Nguyễn V mượn lại xe để sử
3
dụng. Trong giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe (từ 10/4/2021 đến
10/5/2021).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn V không thực hiện đúng các
cam kết tại hợp đồng đã ký kết với công ty Cổ phần S, không trả tiền gốc, tiền lãi
đúng hạn và cũng không trả lại xe mô tô biển số 85B1-718.31, nhãn hiệu YAMAHA
SIRIUS 110cc màu đỏ đen theo đúng thỏa thuận trong giấy mượn xe. Tính đến thời
điểm khởi kiện, ông Nguyễn V chỉ mới thanh toán cho Công ty Cổ phần S được 02
kì tổng số tiền bao gồm: gốc lãi phí là 2.209.000
đ
(Hai triệu hai trăm lẻ chín nghìn
đồng). Trong đó, tiền gốc 1.240.112
đ
, tiền lãi trong hạn 208.308
đ
; phí thẩm định tài
sản: 750.214
đ
, lãi quá hạn 10.245
đ
cụ thể như sau:
- Ngày 12/05/2021 khách hàng thanh toán 1.099.000 đồng.
- Ngày 17/06/2021 khách hàng thanh toán 1.110.000 đồng.
Công ty Cổ phần S đã nhiều lần tạo điều kiện để ông Nguyễn V thanh toán nợ,
tuy nhiên ông Nguyễn V vẫn không hợp tác. Vì vậy, Công ty Cổ phần S tiến hành
khởi kiện ông Nguyễn V ra Toà án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm,
tỉnh Ninh Thuận (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa).
Tại đơn khởi kiện 09/10/2024 Công ty Cổ phần S yêu cầu ông Nguyễn V phải
giao trả lại chiếc xe mô tô biển số 85B1-718.31, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS
110cc màu đỏ đen; số khung 3240KY245443; số máy E3X9E696752 theo hợp đồng
cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Công ty Cổ phần S. Trường hợp ông Nguyễn V
không thể trả lại xe cầm cố thì phải có nghĩa vụ thanh toán cả gốc và lãi và các
khoản phí theo đúng hợp đồng cầm cố tài sản với khoản tiền 18.151.000
đ
(Mười tám
triệu một trăm năm mươi mốt nghìn đồng) cho Công ty Cổ phần S.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án Công ty Cổ phần S xin thay đổi
yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông Nguyễn V phải giao trả lại chiếc xe mô tô biển
số 85B1-718.31, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS 110cc màu đỏ đen; số khung
3240KY245443; số máy E3X9E696752 kèm giấy mượn xe đã ký cho Công ty Cổ
phần Smà chỉ yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết: Buộc ông Nguyễn V phải thanh
toán số tiền gốc và lãi phát sinh tính đến ngày xét xử (Ngày 26/9/2025) là
16.144.443
đ
(Mười sáu triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn bốn trăm bốn mươi ba
đồng); Bao gồm các khoản:
- Nợ gốc 8.439.888
đ
(Tám triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn tám trăm tám
mươi tám đồng);
- Nợ lãi trong hạn (1,1%)= 546.555
đ
(Năm trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm
năm mươi lăm đồng);
- Nợ lãi quá hạn (150%) = 7.158.000
đ
(Bảy triệu một trăm năm mươi tám
nghìn đồng).
- Buộc ông Nguyễn V phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng đã ký
kể từ ngày 27/9/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.
4
Khi nào ông Nguyễn V thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ phần S sẽ
giao trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 052366 do Công an tỉnh
Ninh Thuận cấp ngày 01/08/2019 cho ông Nguyễn V và thực hiện thủ tục xóa đăng
ký tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn là ông Nguyễn V: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông
báo, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn V không đến Tòa
án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do
nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật
tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện
đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng và có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn
mặc dù đã được thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt
không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố
tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là
đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Toà án nhân dân khu vực 5 –
Khánh Hòa chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần
S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và sau khi nghe Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thay đổi yêu cầu khởi kiện: Tại đơn khởi kiện, Công ty S yêu cầu
ông Nguyễn V phải trả lại xe máy đã mượn theo “Giấy mượn xe” mà hai bên đã ký
kết; nếu ông Nguyễn V không thể trả lại xe máy thì phải trả số tiền gốc, lãi và các
khoản phí còn nợ theo Hợp đồng cầm cố tài sản. Đến phiên hòa giải ngày 15/8/2025
cũng như bản trình bày yêu cầu ngày 26/9/2025 nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi
kiện, không yêu cầu ông Nguyễn V phải trả chiếc xe máy đã mượn chỉ phải trả số
tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn. Hội đồng xét xử xác định việc thay đổi yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên căn cứ vào
5
Điều 244 của Bộ Luật tố tụng dân sự, chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu
cầu khởi kiện, lời trình bày của đương sự, các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án
thể hiện: ông Nguyễn V cầm cố xe máy cho Công ty S để nhận tiền, ngay sau đó lập
giấy mượn xe đã cầm cố để dùng làm phương tiện đi lại. Như vậy, bản chất của giao
dịch dân sự lập “Hợp đồng cầm cố” và “Giấy mượn xe” giữa Công ty S và ông
Nguyễn V là để che đậy mục đích thật sự là “Vay tiền”. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác
định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản”
và “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản”. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố 1, phường
PH, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (Nay là tổ dân phố 7, phường R, tỉnh Khánh
Hòa) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa
theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1
Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật
tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà
giải, đối thoại tại Toà án; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP
ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân
dân; Nghị quyết số 81/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực;
quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án
nhân dân khu vực;
[1.3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn Công ty Cổ phần S có
đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn V mặc dù đã được Tòa án
thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án
tham gia tố tụng, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều
227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S, Hội
đồng xét xử nhận định như sau:
[2.1] Đối với nội dung vay có cầm cố tài sản: Công ty S cho ông Nguyễn V
vay tiền có cầm cố tài sản là chiếc xe máy thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn V để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, việc cho vay và cầm cố tài sản các bên
không lập thành từng hợp đồng riêng biệt mà lập chung một hợp đồng có tiêu đề là
“Hợp đồng cầm cố” và có mục “lưu ý cho khách hàng cầm cố” kèm theo (Gọi tắt là
6
Hợp đồng cầm cố). Trong Hợp đồng cầm cố các bên thỏa thuận số tiền vay, lãi suất,
thời hạn, phương thức thanh toán, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các khoản phí
liên quan đến cầm cố tài sản. Căn cứ các chứng cứ, tài liệu và lời khai nguyên đơn
cung cấp; Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 10/04/2021, giữa ông Nguyễn V và Công ty S ký kết Hợp đồng cầm cố.
Căn cứ nhu cầu và trị giá tài sản cầm cố của ông Nguyễn V; Công ty S đã nhận cầm
cố chiếc xe mô tô biển số 85B1-718.31, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS 110cc màu đỏ
đen và cho ông Nguyễn V vay số tiền 9.680.000 đồng (Chín triệu sáu trăm tám mươi
nghìn đồng). Hai bên thỏa thuận thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất cho vay cố định là
1,1%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền (Ngày
10/04/2021); ông Nguyễn V có nghĩa vụ trả tiền vào ngày 10 của tháng, từ tháng
05/2021 đến tháng 04/2022; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Hợp đồng
cầm cố giữa Công ty S và ông Nguyễn V được ký kết trên cơ sở tự nguyện, mục
đích, nội dung và hình thức đúng quy định của pháp luật nên xác định là Hợp đồng
hợp pháp; là cơ sở để giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Quá trình thực hiện Hợp đồng cầm cố, ông Nguyễn V chỉ mới thanh toán được
02 kì tổng số tiền bao gồm gốc, lãi và phí là 2.209.000
đ
(Hai triệu hai trăm lẻ chín
nghìn đồng). Trong đó, tiền gốc 1.240.112
đ
, tiền lãi trong hạn 208.308
đ
; phí thẩm
định tài sản: 750.214
đ
,
lãi quá hạn 10.245
đ
cụ thể như sau:
- Ngày 12/05/2021 khách hàng thanh toán 1.099.000 đồng.
- Ngày 17/06/2021 khách hàng thanh toán 1.110.000 đồng.
Sau đó ông Nguyễn V không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty S
nữa. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp, xác định tính đến ngày xét
xử sơ thẩm (Ngày 26/9/2025) ông Nguyễn V còn phải thanh toán cho Công ty S là
16.144.443
đ
(Mười sáu triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn bốn trăm bốn mươi ba
đồng); Bao gồm các khoản:
- Nợ gốc: 8.439.888
đ
(Tám triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn tám trăm tám
mươi tám đồng);
- Nợ lãi trong hạn (1,1%)= 546.555
đ
(Năm trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm
năm mươi lăm đồng);
- Nợ lãi quá hạn (150%) = 7.158.000
đ
(Bảy triệu một trăm năm mươi tám
nghìn đồng).
Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc tính tiền lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn
của Công ty S là có căn cứ và phù hợp với các thỏa thuận của các bên trong hợp
đồng và không trái với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Để bảo đảm cho khoản vay, ông Nguyễn V đã cầm cố chiếc xe mô tô biển số
7
85B1-718.31, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS 110cc màu đỏ đen thuộc sở hữu của
ông Nguyễn V cho Công ty S. Tài sản cầm cố đã được đăng ký biện pháp bảo đảm
hợp đồng trên hệ thống đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm đối với tài sản cầm cố.
Khi nào ông Nguyễn V thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ phần S phải giao
trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 052366 do Công an tỉnh Ninh
Thuận cấp ngày 01/8/2019 cho ông Nguyễn V và thực hiện thủ tục xóa đăng ký tài
sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.
[2.2] Đối với nội dung mượn tài sản và các khoản phí đã thỏa thuận trong
hợp đồng: Theo các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử thấy,
ngày 10/04/2021, ông Nguyễn V đã lập “Giấy ủy quyền” để ủy quyền cho Công ty S
với nội dung: “Bên nhận ủy quyền được thay mặt bên ủy quyền quản lý, sử dụng và
định đoạt (cho thuê, bán) chiếc xe mang biển số 85B1-718.31”. Do ông Nguyễn V
không có phương tiện đi lại để phục vụ công việc cá nhân nên cũng trong ngày
10/04/2021; ông Nguyễn V đã lập “Giấy mượn xe” xin mượn lại chiếc xe mang biển
số 85B1-718.31 đã được cầm cố trong thời hạn 30 ngày từ ngày 10/04/2021 đến
ngày 10/05/2021 và Công ty S đã đồng ý bàn giao tài sản cầm cố trên cho ông
Nguyễn V mượn. Việc các bên thỏa thuận cho mượn lại tài sản cầm cố và thỏa thuận
các khoản phí trong hợp đồng là sự tự nguyện của các bên tham gia giao dịch, không
bị pháp luật cấm tại thời điểm thỏa thuận. Trong quá trình giải quyết vụ án các bên
không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với khoản phí mà ông Nguyễn V đã trả cho
Công ty S. Hơn nữa, hiện nay Công ty S cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết đối
với các khoản phí này nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét, giải quyết.
Chiếc xe mô tô biển số 85B1-718.31, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS 110cc
màu đỏ đen, Công ty S đã giao cho ông Nguyễn V quản lý, sử dụng khi hai bên lập
“Giấy mượn xe” và hiện nay, Công ty S không yêu cầu ông Nguyễn V phải trả lại xe
nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng cho ông Nguyễn V, có nội dung thể hiện yêu cầu khởi kiện của Công ty S đối
với ông Nguyễn V nhưng ông Nguyễn V không có văn bản trình bày ý kiến và cũng
không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Công
ty S xuất trình nên có cơ sở khẳng định ông Nguyễn V đã từ bỏ quyền của mình
được pháp luật quy định.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với
quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận
nên Công ty S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền đã tạm

8
ứng án phí đã nộp; bị đơn ông Nguyễn V phải chịu 807.222
đ
(Tám trăm lẻ bảy nghìn
hai trăm hai mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147;
điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 244; Điều 271, Điều 273 của Bộ Luật tố
tụng dân sự. Các Điều 309, 310, 311, 313, 316, 375, 463, 466, 468, 470, 494, 496,
497 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S.
1./ Buộc ông Nguyễn V phải trả cho Công ty Cổ phần S tổng số tiền tính đến
ngày 26/9/2025 là 16.144.443
đ
(Mười sáu triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn bốn
trăm bốn mươi ba đồng); Bao gồm các khoản: Nợ gốc 8.439.888
đ
(Tám triệu bốn
trăm ba mươi chín nghìn tám trăm tám mươi tám đồng); Nợ lãi trong hạn (1,1%)=
546.555
đ
(Năm trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm năm mươi lăm đồng); Nợ lãi quá
hạn (150%) = 7.158.000
đ
(Bảy triệu một trăm năm mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/9/2025) cho đến khi thi
hành án xong; ông Nguyễn V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền
nợ gốc theo mức lãi suất mà Công ty Cổ phần S và ông Nguyễn V đã thỏa thuận
trong các hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ nhưng phải phù
hợp với quy định của pháp luật.
Ngay sau khi ông Nguyễn V thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ phần
S có nghĩa vụ giao trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 052366 do
Công an tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 01/08/2019 cho ông Nguyễn V và thực hiện thủ
tục xóa đăng ký tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.
2./ Về án phí:
- Ông Nguyễn V phải chịu 807.222
đ
(Tám trăm lẻ bảy nghìn hai trăm hai
mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Công ty Cổ phần S không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho
Công ty Cổ phần Ssố tiền 454.000
đ
(Bốn trăm năm mươi bốn nghìn đồng) tạm ứng
án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003333 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Phòng Thi hành án dân sự
9
khu vực 5 – Khánh Hòa).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật Thi hành án dân sự.
3./ Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, công khai vắng mặt nguyên đơn và
bị đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt
hợp lệ ./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Khánh Hòa;
- VKSND khu vực 5 - Khánh Hòa;
- THADS tỉnh Khánh Hòa;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ; án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Trịnh Thị Hồng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm