Bản án số 46/2024/DSST ngày 27/06/2024 của TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 46/2024/DSST

Tên Bản án: Bản án số 46/2024/DSST ngày 27/06/2024 của TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bảo Lâm (TAND tỉnh Cao Bằng)
Số hiệu: 46/2024/DSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/06/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Xét xử
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN B - LÂM ĐỒNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
______________________________ _________________________
Bản án số: 46/2024/DS-ST.
Ngày: 27 - 6 - 2024.
V/v: Tranh chấp quyền về lối đi qua
giữa ông T và ông L, bà C.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Hồ Thị Hồng Liên
2. Bà Lê Thị Sáu
Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vương - Thư Tòa án, Tòa án nhân
dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thanh Lĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm
Đồng xét xử thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ số
34/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2022 về việc Tranh chấp quyền về lối đi qua
theo Quyết định đưa ván ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 3 m
2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Phàn Phúc T, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Thôn 1, N,
huyện B, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt).
* Bị đơn: Vợ chồng ông Bùi Văn L, sinh năm: 1967 Nguyễn Thị Thu
C, sinh m: 1968. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh m Đồng. (ông L mặt,
bà C vắng mặt).
Người đại diện theo y quyền của bị đơn: Ông Nguyễn M, sinh năm: 1966.
Địa chỉ: Số 159/2 đường Trần Quốc Toản, phường Y, Thành phố X, tỉnh Lâm Đồng.
Văn bản ủy quyền lập ngày 13 tháng 3 năm 2023. (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Bùi Vạn LQ1, sinh m: 1973. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh
Lâm Đồng. (có mặt).
2. Vợ chồng ông Đỗ Viết LQ2, sinhm: 1965 và bà Thị LQ3, sinh năm:
1966. Địa chỉ: Thôn 1, N, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. (ông LQ2 mặt, LQ3
đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2
3. Ông K’ LQ4, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh m
Đồng. (có mặt).
4. Ka LQ5, sinh năm: 1958. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh Lâm
Đồng.
5. Ông K’ LQ6, sinh năm: 1966. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh m
Đồng.
6. Ông K’ LQ7, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh m
Đồng.
7. Ông K’ LQ8, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh m
Đồng. (có mặt).
8. Ông K’ LQ9, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh m
Đồng. (có mặt).
9. Ông K’ LQ10, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh Lâm
Đồng.
10. Ông K’ LQ11, sinh m: 1993. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh Lâm
Đồng.
11. Ka LQ12, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh Lâm
Đồng.
12. Ka LQ13, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh Lâm
Đồng.
13. Ông Nguyễn Văn LQ14, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Thôn 1, xã N, huyện B,
tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của ông K’ LQ4, Ka LQ5, ông K’ LQ6, ông
K’ LQ7, ông K’ LQ8, ông K’ LQ9, ông K’ LQ10, ông K’ LQ11, Ka LQ12, Ka
LQ13 ông Nguyễn Văn LQ14: Ông Phàn Phúc T, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Thôn
1, N, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Văn bản ủy quyền lập ngày 28 tháng 4 năm 2022.
(có mặt).
14. Ông K’ LQ15, sinh m: 1988. Địa chỉ: Thôn 2, N, huyện B, tỉnh Lâm
Đồng. (đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 12 năm 2021 trong quá trình xét xử,
nguyên đơn ông Phàn Phúc T trình bày:
Ông T 12 hộ dân khác chủ sử dụng các thửa đất số 353, 370, 371, 253,
265, tờ bản đồ số 16 (mới) N đang cùng sử dụng 01 lối đi chung tại Thôn 1,
N, huyện B, lối đi y được hình thành từ năm 1991, đường đi rộng 3,5m, chiều dài
được nối tiếp giáp từ đường Thôn 1 đi Thôn 10, xã N, chạy sâu vào đến giáp suối.
Qúa trình sử dụng lối đi ổn định không tranh chấp với ai. Đến năm 2021
ông Bùi Vạn LQ1 em của ông Bùi Văn L, Nguyễn Thị Thu C người sử dụng
đất bên ngoài đã tự ý rào, đào đường ngăn cản không cho nhân dân đi lại. Ông T
3
các hộ dân phía trong đã làm đơn đề nghị UBND N các quan chuyên môn
của huyện B giải quyết nhưng không giải quyết dứt điểm.
Vì vậy, ông T khởi kiện yêu cầu công nhận cho ông T và 12 hộ dân phía trong
01 con đường đi chung diện tích 322m
2
kích thước như trong họa đồ đo đạc ngày
01/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn vợ chồng ông Bùi Văn L, bà Nguyễn Thị Thu C và người đại diện theo
ủy quyền là ông Nguyễn M trình bày:
Khoảng năm 1992 khi ông L vào làm vườn trên thửa đất số 109 thì được ông
K’ S là chủ đất chỉ dẫn ranh giới, khi đó chỉ có 01 lối mòn để dẫn đi vào suối tắm
rửa (bà con dân tộc thiểu số) sử dụng. Sau này gia đình ông L chặt phê để mở
rộng lối đi y để cho xe ben vào chở cát. Nay, vchồng ông L, C không đồng ý
mở lối đi theo yêu cầu của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Vạn LQ1 trình bày:
Ông LQ1 em trai của ông Bùi Văn L được vợ chồng ông L, C cho mượn
đất để canh tác. Từ khi gia đình ông LQ1 làm ờn khu vực y năm 1991 - 1992,
lúc đó xung quanh không có người làm vườn. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên gia
đình ông phá phê để mở đường đi xuống suối khai thác cát. Sau đó vchồng
ông LQ2, bà LQ3 đến mua đất giáp ranh thì xảy ra tranh chấp.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Đỗ Viết LQ2, Thị
LQ3 trình bày:
Vợ chồng ông LQ2, LQ3 chủ sử dụng thửa đất số 158, tờ bản đồ số 13
(cũ) nay các thửa đất số 354, 355, tờ bản đsố 16 (mới) tọa lạc tại Thôn 1, N,
huyện B đã được cấp GCNQSDĐ mang tên Thị LQ3. Gia đình ông LQ2,
LQ3 đã sử dụng ổn định thửa đất y từ năm 1993 đến nay, không tranh chấp với
ai. Quá trình sử dụng gia đình ông LQ2, bà LQ3 đã y dựng hàng rào làm ranh giới
nhà đất cụ thể, rõ ràng từ năm 2006.
Về con đường đi hiện nay ông Phàn Phúc T đang tranh chấp đã có từ
trước năm 1993 nhưng ông LQ2, LQ3 không xác định diện ch cụ thể bao
nhiêu mét vuông. Con đường này các hộ n phía trong đã sử dụng để đi lại t
trước đến nay.
Theo như Họa đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện B
thì 119,3m
2
đất thuộc đường đi nhưng đã được cấp GCNQSDĐ cho gia đình
ông LQ2, LQ3 thì ông đồng ý để cho các hộ dân làm đường đi không yêu
cầu ai phải bồi thường gì. Gia đình ông LQ2, LQ3 chỉ sử dụng diện tích đất đúng
theo hiện trạng đúng theo hàng rào ranh giới gia đình ông đã xây từ năm
2006. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K’ LQ4, Ka LQ5, ông K’ LQ6,
ông K’ LQ7, ông K’ LQ8, ông K’ LQ9, ông K’ LQ10, ông K’ LQ11, Ka LQ12, bà
Ka LQ13, ông Nguyễn Văn LQ14 ông K’ LQ15 trình bày: Thống nhất như lời
trình bày và yêu cầu ông Phàn Phúc T đại diện cho các hộ dân đứng ra khởi kiện.
4
Đề nghị Tòa án công nhận cho chúng tôi con đường đi chung diện tích 322m
2
có kích
thước như trong họa đđo đạc ngày 01/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Đại diện Viện kiểm t nhân dân huyện B tham gia phiên tòa đã phát biu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi th
cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án phát biểu ý kiến về việc giải
quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B đề nghị:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phàn Phúc T;
+ Công nhận con đường đi diện tích 322m
2
theo họa đồ đo đạc lập ngày
01/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện B, tỉnh Lâm Đồng con
đường đi chung của ông Phàn Phúc T và các hộ dân;
+ Ông Phàn Phúc T và các hộ dân không phải bồi thường giá trị đất.
- Về chi phí tố tụng và án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa; căn cứ vào kết qutranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ông Phàn Phúc T đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân n huyện B, tỉnh
Lâm Đồng giải quyết về việc Tranh chấp quyền về lối đi quavới vợ chồng ông L,
C. Theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên tòa m nay, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị
LQ3 ông K’ LQ15 vắng mặt nhưng đơn đề nghị xét xử vắng mặt. vậy, Hội
đồng xét xử vẫn tiến hành t xử vắng mặt đương sự phù hợp với quy định tại
Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Xuất phát từ việc ông Phàn Phúc T 12 hộ dân sinh sống tại Thôn 1, N,
huyện B, tỉnh Lâm Đồng cho rằng con đường đi chung rộng 3,5m, chiều dài được nối
tiếp giáp từ đường Thôn 1 đi Thôn 10, N, chạy sâu vào đến giáp suối được hình
thành từ trước m 1991. Qúa trình sử dụng lối đi ổn định không tranh chấp
nhưng đến năm 2021 ông Bùi Vạn LQ1 em của ông Bùi Văn L, Nguyễn Thị
Thu C đã tự ý rào, đào đường ngăn cản không cho nhân dân đi lại nên hai bên đã xảy
ra tranh chấp.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của đương sự
5
trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay thì thấy rằng:
2.1- Con đường đi chung chiều rộng khoảng 3,5m, chiều dài được nối tiếp
giáp từ đường Thôn 1 đi Thôn 10, N, huyện B chạy sâu vào đến giáp suối do ông
T 12 hộ dân đang sử dụng m đường đi chung. Theo họa đồ đo đạc lập ngày
01/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Lâm Đồng đo đạc
theo sự chỉ dẫn của các bên đương sự diện tích 322m
2
(bút lục số 114). Con
đường đi này nằm giữa 02 thửa đất số 109, tờ bản đồ số 13 do hộ ông Bùi Văn L sử
dụng (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và thửa đất số 158, tờ bản
đồ số 13 do hộ bà Thị LQ3 sử dụng (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất).
2.2- Về nguồn gốc con đường đi:
Theo ông Phàn Phúc T các hộ dân sinh sống tại khu vực y từ trước đến
nay cùng với kết quả kiểm tra, đo đạc, xác minh, hiện trạng và ý kiến trình bày tại
các biên bản m việc ngày 25/7/2018, 16/8/2018, 29/8/2018, 06/9/2018, 11/9/2018
và ngày 08/10/2019 giữa các hộ gia đình, cá nhân sinh sống, sử dụng đất từ lâu, đồng
thời theo Báo cáo số 93/BC-UBND ngày 26/11/2018, Báo o số 65/BC-UBND
ngày 20/8/2019 của UBND xã N, huyện B đều khẳng định con đường đi này đã có từ
khoảng m 1975, trước thời điểm gia đình ông Bùi Văn L bắt đầu sử dụng thửa đất
này.
Theo lời trình bày của ông Bùi Văn LQ1 tại các biên bản làm việc ngày
17/8/2018 ngày 11/9/2018 do UBND N lập thì ông Bùi Văn L xác nhận vào
khoảng m 1992 khi ông L vào làm vườn trên thửa đất số 109 thì được ông K’ S
chủ đất chỉ dẫn ranh giới, khi đó chỉ có 01 lối mòn để dẫn đi vào suối tắm rửa (bà
con dân tộc thiểu số) sử dụng. Sau này do hoàn cảnh kinh tế nên gia đình ông L đã
phá cà phê và mở lối điy để mở rộng lối đi này để cho xe ben vào chở cát.
Như vậy, căn cứ để khẳng định con đường đi này lối đi chung của ông
Phàn Phúc T các hộ dân đang sinh sống, làm vườn phía trong được hình thành
từ trước khi gia đình ông L mua lại của ông K’S diện tích đất thuộc thửa đất số 109,
tờ bản đồ số 13 N, huyện B.
2.3- Việc trước đây khi UBND N giải quyết tranh chấp đất đai có xác minh
thì thửa đất số 109, tờ bản đồ số 13 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho Nguyễn Thị Thu C (vợ ông Bùi Văn L) nhưng quá trình sử dụng kiểm tra
hồ sơ địa chính thì thửa đất này trước đây đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho ông K’ R (hiện nay đã chết) nhưng thực tế tông K’R không sử dụng đất tại
thửa đất này nên UBND N đã n bản số 214/TTr-UBND ngày 06/10/2015 đề
nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh số hiệu thửa đất từ thửa đất số 109, tờ bản đồ
số 13 xã N về thửa đất số 76, tờ bản đồ số 13 xã N (lý do: sai số hiệu thửa đất) và sau
đó đã được điều chỉnh cho đúng với thực tế. Còn diện tích đất hiện nay gia đình
ông L, C đang sử dụng (cho em trai ông LQ1 canh tác) vẫn chưa được cơ quan
nhà nước thẩm quyền công nhận quyền sdụng đất (chưa được cấp giấy chứng
6
nhận quyền sử dụng đất).
2.4- Tòa án đã tiến hành xác minh Ka P - Trưởng Thôn 1, N, huyện B
thì đây con đường đi duy nhất, ngắn nhất thuận tiện nhất để ông T các hộ
dân đi vào làm vườn và sinh sống tại Thôn 2, xã N, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
2.5- Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông Phàn Phúc T đối với vợ chồng ông Bùi Văn L, Nguyễn
Thị Thu C; công nhận con đường đi nằm giữa 02 thửa đất số 109, tờ bản đồ số 13
(cũ) do hộ ông Bùi n L sử dụng (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất) thửa đất số 158, tờ bản đồ số 13 () do hộ Thị LQ3 sử dụng (đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) là con đường đi chung của ông Phàn Phúc T
và các hộ dân gồm ông K’ LQ4, bà Ka LQ5, ông K’ LQ6, ông K’ LQ7, ông K’ LQ8,
ông K’ LQ9, ông K’ LQ10, ông K’ LQ11, Ka LQ12, Ka LQ13, ông Nguyễn
Văn LQ14, ông K’ LQ15. Ông Phàn Phúc T và các hộ dân không phải bồi thường giá
trị đất cho vợ chồng ông Bùi Văn L, bà Nguyễn Thị Thu C.
[3] Về chi phí tố tụng: Toàn bộ số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi
phí đo vẽ và thẩm định giá tài sản là 36.336.000đ; trong đó nguyên đơn ông T đã nộp
tạm ứng stiền 16.539.000đ, bị đơn vợ chồng ông L, bà C (ông LQ1 đại diện nộp)
đã nộp tạm ứng số tiền 19.797.000đ yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp
luật. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên cần buộc vợ
chồng ông L, C phải chịu toàn bộ số tiền chi phí này, buộc vợ chồng ông L, C
phải trả lại cho ông T số tiền chi phí mà ông T đã nộp tạm ứng là 16.539.000đ.
[4] Về án phí: Vụ kiện không giá ngạch, vợ chồng ông L, C phải chịu
300.000đ tin án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ông T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 254 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban
Thường vụ Quốc hội quy định vềMức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phàn Phúc T đối với vợ
chồng ông Bùi n L, Nguyễn Thị Thu C về việc Tranh chấp quyền về lối đi
qua”.
1.1- Công nhận con đường đi nằm giữa 02 thửa đất số 109, tờ bản đồ số 13
(cũ) N, huyện B, tỉnh Lâm Đồng do hộ ông Bùi Văn L sử dụng (chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và thửa đất số 158, tờ bản đồ số 13 (cũ) N do
7
hộ Thị LQ3 sử dụng (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) con
đường đi chung của ông Phàn Phúc T các hộ dân gồm ông K’ LQ4, Ka LQ5,
ông K’ LQ6, ông K’ LQ7, ông K’ LQ8, ông K’ LQ9, ông K’ LQ10, ông K’ LQ11,
Ka LQ12, bà Ka LQ13, ông Nguyễn Văn LQ14, ông K’ LQ15. Vị trí, kích thước,
hình thể đường đi theo Họa đồ đo đạc ngày 01/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Lâm Đồng (bút lục số 114).
1.2- Ông Phàn Phúc T các hộ n gồm ông K’ LQ4, Ka LQ5, ông K’
LQ6, ông KLQ7, ông K’ LQ8, ông K’ LQ9, ông K’ LQ10, ông K’ LQ11, Ka
LQ12, bà Ka LQ13, ông Nguyễn Văn LQ14, ông K’ LQ15 không phải bồi thường
giá trị đất cho vợ chồng ông Bùi Văn L, bà Nguyễn Thị Thu C.
2/ Về chi phí tố tụng:
Buộc vợ chồng ông Bùi Văn L, Nguyễn Thị Thu C phải trả lại cho ông
Phàn Phúc T số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ thẩm định
giá tài sản là 16.539.000đ (Mười sáu triệu năm trăm ba mươi chín ngàn đồng).
3/ Về án phí:
Buộc vợ chồng ông Bùi Văn L, bà Nguyễn Thị Thu C phải chịu 300.000đ (Ba
trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ông Phàn Phúc T không phải chịu tiền án pdân sự thẩm theo quy định
của pháp luật. Ông Phàn Phúc T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp
500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Tòa án s
0004331 ngày 07 tháng 3 năm 2022 ca Chi cc Thi hành án dân s huyện B, tỉnh
Lâm Đồng.
4/ Về quyền kháng cáo: Đương sự quyền làm đơn kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày M án (27/6/2024), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc
không mặt khi M án do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày
nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện B; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đã ký
Nguyễn Đức Trường
8
Tải về
Bản án số 46/2024/DSST Bản án số 46/2024/DSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 46/2024/DSST Bản án số 46/2024/DSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất