Bản án số 45/2021/HS-ST ngày 20/09/2021 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về tội vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 45/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 45/2021/HS-ST ngày 20/09/2021 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về tội vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lộc Bình (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 45/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/09/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 45/2021/HS-ST
Ngày 20-9-2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Nông Thị Huyền Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Hoàng Thị Hiệu;
Ông Hoàng Văn Vận.
- Thư phiên toà: Vương Thị Choi- T Toà án nhân dân huyện
Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên toà: Ông Lê Chí Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 m 2021 tại trụ sởa án nhânn huyn Lộcnh, tỉnh
Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thẩm thlý số: 36/2021/TLST-
HS ngày 06 tháng 8 m 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra t xử số:
37/2021/XXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số
10/2021/HHST- ny 30/8/2021 đối với c bị cáo:
1. Duy T, sinh ngày 29 tháng 11 năm 1993 ti M, thành ph S, tnh
Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và ch : Thôn P, xã M, thành ph S,
tnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động t do; trình độ hc vn: 7/12; dân tc:
Nùng; gii tính: Nam;n giáo: Không; Quc tch: Vit Nam; con ông Văn N
(tên gọi khác Văn G) Đỗ Th D; v Trnh Ngc A 02 con (con
lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017); tin án, tin s: Không ; nhân thân:
Chưa bị truy cu trách nhim hình s, chưa bị x pht vi phạm hành chính, chưa
b xk lut; b tm gi, tm giam t ngày 01/4/2021 ti Tri tm giam Công
an tnh Lạng Sơn đến ngày 17/9/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh;
mt.
2. Hoàng Th C, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1992 ti huyn H, tnh Lng
Sơn; nơi đăng hộ khẩu thường trú ch : Thôn P, M, thành ph S, tnh
Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao đng t do; trình độ hc vn: 6/12; dân tc: Tày; gii
tính: N; tôn giáo: Không; Quc tch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn U (đã chết)
và bà Vi Th B; có chồng là Hoàng Văn C và 02 con (con lớn sinh năm 2010, con
nh sinh năm 2020); tin án, tin s: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cu trách
2
nhim hình s, chưa bị x pht vi phạm hành chính, chưa bị x lý k lut; b tm
gi t ngày 01/4/2021 đến ngày 10/4/2021 được thay đổi sang biện pháp ngăn
chn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/4/2021; có mt.
- Người làm chứng:
1. Anh Lộc Văn N, vắng mặt;
2. Anh Hoàng Văn C, vắng mặt;
3. Chị Hoàng Thị B, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2017, Hoàng Thị C thường xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc
làm thuê. Sau khi nhận được tiền công là tiền Trung Quốc, Hoàng Thị C mang về
Việt Nam đổi sang tiền Việt Nam với người phụ nữ tên H”, khoảng 35 tuổi
(không địa chỉ, họ tên cụ thể) tại khu vực sân vận động Đông Kinh thuộc
phường V, thành phố S. Ngày 20/3/2021, đối tượng H gặp Hoàng Thị C tại quán
bánh mỳ trên đường Chu Văn A, phường Đ, thành phố S nói về việc cần tìm
người để vận chuyển trái phép tiền Trung Quốc qua biên giới, tiền công
5.000.000 đồng. Do Hoàng Thị C đang nuôi con nhỏ, không trực tiếp vận chuyển
tiền được nên đã rủ Hà Duy T cùng nhau vận chuyển tiền Nhân dân tệ sang Trung
Quốc, Duy T đồng ý. Khoảng 09 giờ ngày 31/3/2021, H gọi điện bảo Hoàng
Thị C vận chuyển khoảng 40.000 NDT (Nhân dân tệ) sang Trung Quốc. Hoàng
Thị C gọi điện cho Hà Duy T cùng đi vận chuyển tiền. Khoảng 10 gicùng ngày,
Duy T đến quán Karaoke Itại thị trấn D, huyện L, tỉnh Lạng Sơn gặp Hoàng
Thị C và lấy số điện thoại của H đchủ động trao đổi. Duy T liên lạc với H
qua tài khoản Zalo tên “Đổi tiền Trung", H hẹn Hà Duy T đến khu vực Nhà máy
Xi măng thuộc khối 8, phường Đ, thành phố S đnhận tiền vận chuyển sang
Trung Quốc. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Duy T điều khiển xe ô Huyndai
GETZ BKS 12H-9883 (xe của gia đình Hoàng Thị C) đến gặp H tại khu vực Nhà
máy Xi măng cũ. Tại đây, H đưa tiền nói với Duy T khoảng 07 giờ sáng
ngày 01/4/2021 vận chuyển tiền đến khu vực mốc biên giới 1257 thuộc thôn C,
T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn sẽ người Trung Quốc đến nhận tiền. Duy T
đồng ý và mang tiền về thị trấn D, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 13 giờ cùng
ngày, Duy T đến quán Karaoke “Nhim Sù" nói cho Hoàng Thị C biết sáng
sớm ngày 01/4/2021 sẽ đi giao tiền tại khu vực mốc biên giới 1257 thuộc thôn C,
T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Duy T không nói cho Hoàng Thị C biết mình
đã nhận tiền. Để đảm bảo an toàn, cả hai hẹn nhau đi xem đường trước. Duy
T điều khiển xe ô Huyndai GETZ BKS 12H-9883 đi trước mang tiền vào
khu vực biên giới để cất giấu trong bụi cây. Đến 15 giờ cùng ngày, Hoàng Thị C
rủ chị gái Hoàng Thị B cùng đi vào khu vực biên giới thuộc thôn O, T, huyện
L, tỉnh Lạng Sơn nhưng nói đi chơi. Hai người đi bằng xe khoảng hơn
01 tiếng thì gặp Hà Duy T đang đứng chờ ở cạnh đường. Sau đó cả ba cùng đi xe
3
máy lên khu vực biên giới. Khi đến gần chốt kiểm tra của lực lượng Biên phòng
đồn Chi Lăng đặt tại thôn Có, T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì Hà Duy T
xuống xe bảo Hoàng Thị C, Hoàng Thị B đi tiếp qua chốt Biên phòng để lên
đường tuần tra biên giới.Duy T nói cho Hoàng Thị C biết đâytuyến đường
sẽ đi vận chuyển tiền. Khi qua chốt Biên phòng thăm đường xong, Hoàng Thị C,
Hoàng Thị B quay lại gặp Hà Duy T cùng nhau quay về quán Karaoke “I”.
Khoảng 02 giờ sáng ngày 01/4/2021, Hà Duy T đến quán Karaoke “I” gọi
Hoàng Thị C dậy để đi giao tiền. Do sợ lực lượng chức năng phát hiện, cả hai nhờ
chị Hoàng Thị Banh Lộc Văn N nhân viên của quán Karaoke Iđiều khiển
02 xe mô tô chở Hà Duy T, Hoàng Thị C vào khu vực biên giới nhưng không nói
mục đích chuyến đi. Khoảng 04 giờ sáng cùng ngày, cả bốn người đến khu vực
biên giới cách lán trực của lực lượng Biên phòng đồn Chi Lăng khoảng 02km.
Hoàng Thị C bảo chị Hoàng Thị B anh Lộc Văn N điều khiển xe về trước
dặn Hoàng Thị B bảo Hoàng Văn C (chồng Hoàng Thị C) đi xe ô vào đón
Hoàng Thị C. Lúc này, Duy T mới cho Hoàng Thị C biết Duy T đã giấu
tiền sẵn từ chiều hôm trước. Rồi Duy T đi lấy tiền và cả hai đi bộ lên khu vực
biên giới. Khi đến sát hàng rào biên giới, Hà Duy T mang túi tiền đi giao. Hoàng
Thị C ngồi đợi ở rừng thông gần đó và gọi điện thoại bảo Hoàng Văn C đến đón.
Do không thấy người nhận tiền nên Hoàng Thị C gọi điện thoại cho H nhưng
không liên lạc được. Đến 07 giờ sáng cùng ngày, khi Duy T và Hoàng Thị C
đang đi về phía xe ô tô do Hoàng Văn C lái đến đón thì bị lực lượng Biên phòng
đồn Chi Lăng phát hiện. Duy T Hoàng Thị C bỏ trốn lên đồi bị lực lượng
Biên phòng đồn Chi Lăng bắt giữ, thu giữ số tiền 360.170 NDT gần khu vực mốc
1257 thuộc thôn C, T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn vào khoảng 10 giờ cùng ngày.
Khi bỏ trốn, Hoàng Thị C làm rơi điện thoại, Duy T xóa toàn bộ lịch sử liên
lạc với H trong 02 điện thoại.
Tại Kết luận giám định số 205/KLGD-PC09 ngày 03/4/2021 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận, toàn bộ số tiền 360.170 NDT trên
tiền thật. Căn cứ Công văn số 347/LAS-THINS&KSNB ngày 05/4/2021 của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn về việc cung cấp thông
tin tỷ giá, xác định số tiền 360.170 NDT giá trị tương đương 1.274.634.427
đồng.
Tại các lời khai trong hồ ván, những người làm chứng chị Hoàng
Thị B, anh Lộc Văn N và anh Hoàng Văn C chứng kiến việc Duy T và Hoàng
Thị C đi vào khu vực biên giới nhưng không biết mục đích của Duy T
Hoàng Thị C.
Bản o trạng số: 101/CT-VKS-LB, ngày 06 tháng 8 năm 2021 của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Hà Duy T và Hoàng Thị C về
tội về tội Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới theo quy định tại khoản 3
Điều 189 Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn chuẩn bxét xử, bị cáo Duy T đã nộp bảo đảm thi hành
án số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) theo Biên lai thu tin s:
4
AA/2015/0006575 ngày 15 tháng 9 năm 2021 100.000.000 đồng (một trăm
triệu đồng) theo Biên lai thu tin số: AA/2015/0006577 ngày 20 tháng 9 năm 2021
ti Chi cc Thi hành án dân s huyn L, tnh Lạng Sơn. Bị cáo Hoàng Thị C đã
nộp bảo đảm thi nh án số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) theo
Biên lai thu tin số: AA/2015/0006575 ngày 15 tháng 9 năm 2021 và 100.000.000
đồng (một trăm triệu đồng) theo Biên lai thu tin s: AA/2015/0006578 ngày 20
tháng 9 năm 2021 tại Chi cc Thi hành án dân s huyn L, tnh Lạng Sơn.
Tại phiên toà, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của nh như nội
dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên
quyết định truy tố đề nghHội đồng t xử: Tuyên bcác bị cáo Duy T,
Hoàng Thị C phạm tội Vận chuyển trái pp tiền tệ qua biên giới. Áp dụng khoản
3 Điều 189, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58
Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Hà Duy T Hoàng Thị C, xử phạt
các bị cáo mỗi người từ 1.000.000.000 đồng đến 1.200.000.000 đồng để nộp ngân
sách nhà nước, được khấu trừ vào số tiền bị cáo Hà Duy T đã nộp là 300.000.000
đồng số tiền bị o Hoàng Thị C đã nộp 500.000.000 đồng để bảo đảm thi
hành án. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng nh sự
năm 2015, đề nghị: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 360.170 Nn dân tệ (NDT)
gồm 3.732 tờ tiền Trung Quốc gồm 3.552 tờ mệnh giá 100 NDT, 66 tờ mệnh giá
50 NDT, 53 tờ mệnh giả 20 NDT, 61 tờ mệnh giá 10 NDT (hiện tạm gửi tại Kho
bạc Nhà nước tỉnh Lạng Sơn). Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi nilon quai xanh,
màu trắng sữa, kích thước 34cm x 43,5cm. Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà
nước 02 điện thoại di động thu giữ của Hà Duy T, gồm: 01 điện thoại di động nhãn
hiệu SAMSUNG màu đen, cũ đã qua sử dụng, số kiểu máy SM G770F/DS, số seri
RF8N90WV9CZ, n trong lắp 02 sim Vinaphone số thuê bao trả trước
0832.129.998 0826.361.269; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU u vàng
- đen, máy đã qua sử dụng, số IMEI 355180715281714, bên trong lắp 01 sim
Viettel số thuê bao trả trước 0374.019.823. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bcáo Hà Duy T Hoàng Thị C không có ý kiến tranh luận. Lời nói
sau ng, các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] V t tng: Ti phiên tòa vng mt nhng ngưi làm chng nhưng đã
li khai ti cơ quan điều tra, vic vng mt ca h không ảnhởng đến quá trình
xét x v án, Hội đồng xét x căn cứ Điu 293 ca B lut T tng hình s để tiếp
tc xét x v án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của B luật Tố tụng hình sự
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những
5
người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành
tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực
hiện là hợp pháp.
[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhau, phợp
với lời khai tại quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang
những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, do đó có n cứ xác định: Ngày 01/4/2021, ti khu vực biên giới mốc 1257
thuộc thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, các bị cáo Duy T Hoàng Thị
C đã có hành vi vận chuyển trái phép số tiền Trung Quốc là 360.170 Nhân dân t
(ba trăm sáu mươi nghìn một trăm bẩy mươi Nhân dân tệ) theo tỷ giá quy đổi
ngày 05/4/2021 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn có
giá trị tương đương 1.274.634.427 đồng (một tỷ hai trăm bảy mươi triệu sáu
trăm ba mươi nghìn bốn trăm hai mươi bảy đồng). Hành vi của các bị cáo
Duy T, Hoàng Thị C đã cấu thành tội Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới
theo quy định tại khoản 3 Điều 189 của Bộ luật Hình sự. vậy, Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật.
[4] c bo người đủ năng lực trách nhiệm hình s đủ độ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Các bị cáo nhận thức được hành
vi vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới là xâm phạm đến hoạt động quản
kinh tế của nnước, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế tình hình an ninh
trật tự tại khu vực biên giới Việt Nam Trung Quốc nhưng các bị cáo vẫn cố ý
thực hiện vì mục đích vụ lợi.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo
thành khẩn khai báo, ăn năn hi cải v hành vi phạm tội của mình nên được
nh tiết giảm nhẹ trách nhiệmnh sự quy định tại đim s khoản 1 Điều 51 Bộ
lut nh sự m 2015. B cáo Hoàng Th C đang nuôi con nh (sinh năm
2020), b cáo Hà Duy T là lao động cnh trong gia đình trách nhim ni
dưỡng, chăm sóc bố m và hai con nh(con lớn sinh năm 2015, con nh sinh
m 2017; b cáo đã ly thân với v t năm 2020); c b cáo Hoàng Th C
Duy T (gia đình nộp thay) mỗi người đóng góp ng h qu phòng chống
dịch bệnh Covid 19 của đa phương được s tiền 2.000.000 đng nên c b
o được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy đnh tại
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình s năm 2015.
[6] Vtình tiết tăng nặng trách nhiệm nh sự: Các bị cáo không tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về nhân thân: Trước khi phạm tội các bị cáo chưa bị xử lý trách nhiệm
hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, người
nhân thân tốt.
[8] Vnh phạt chính: Đánh giá tính chất, mức đ nguy him của hành
vi phạm tội, hậu qu của tội phm, c tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tch nhim
nh s và nn tn ca các b o, Hội đồng xét xthấy rằng nh vi phạm
6
tội của các bị cáo là nghiêm trọng, tuy đồng phạm nhưng mang nh chất giản
đơn. Bị cáo Hà Duy T người trực tiếp liên lc nhận tiền Trung Quc với
đối tượng tên H, trc tiếp cất giấu và vận chuyn trái pp tiền tệ qua biên giới,
vai t chính và tích cực trong vụ án. B cáo Hoàng Thị C người giới thiệu
Duy T với đối tượng tên H, giúp sc cho bị cáo Duy T vận chuyn ti
phép tiền t qua bn giới, vai t th yếu so với bị cáo Hà Duy T. t thấy,
ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc hội, chấp hành
đúng chính sách pháp luật, không vi phạm các điều pháp luật cấm; nhiều
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự, người nhân thân tốt, nơi thường trú cụ thể, ràng, trong thời
gian tại ngoại vừa qua các bị cáo không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật.
Các bị cáo lao động tự do tham gia việc kinh doanh cùng gia đình, các bị
cáo có tài sản, có thu nhập. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo Hà Duy T đã
nộp được số tiền 300.000.000 đồng, bị cáo Hoàng Thị C đã nộp được số tiền
500.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện L để bảo đảm thi hành
án. Xét thấy, các bị cáo khng tự cải tạo, điều kiện để thi hành án trong
trường hợp bị xử phạt tiền nên không cần cách ly c bị cáo ra khỏi đời sống hội
xphạt c bị cáo nh phạt chính phạt tiền vẫn đảm bảo sự nghiêm minh của
pháp luật, c dụng đấu tranh phòng, chống tội phạm. Mức nh phạt đại diện
Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc nh, tỉnh Lng Sơn đngh căn c,
phù hợp nên chấp nhận.
[9] Về xử lý vật chứng: n cứ quy định tại khoản 2 Điều 106 của Bộ luật
Tố tụng hình sự m 2015, thấy rằng: Quá trình điều tra, quan điều tra thu gi
360.170 Nhân dân tệ (NDT) gồm 3.732 tờ tiền Trung Quốc, trong đó có 3.552 tờ
mệnh giá 100 NDT, 66 tờ mệnh giá 50 NDT, 53 tờ mệnh giá 20 NDT, 61 tờ mệnh
giá 10 NDT, là số tiền các bị cáo vận chuyển trái phép qua biên giới nên cần tịch
thu nộp ngân sách nhà nước; 01 chiếc túi nilon có quai xanh, màu trắng sữa, kích
thước 34cm x 43,5cm là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
02 điện thoại di động của Duy T, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu
SAMSUNG u đen, đã qua sử dụng, số kiểu máy SM G770F/DS, số seri
RF8N90WV9CZ, bên trong lắp 02 sim Vinaphone số thuê bao trả trước
0832.129.998 0826.361.269; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU màu
vàng - đen, máy cũ đã qua sử dụng, số IMEI 355180715281714, bên trong lắp 01
sim Viettel số thuê bao trả trước 0374.019.823. Cả 02 chiếc điện thoại này được
Duy T sử dụng để liên lạc trong quá trình vận chuyển tiền qua biên giới nên
cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước.
[10] Đối với người phụ nữ tên H”: Mặc đã tiến hành các biện pháp điều
tra, xác minh nhưng do không họ, địa chỉ cụ thể nên quan điều tra không
xác định được người phụ nữ này là ai. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Đối với Hoàng Thị B Lộc Văn N: Qtrình Hoàng Thị B đi cùng
Hoàng Thị C chiều ngày 31/3/2021 và Hoàng Thị B, Lộc Văn N đi cùng Hà Duy
T, Hoàng Thị C rạng sáng ngày 01/4/2021 lên khu vực biên giới, Hoàng Thị B
Lộc Văn N đều không thấy Duy T, Hoàng Thị C mang theo đồ vật, tài sản gì
7
cũng không được Duy T, Hoàng Thị C nói cho biết mục đích đi để vận
chuyển tiền qua biên giới, vì vậy không có căn cứ để xử lý hình sự Hoàng Thị B,
Lộc Văn N với vai trò đồng phạm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[12] Các bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại
khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản
1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội khoá 14.
[13] Các bị o có quyn kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định ca pháp
luật theo Điều 333 ca Bluật T tụng nh s.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 189, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều
35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Duy T
Hoàng Thị C; căn cứ khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136,
khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ điểm a khoản 1
Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị o Hà Duy T, Hoàng Thị C phạm tội Vận
chuyển trái phép tiền tqua biên giới.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Duy T 1.100.000.000 đồng (một tỷ một trăm triệu đồng)
để nộp ngân sách nnước, được khấu trừ vào số tiền bị cáo Duy T đã nộp
bảo đảm thi hành án 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) theo Biên lai thu
tin s: AA/2015/0006575 ngày 15 tháng 9 năm 2021 100.000.000 đồng (một
trăm triệu đồng) theo Biên lai thu tin s: AA/2015/0006577 ngày 20 tháng 9 năm
2021 ti Chi cc Thi hành án dân s huyn L, tnh Lạng Sơn. (Hin s tin trên
được lưu giữ trong tài khon s 3949.0.1054406.00000 ca Chi cục Thi hành án
dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn ti Kho bạc Nhà nước huyn L, tnh Lạng Sơn).
Bị cáo Duy T còn phải nộp tiếp số tiền 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng)
vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị C 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) để nộp ngân
sách nhà nước, được khấu trừ vào số tiền bị cáo Hoàng Thị C đã nộp bảo đảm thi
hành án 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) theo Biên lai thu tin s:
AA/2015/0006575 ngày 15 tháng 9 năm 2021 100.000.000 đồng (một trăm triu
đồng) theo Biên lai thu tin s: AA/2015/0006578 ngày 20 tháng 9 năm 2021 tại
Chi cc Thi hành án dân s huyn L, tnh Lạng Sơn. (Hiện s tiền trên được lưu
gi trong tài khon s 3949.0.1054406.00000 ca Chi cục Thi hành án n sự
huyện L, tỉnh Lạng Sơn ti Kho bạc Nhà nước huyn L, tnh Lng Sơn). Bị cáo
Hoàng Thị C còn phải nộp tiếp số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) vào
ngân sách n nước.
8
3. Xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu nộp ngân sách nnước số tiền 360.170 Nhân dân tệ (NDT)
gồm 3.732 tờ tiền Trung Quốc gồm 3.552 tờ mệnh giá 100 NDT, 66 tờ mệnh giá
50 NDT, 53 tờ mệnh giả 20 NDT, 61 tờ mệnh giá 10 NDT đựng trong 01 (một)
hộp bìa carton bên ngoài bọc giấy A3 màu trắng được dán kín, kích thước 36 cm
x 25 cm x 12 cm, tại các mép dán có chữ ký và tên của Hoàng Thị C, Hà Duy T;
chữ tên của thành phần tham gia niêm phong; dấu tròn đỏ của Công an
T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; chữ tên của Giám định viên, dấu tròn đỏ của
Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi nilon có quai xanh, màu trắng sữa, kích
thước 34cm x 43,5cm.
3.3. Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động thu
giữ của Duy T, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen,
đã qua sử dụng, số kiểu máy SM G770F/DS, số seri RF8N90WV9CZ, bên
trong lắp 02 sim Vinaphone sthuê bao trả trước 0832.129.998 và 0826.361.269;
01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU màu vàng - đen, máy cũ đã qua sử dụng,
số IMEI 355180715281714, bên trong lắp 01 sim Viettel số thuê bao trả trước
0374.019.823.
(Vật chứng tn được tạm giữ tại Chi cục Thi nh án dân sự huyện L, tỉnh
Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11 tháng 8 m 2021).
4. Án phí: Các bị cáo Duy T, Hoàng Thị C phải chịu mỗi người 200.000
đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà
nước.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
- Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
- CQTHAHS CA h.Lộc Bình, tnh Lạng Sơn;
- CCTHADS huyện L, tỉnh Lạng Sơn;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nông Thị Huyền Trang
Tải về
Bản án số 45/2021/HS-ST Bản án số 45/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất