Bản án số 47/2020/DS-ST ngày 01/01/2020 của TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 47/2020/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 47/2020/DS-ST ngày 01/01/2020 của TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Tân Yên (TAND tỉnh Bắc Giang)
Số hiệu: 47/2020/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/01/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 20/02/2005 cụ Đặng Trần Đ1 chết, ngày 20/01/2016 cụ Nguyễn Thị T chết, đến ngày 20/5/2020 ông Th làm đơn khởi kiện gửi Tòa án để yêu cầu chia di sản thừa kế của hai cụ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG Độc lập – Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 47/2020/DS - ST
Ngày: 01/10/2020
“V/v tranh chấp chia di sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tư Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Giáp Hồng Thanh;
Ông Trần Văn Thiện.
Thư ký phiên toà:
Bà Dương Thị Hương
Thư ký Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang;
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Bộ – Kiểm sát viên
Ngày 01 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc
Giang xét xthẩm ng khai vụ án dân sự thụ số 52/2020/TLST-DS ngày
08 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 236/2020/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2020, Quyết
định hoãn phiên tòa số 151/QĐST-DS, ngày 25/9/2020 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Đặng Trần Th, sinh năm 1961. (Vắng mặt).
Do bà Nguyễn Thị Gi, sinh năm 1963 – đại diện theo ủy quyền
Đều cư trú: tổ dân phố H, thị trấn C, huyện T, Bắc Giang. (Bà Gi có mặt)
* Bị đơn: Ông Đặng Trần L, sinh năm 1964. (Có mặt).
Nơi cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đặng Thị M, sinh năm 1952. (Có mặt).
Nơi cư trú: tổ dân phố H, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- Ông Đặng Trần L, sinh năm 1964. (Có mặt).
- Ông Đặng Trần Tr, sinh năm 1968. (Có mặt).
- Ông Đặng Trần S, sinh năm 1971. (Có mặt).
- Đặng Thị Th1, sinh năm 1973. (Có mặt khi xét xử vắng
mặt khi tuyên án).
Nơi cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- Bà Đặng Thị H, sinh năm 1956. (Vắng mặt).
2
Nơi trú: số nhà 2, tổ dân phố số 1, phố M, phường M, thành phố Bắc
Giang, tỉnh Bắc Giang;
- Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1959. (Vắng mặt).
Nơi cu trú: khu Ng, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang
- Cụ Đặng Trần Đ, sinh năm 1959. (Có mặt).
Nơi cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- UBND thị trấn Cao Thương, huyện T. Do ông Giáp Văn T2 -
Công chức địa chính, xây dựng, đại diện theo ủy quyền. (ông T2 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 20 tháng 5 năm 2020 (nộp trực tiếp tại Tòa án
ngày 28/5/2020) và các lời khai tiếp theo thì nguyên đơn ông Đặng Trần Th do bà
Nguyễn Thị Gi đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bố mẹ ông cĐặng Trần Đ1 chết ngày 20/02/2005, cụ Nguyễn Thị T
chết ngày 20/01/2016. Trong quá trình chung sống hai cụ sinh được 08 người con
Đặng Trần Th, sinh năm 1961; Đặng Thị M, sinh năm 1952; Đặng Trần L, sinh
năm 1964; Đặng Trần Tr, sinh năm 1968; Đặng Trần S, sinh năm 1971; Đặng Thị
Th1, sinh năm 1973; Đặng Thị H, sinh năm 1956; Đặng Thị H1, sinh năm 1959
và tạo lập được các tài sản chung. Đến nay tài sản còn để lại gồm:
- Diện tích 226,7 m
2
đất lâu dài gồm 100m
2
đất 126,7m
2
đất vườn
thuộc thửa số 48 tờ bản đồ số 19 tại khu Đ (Nay tổ dân phố Đ), thị trấn C,
huyện T, Bắc Giang đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI
171615 ngày 17/01/2020 đứng tên cụ Nguyễn Thị T. Tài sản gắn liền trên đất
01 nhà cấp 4 có 03 gian xây cay, lợp ngói prô.
- Diện tích 2267m
2
đất canh tác bao gồm: tờ bản đồ số 04 bao gồm thửa số
676 diện tích 323m
2
thửa số 610 diện tích 458m
2
; Tờ bản đồ số 05 bao gồm
thừa số 376, diện tích 210m
2
thửa số 39 diện tích 391m
2
; Tờ bản đồ số 11 bao
gồm thửa số 77
1
, diện tích 276m
2
, thửa số 77
2
diện tích 56m
2
, thửa số 266 diện
tích 216m
2
, thửa số 316 diện tích 336m
2
.
- Số tiền đền bù ruộng canh tác là 50.000.000 đồng, 02 chỉ vàng, tiền phúng
viếng còn lại là 24.000.000 đồng
Hiện nay, ông L đang quản 50.000.000 đồng, 02 chỉ vằng, tiền phúng
viếng 24.000.000 đồng, một phần ruộng canh tác. Còn các tài sản khác thì không
ai trực tiếp quản lý.
Khi cụ Đ1, cụ T chết không để lại di chúc, anh chị em trong gia đình không
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được nên ông đề nghị chia thừa kế các tài sản
trên theo quy định của pháp luật. Ông đề nghị được nhận phần đất thổ bố
mẹ để lại khi bố mẹ ông còn sống đã chia đất cho ông L, ông Tr, ông S, còn
3
ông chưa được bố mẹ chia đất, nếu được nhận phần đất này ông trách nhiệm
trích chia bằng tiền cho các thừa kế khác. Bà M, bà Th1, bà H1, bà H có ý kiến để
lại phần thừa kế của các được hưởng cho ông thì ông nhất trí nhận phần thừa
kế này.
Tại phiên tòa bà Gi đại diện theo ủy quyền của ông Th trình bầy:
Đối với ruộng canh tác của bố mẹ bà, năm 1991 nhà nước giao đất canh tác
cho hộ gia đình, khi đó hộ cụ T gồm có những ai được chia đất canh tác, bà không
biết cụ thể. Do đó chưa xác định được phần ruộng canh tác của bố mẹ hiện
diện tích bao nhiêu, ở thửa nào nên bà xin rút yêu cầu chia thừa kế đối với các
thửa ruộng canh tác. Đối với nhà ở cấp 4 trên thửa đất số 48, tờ bản đồ số 19, hiện
ngôi nhà này đã hỏng nên cũng không yêu cầu xác định giá trị bằng tiền để
chia thừa kế nếu sau này ai được nhận phần đất trên thì quyền sử dụng ngôi
nhà này. Đối với yêu cầu chia thừa kế tài sản ông L đang giữ gồm 02 chỉ
vàng, tiền đền ruộng 50.000.000 đồng, tiền phúng viếng 24.000.000 đồng
tiền. Ông L trình bầy hiện chỉ còn giữ số tiền nhận đền ruộng 50.000.000
đồng, số tiền 8.400.000 đồng bán vàng số tiền phúng viếng còn lại
16.100.000 đồng. Nay bà nhất trí với ý kiến của ông L, bà đề nghị chia thừa kế số
tiền trên theo quy định của pháp luật.
* Tại bản tự khai ngày 15/6/2020 những lời khai tiếp theo, bị đơn ông
Đặng Trần L trình bầy:
Ông thừa nhận nguồn gốc diện tích đất 226,6 m
2
(gồm 100 m
2
đất ở, 126,7
m
2
đất vườn) thuộc thửa s48, tờ bản đồ số 19, địa chỉ thửa đất tổ dân phố Đ, thị
trấn C, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 171615 ngày
17/01/2012 đứng tên cụ Nguyễn Thị T là của bố mẹ ông để lại, trên đất 01 nhà
cấp bốn, 03 gian tường cay lợp ngói prô.
Đối với diện tích 2.267m
2
đất canh tác bao gồm: tờ bản đồ s04 bao gồm
thửa số 676 diện tích 323m
2
thửa số 610 diện tích 458m
2
; Tờ bản đồ số 05 bao
gồm thửa số 376, diện tích 210m
2
và thửa số 39 diện tích 391m
2
; Tờ bản đồ số 11
bao gồm thửa số 77
1
, diện tích 276m
2
, thửa số 77
2
diện tích 56m
2
, thửa số 266
diện tích 216m
2
, thửa số 316 diện tích 336m
2
. Toàn bộ sruộng trên, sau khi bố
mẹ ông chết thì các anh chị em trong gia đình đã lập văn bản phân chia tài sản
thừa kế. Theo đó anh chị em trong gia đình đã giao cho ông được toàn quyền s
dụng các thửa đất gồm:
- Thửa số 676, tờ bản đồ số 04, diện tích 324 m
2
;
- Thửa số 376, tờ bản đồ số 05, diện tích 210 m
2
;
- Thửa số 316 (1), tờ bản đồ số 11, diện tích 336 m
2
;
- Thửa số 610, tờ bản đồ số 04, diện tích 458 m
2
;
4
- Thửa số 39, tờ bản đồ số 05, diện tích 391 m
2
;
Giao cho ông Đặng Trần S được sử dụng:
- Thửa số 77 (1), tờ bản đồ số 11, diện tích 276 m
2
;
- Thửa số 77 (2), tờ bản đồ số 11, diện tích 56 m
2
;
- Thửa số 266, tờ bản đồ số 11, diện tích 216 m
2
;
Đối với số tiền đền ruộng canh tác, vàng và tiền phúng viếng, ông xác
định hiện ông đang giữ số tiền đền ruộng canh tác 50.000.000 đồng, số tiền
bán vàng 8.400.000 đồng, tiền phúng viếng của mẹ ông, khi mẹ ông chết, anh
em trong gia đình thống nhất đưa cho ông giữ số tiền 23.000.000 đồng để ông
thay mặt anh em trả nợ các đám hiếu về sau, từ đó đến nay ông đã thay mặt anh
em đi trả nợ các đám hiếu khác với số tiền 6.900.000 đồng, hiện ông chỉ còn giữ
số tiền 16.100.000 đồng.
Nay ông Th yêu cầu chia di sản thừa kế thì ông không đồng ý với do ông
muốn giữ lại thửa đất và các tài sản của bố mẹ để xây dựng nhà thờ chung. Nếu
phải chia thừa kế thì ông có ý kiến, đối với đất ở và đất vườn, ông xác định không
đủ điều kiện để nhận toàn bộ diện tích đất trên nên ông đề nghị chia đều diện tích
đất trên cho các hàng thừa kế, ông được hưởng bao nhiêu thì ông xin nhận, ông
chỉ nhận bằng hiện vật, ông không nhất trí nhận bằng tiền. Đối với số tiền
50.000.000 đồng 8.400.000 đồng tiền bán vàng ông nhất trí chia thừa kế theo
pháp luật, còn số tiền 16.100.000 đồng ông không nhất trí chia thừa kế, ông đề
nghị để lại số tiền trên để trả nợ các đám hiếu về sau. Đối với diện tích ruộng canh
tách, thì các anh chị em đã lập n bản phân chia tài sản thừa kế tại UBND thị
trấn C đã được chứng thực, do đó văn bản trên đã hiệu lực pháp luật nên
không còn là tài sản thừa kế nữa.
Tại phiên tòa ông L mặt ý kiến: Đối với ruộng canh tác, tại phiên
tòa bà Gi là đại diện theo ủy quyền của ông Th cũng như các anh chị em trong gia
đình đều không yêu cầu giải quyết nên ông cũng không yêu cầu giải quyết trong
vụ án này. Đối với nhà cấp bốn xây dựng trên đất ông xác định nhà đã hỏng
nên ông cũng không yêu cầu xác định giá trị bằng tiền để chia thừa kế nếu sau này
chia đất mà ai được chia phần đất có nhà thì có quyền sử dụng.
* Người quyền lợi, nghĩa vliên quan ông Đặng Trần Tr, ông Đặng
Trần S trình bầy:
Các ông nhất trí với trình bầy của ông L vtài sản của bố mẹ ông đ lại,
nay các ông cũng không đồng ý chia thừa kế theo đơn khởi kiện của ông Th. Nếu
phải chia thừa kế thì các ông đề nghị, đối với đất đất vườn thì các ông xác
định không đủ điều kiện để nhận toàn bộ diện tích đất trên, các ông đề nghị chia
đều diện tích đất trên cho các anh chị em trong gia đình, các ông được hưởng diện
5
tích đất bao nhiêu thì các ông xin nhận, các ông không đồng ý nhận bằng tiền. Đối
với nhà ở trên đất các ông xác định đã cũ, hỏng nên không yêu cầu xác định giá trị
bằng tiền để chia thừa kế nếu sau này chia đất mà ai được chia phần đất có nhà thì
có quyền sử dụng.
Tại phiên tòa ông Tr, ông S có mặt và đều trình bầy:
Gi anh chị em trong gia đình đều không yêu cầu giải quyết về ruộng
canh tác của bố mẹ để lại thì các ông đồng ý cũng không đề nghị Tòa án giải
quyết.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thị M, bà Đặng
Thị H, bà Đặng Thị Th1, bà Đặng Thị H1 trình bầy:
Các xác định bố mẹ các khi chết để lại tài sản như trong đơn ca
ông Th đúng. Đối với 02 chỉ vàng tiền phúng viếng thì các nhất trí với
trình bầy của ông L, các bà xác định 02 chvàng anh chị em trong gia đình đã
thống nhất bán được 8.400.000 đồng đưa tiền cho ông L giữ còn tiền phúng
viếng, ông L thực tế quản lý 23.000.000 đồng ông L đã thay mặt anh chị em
trong gia đình đi phúng viếng các đám hiếu khác hiện chỉ còn 16.100.000 đồng.
Nay các bà đồng ý chia di sản thừa kế gồm các tài sản thửa đất số 48, tờ bản đồ số
19, số tiền nhận đền ruộng 50.000.000 đồng, 8.400.000 đồng tiền bán vàng
và 16.100.000 đồng tiền phúng viếng. Đối với tài sản là nhà ở trên đất thì đến nay
đã , hỏng nên ai được hưởng phần đất thì được quản không tính giá trị
thành tiền để chia thừa kế. Đất canh tác của bố mẹ, các anh chị em trong gia đình
đều không yêu cầu chia thừa kế nên các cũng đồng ý không đề nghị Tòa án
giải quyết.
Tại phiên tòa bà H, bà H1 vắng mặt, bà M, bà Th1 có mặt và đều có ý kiến:
Nay Gi xin rút yêu cầu chia thừa kế nhà trên đất ruộng canh tác
thì các bà cũng đống ý và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ Đặng Trần Đ trình bầy:
Cụ con của cố T1, khi nhà nước chia ruộng canh tác cho các định xuất
lao động thì cố T1 đang chung hộ khẩu với cụ T. Khi chia ruộng thì hộ cụ T
gồm cố T1, cụ T, cụ Đ1, ông S nên cố T1 cũng một phần ruộng canh tác
trong hộ cụ T. Cố Tạo khi chết không để lại di chúc, nay phần ruộng canh tác của
cố T1 cụ không yêu cầu chia thừa kế, nếu các con của cụ T, cụ Đ1 nhất quyết yêu
cầu chia thừa kế thì cụ yêu cầu chia thừa kế toàn bộ định xuất ruộng canh tác của
cố T1 để lại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa cụ Đ mặt trình bầy: Nay Gi các anh chị em trong
gia đình không yêu cầu chia thừa kế đối với ruộng canh tác thì cụ đồng ý
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
6
* UBND thị trấn C, huyện T do ông T2 đại diện theo ủy quyền trình bầy:
Hộ cụ Đ1, cụ T năm 1991 được nhà nước giao ruộng canh tác, khi giao
ruộng thì hộ cụ T gồm cố T1, cụ T, cụ Đ1, ông S. Ngày 26/4/2016 UBND thị
trấn C chứng thực văn bản phân chia di sản thừa kế đối với các thửa ruộng
trên, việc chứng thực trên đúng trình tự thủ tục. Nay UBND thị trấn đề nghị
Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Tham gia phiên a, đại din vin kim sát phát biu ý kiến: Quá trình gii
quyết v án t khi th lý đến trước khi m phiên toà Thm phán Thư Toà
án tuân theo đúng trình t t tng, ti phiên toà Hội đồng xét x thc hiện đúng
quy định ca B lut t tng dân s.
Về nội dung vụ án: Đnghị Hội đồng xét xchấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, giao cho ông Th được sử dụng thửa đất số 48, tờ bản đồ số 19
nhưng ông Th phải trích chia bằng tiền cho các hàng thừa kế khác.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia thừa kế là ruộng canh tác.
Về án phí chi phí tố tụng: các đương sự phải chịu chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ định giá tài sản, án ptheo quy định, các đương sđược quyền
kháng cáo, quyền đề nghị Thi hành án dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh
tụng tại phiên toà, căn cứ vào kết quả thảo luận, nghị án.
Hội đồng xét xử thấy:
Vtố tụng: Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan H, bà H1, UBND
thị trấn C do ông T2 đại diện theo ủy quyền đều vắng mặt tại phiên tòa lần hai
không do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng
xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 20/02/2005 cụ Đặng Trần Đ1 chết, ngày
20/01/2016 cụ Nguyễn Thị T chết, đến ngày 20/5/2020 ông Th làm đơn khởi kiện
gửi Tòa án để yêu cầu chia di sản thừa kế của hai cụ. Theo Điều 623 Bộ luật dân
sự thì thời hiệu khởi kiện ba mươi năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Như vậy,
ông Th làm đơn khởi kiện trong thời hạn.
Về yêu cầu chia thừa kế: theo yêu cầu khởi kiện thì nguyên đơn cho rằng
khi cụ Đ1, cụ T còn sống tạo lập tài sản gồm: thửa đất số 48, tờ bản đồ số 19,
diện tích 226,7 m
2
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng đất đứng tên cụ T,
hiện thửa đất trên không tranh chấp và chưa chuyển nhượng, tặng cho ai trên
đất có tài sản là nhà ở cấp 4 xây cay lợp prô; diện tích ruộng canh tác là 2.267 m
2
,
02 chỉ vàng. Sau khi cụ T chết thì nhà nước bồi thường giải phóng mặt bằng diện
tích ruộng được số tiền 50.000.000 đồng tiền phúng viếng được 24.000.000
7
đồng. Hiện nay tiền, vàng thì do ông L giữ, n đất thì không ai trực tiếp quản
lý. Nay ông đề nghị chia tài sản trên theo quy định của pháp luật. Bị đơn là ông L
nhất trí với ý kiến của nguyên đơn về nguồn gốc thửa đất số tiền 50.000.000
đồng, còn tiền khi mẹ ông chết phúng viếng được 24.000.000 đồng, nhưng ông
chỉ được giữ số tiền 23.000.000 đồng và ông đã thay mặt anh chị em trong gia
đình đi phúng viếng các đám hiếu khác số tiền hiện tại chỉ còn 16.100.000 đồng.
Đối với 02 chỉ vàng thì anh chị em trong gia đình đã bán giao cho ông số tiền
8.400.000 đồng. Nay ông không đồng chia tài sản thừa kế trên ông muốn gi
lại để làm nơi thờ cúng tổ tiên, nếu phải chia thừa kế thì ông nhất trí chia số tiền
mà ông đang giữ còn ruộng canh tác thì ông xác định tất cả anh chị em đã lập văn
bản phân chia thừa kế cho ông với ông S nên không còn là tài sản thừa kế, đối với
thửa đất ở ông đề nghị được chia bằng hiện vật, ông không nhất trí chia bằng tiền.
Tại phiên tòa các đương sự trong vụ án đều nhất trí số tiền ông L đang giữ
gồm: 50.000.000 đồng tiền đền ruộng, 8.400.000 đồng tiền bán vàng, tiền
phúng viếng còn lại là 16.100.000 đồng.
Về diện tích đất tài sản trên đất: Tại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thề hiện thửa đất số 48, tờ bản đồ số 19 có diện tích 226,7m
2
, trong đó có
100 m
2
đất 126,7m
2
đất vườn. Nhưng tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ
ngày 15/11/2019 và đo vẽ bằng máy chuyên dụng thì diện tích đất thực tế là 223,1
m
2
, khi đo vẽ thì các đương sự trong vụ án có mặt và chỉ đúng mốc giới, ranh giới
của thửa đất với các hộ liền kề đã được phân đinh rõ, sau khi thông báo kết quả đo
vẽ thì các đương s không ai ý kiến phản đối gì. Do đó cần lấy kết quả đo v
để làm căn cứ giải quyết vụ án. Đối với tài sản nhà trên đất, thì các đương sự
trong vụ án đều xác định năm 2012 khi gia đình thống nhất tách đất cho ông S và
ông Tr thì hai đầu của ngôi nhà nằm vào phần đất của ông S ông Tr. Đến nay,
các đương sự không yêu cầu tính giá trị ngôi nhà để chia thừa kế nên ai được nhận
tài sản này thì phải tháo dỡ diện tích nhà nằm vào phần đất của ông S, ông Tr trên.
Về số tiền ông L đang giữ: các đương sự trong vụ án đều thống nhất số
tiền 50.000.000 đồng tiền đền ruộng, 8.400.000 đồng tiền bán vàng, tiền
phúng viếng còn lại là 16.100.000 đồng
Về ruộng canh tác: Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
xin rút yêu cầu trên, các đương sự khác đều nhất trí không đề nghị chia thừa kế số
ruộng trên. Do đó Hội đồng xét x đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia thừa kế
ruộng canh tác của ông Th, nếu tranh chấp thì quyền khởi kiện lại theo quy
định của pháp luật.
Về quyền được hưởng thừa kế: Do cụ Đ1, cụ T chết không để lại di chúc
nên di sản thừa kế của cụ Đ1, cụ T được phân chia theo pháp luật. Tại thời điểm
8
cụ Đ1, cụ T chết thì bố mẹ của cụ Đ1, cụ T đã chết trước cụ Đ1, cụ T sinh
được 08 người con bà M, H, H1, ông Th, ông L, ông Tr, ông S, Th1.
Do vậy, những người được hưởng di sản thừa kế của cụ Đ1, cụ T gồm: M,
H, bà H1, ông Th, ông L, ông Tr, ông S, bà Th1.
Về giá trị tài sản thừa kế: Tại biên bản định giá tài sản ngày 14/7/2020 thì
giá trtài sản gồm có: đất 800.000.000 đồng đất vườn 5.170.000 đồng, số tiền
ông L đang quản lý là 74.500.000 đồng. Tổng số là 879.670.000 đồng.
Về phân chia di sản thừa kế: Ông Th đề nghị được nhận phần đất ở, đất
vườn có nghĩa vụ trích chia bằng tiền cho các đồng thừa kế khác. Ông L, ông
S, ông Tr thì ý kiến không khả năng nhận tòa bộ diện tích đất trên, các ông
đều đề nghị chia đều diện tích đất trên thành 08 phần đề nghị chia bằng hiện
vật, M, H, H1, Th1 thì đnghị thửa đất trên giao cho ông Th, đối với
phần thừa kế của c được hưởng thì các để lại cho ông Th hưởng. Hội
đồng xét xthấy, hiện thửa đất số 48, tờ bản đồ số 19, diện tích hiện trạng
223,1 m
2
, có chiều dài mặt tiền là 5,98 m. Theo quy định tại Điều 7 Quyết định số
745/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Giang quy định đất đô thị khi tách
thửa phải diện tích đất tối thiểu 24 m
2
trở lên với kích thước mặt tiền tối
thiểu phải từ 3 m trở lên. Đối chiếu với quy định trên thì thấy nếu chia thửa đất
trên thành 08 phần thì không đủ điều kiện tách thửa, do đó ý kiến phân chia thừa
kế bằng hiện vật của ông L, ông S, ông Tr không được chấp nhận. Mặt khác ông
Th nhu cầu sử dụng đất đề nghị được nhận toàn bộ diện tích đất trên n
ông L, ông Tr, ông S xác định không có đủ điều kiện để nhận toàn bộ diện tích đất
trên. Do đó, cần giao cho ông Th sử dụng thửa đất số 48, tờ bản đồ số 19, diện
tích 223,1 m
2
. Nhưng ông Th phải nghĩa vụ trích chia bằng tiền cho các đồng
thừa kế khác. Xác định giá trị thừa kế của mỗi người được hưởng 879.670.000
đồng/8 = 109.958.000 đồng, do ông L đang quản số tiền thừa kế 74.500.000
đồng, do đó khi ông Th trích trả ông L bằng tiền thì cần đối trừ số tiền trên để
trích trả. M, H, H1, Th1 để lại phần thừa kế cho ông Th hưởng nên
ông Th không phải trích trả bằng tiền cho bà M, bà H, bà H1, bà Th1.
Về chi phí định giá tài sản, chi phí đo vẽ sơ đồ hiện trạng thửa đất: Số tiền
chi phí thực tế là 4.900.000 đồng. Do yêu cầu của ông Th được chấp nhận nên các
đương sự cùng phải chịu tiền đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản
theo tỉ lệ phần tài sản mình được hưởng, cụ thể: Ông Th phải chịu 3.062.500 đồng
xác nhận ông Th (do bà Gi đại diện theo ủy quyền) đã nộp đủ số tiền trên. Ông L,
ông Tr, ông S mỗi người phải hoàn trả cho ông Th số tiền 612.500 đồng.
V án phí: Ông Th thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí dân sự
thẩm, ông L, ông Tr, ông S phải chịu án phí dân sự thẩm đối với tài sản được
9
giao.
V quyn kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy
định tại Điều 271, 273 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228;
khoản 1, khoản 2 Điều 157; khoản 1, khoản 2 Điều 165; khoản 2 Điều 244; Điều
271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; §iÒu 612, Điều 613; Điu 623; Điu 649;
Điu 650; Điu 651; Điu 660; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Điểm đ khoản 1
Điều 12; khoản 1 Điều 26; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Xử:
- Xác nhận diện ch đất 223,1m
2
(trong đó 100 m
2
đất ở, 123,1 m
2
đất
vườn) tại thửa đất số 48, tờ bản đồ số 19, địa chỉ thửa đất tổ dân phố Đ, thị trấn
C, huyện T, tỉnh Bắc Giang là di sản thừa kế;
- Xác nhận stiền 74.500.000 đồng ông Đặng Trần L đang quản di
sản thừa kế.
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Trần Th:
- Giao cho ông Đặng Trần L sở hữu số tiền 74.500.000 đồng (Bẩy mươi
triệu lăm trăm nghìn đồng) mà ông L đang quả lý.
- Giao cho ông Đặng Trần Th sở hữu, sử dụng diện tích đất 223,1m
2
(trong
đó có 100 m
2
đất ở, 123,1 m
2
đất vườn) tại thửa đất số 48, tờ bản đồ số 19, địa chỉ
thửa đất tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, trên đất nhà cấp
bốn, diện tích đất có các cạnh cụ thể:
Cạnh thứ nhất (mặt tiền): từ điểm H đến điểm G dài 5,98 m
Cạnh thứ hai (mặt đáy): từ điểm A đến điểm B dài 5,75 m
Cạnh thứ ba (giáp nhà ông S): từ điểm H đến điểm A dài 38,85 m
Cạnh thứ tư (giáp nhà ông Tr: từ điểm G đến điểm B dài 37,63 m
(Có sơ đồ kèm theo).
Nhưng ông Đặng Trần Th phải trích chia bằng tiền cho ông Đặng Trần L số
tiền 35.458.000 đồng (Ba mươi lăm triệu, bốn trăm lăm mươi tám nghìn đồng),
ông Đặng Trần Tr số tiền 109.958.000 đồng (một trăm linh chín triệu, chín trăm
lăm mươi tám nghìn đồng), ông Đặng Trần S số tiền 109.958.000 đồng một trăm
linh chín triệu, chín trăm lăm mươi tám nghìn đồng.
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không trả được hoặc trả không đầy
10
đủ số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian
chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi trả xong.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia di sản thừa kế đất ruộng canh tác
của ông Đặng Trần Th.
4. V chi phí tố tụng và án phí:
Ông Đặng Trần Th phải chịu 3.062.500 đồng (Ba triệu không trăm sáu
mươi hai nghìn lăm trăm đồng) chi phí tố tụng, xác nhận ông Th (do Gi đại
diện theo ủy quyền) đã nộp đủ số tiền trên. Ông Đặng Trần L, ông Đặng Trần S,
ông Đặng Trần Tr mỗi người phải hoàn trả cho ông Đặng Trần Th tiền chi phí tố
tụng là 612.500 đồng (Sáu trăm mười hai nghìn, lăm trăm đồng).
Miễn án phí chia thừa kế cho ông Đặng Trần Th.
Ông Đặng Trần L phải chịu 5.498.000 đồng (Năm triệu bốn trăm chín mươi
tám nghìn đồng) án pdân sự thẩm, ông Đặng Trần Tr phải chịu 5.498.000
đồng (Năm triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, ông
Đặng Trần S phải chịu 5.498.000 đồng (Năm triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm,
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự mt đưc quyn kháng cáo bn án trong thi hn 15 k t
ngày tuyên án.
Đương sự vng mt đưc quyn kháng cáo bn án trong thi hn 15 ngày,
k t ngày nhận được tống đạt hp l bn án./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Giang;
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- VKSND huyện T;
- Chi cục THADS huyện T;
- Đương sự;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Bùi Tư Duy
Tải về
Bản án số 47/2020/DS-ST Bản án số 47/2020/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất