Bản án số 45/2021/HS-ST ngày 20/09/2021 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về tội vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 45/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 45/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 45/2021/HS-ST ngày 20/09/2021 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về tội vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Lộc Bình (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
| Số hiệu: | 45/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/09/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 45/2021/HS-ST
Ngày 20-9-2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nông Thị Huyền Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Hiệu;
Ông Hoàng Văn Vận.
- Thư ký phiên toà: Bà Vương Thị Choi- Thư ký Toà án nhân dân huyện
Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên toà: Ông Lê Chí Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh
Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2021/TLST-
HS ngày 06 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
37/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số
10/2021/HHST-QĐ ngày 30/8/2021 đối với các bị cáo:
1. Hà Duy T, sinh ngày 29 tháng 11 năm 1993 tại xã M, thành phố S, tỉnh
Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã M, thành phố S,
tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc:
Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn N
(tên gọi khác là Hà Văn G) và bà Đỗ Thị D; có vợ là Trịnh Ngọc A và 02 con (con
lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân:
Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa
bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2021 tại Trại tạm giam Công
an tỉnh Lạng Sơn đến ngày 17/9/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh;
có mặt.
2. Hoàng Thị C, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1992 tại huyện H, tỉnh Lạng
Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã M, thành phố S, tỉnh
Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Tày; giới
tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn U (đã chết)
và bà Vi Thị B; có chồng là Hoàng Văn C và 02 con (con lớn sinh năm 2010, con
nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách

2
nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm
giữ từ ngày 01/4/2021 đến ngày 10/4/2021 được thay đổi sang biện pháp ngăn
chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/4/2021; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Lộc Văn N, vắng mặt;
2. Anh Hoàng Văn C, vắng mặt;
3. Chị Hoàng Thị B, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2017, Hoàng Thị C thường xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc
làm thuê. Sau khi nhận được tiền công là tiền Trung Quốc, Hoàng Thị C mang về
Việt Nam và đổi sang tiền Việt Nam với người phụ nữ tên “H”, khoảng 35 tuổi
(không rõ địa chỉ, họ tên cụ thể) tại khu vực sân vận động Đông Kinh thuộc
phường V, thành phố S. Ngày 20/3/2021, đối tượng H gặp Hoàng Thị C tại quán
bánh mỳ trên đường Chu Văn A, phường Đ, thành phố S và nói về việc cần tìm
người để vận chuyển trái phép tiền Trung Quốc qua biên giới, tiền công là
5.000.000 đồng. Do Hoàng Thị C đang nuôi con nhỏ, không trực tiếp vận chuyển
tiền được nên đã rủ Hà Duy T cùng nhau vận chuyển tiền Nhân dân tệ sang Trung
Quốc, Hà Duy T đồng ý. Khoảng 09 giờ ngày 31/3/2021, H gọi điện bảo Hoàng
Thị C vận chuyển khoảng 40.000 NDT (Nhân dân tệ) sang Trung Quốc. Hoàng
Thị C gọi điện cho Hà Duy T cùng đi vận chuyển tiền. Khoảng 10 giờ cùng ngày,
Hà Duy T đến quán Karaoke “I” tại thị trấn D, huyện L, tỉnh Lạng Sơn gặp Hoàng
Thị C và lấy số điện thoại của H để chủ động trao đổi. Hà Duy T liên lạc với H
qua tài khoản Zalo tên “Đổi tiền Trung", H hẹn Hà Duy T đến khu vực Nhà máy
Xi măng cũ thuộc khối 8, phường Đ, thành phố S để nhận tiền vận chuyển sang
Trung Quốc. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Hà Duy T điều khiển xe ô tô Huyndai
GETZ BKS 12H-9883 (xe của gia đình Hoàng Thị C) đến gặp H tại khu vực Nhà
máy Xi măng cũ. Tại đây, H đưa tiền và nói với Hà Duy T khoảng 07 giờ sáng
ngày 01/4/2021 vận chuyển tiền đến khu vực mốc biên giới 1257 thuộc thôn C,
xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn sẽ có người Trung Quốc đến nhận tiền. Hà Duy T
đồng ý và mang tiền về thị trấn D, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 13 giờ cùng
ngày, Hà Duy T đến quán Karaoke “Nhim Sù" nói cho Hoàng Thị C biết sáng
sớm ngày 01/4/2021 sẽ đi giao tiền tại khu vực mốc biên giới 1257 thuộc thôn C,
xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Hà Duy T không nói cho Hoàng Thị C biết mình
đã nhận tiền. Để đảm bảo an toàn, cả hai hẹn nhau đi xem đường trước. Hà Duy
T điều khiển xe ô tô Huyndai GETZ BKS 12H-9883 đi trước và mang tiền vào
khu vực biên giới để cất giấu trong bụi cây. Đến 15 giờ cùng ngày, Hoàng Thị C
rủ chị gái là Hoàng Thị B cùng đi vào khu vực biên giới thuộc thôn O, xã T, huyện
L, tỉnh Lạng Sơn nhưng nói là đi chơi. Hai người đi bằng xe mô tô khoảng hơn
01 tiếng thì gặp Hà Duy T đang đứng chờ ở cạnh đường. Sau đó cả ba cùng đi xe

3
máy lên khu vực biên giới. Khi đến gần chốt kiểm tra của lực lượng Biên phòng
đồn Chi Lăng đặt tại thôn Pó Có, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì Hà Duy T
xuống xe và bảo Hoàng Thị C, Hoàng Thị B đi tiếp qua chốt Biên phòng để lên
đường tuần tra biên giới. Hà Duy T nói cho Hoàng Thị C biết đây là tuyến đường
sẽ đi vận chuyển tiền. Khi qua chốt Biên phòng thăm đường xong, Hoàng Thị C,
Hoàng Thị B quay lại gặp Hà Duy T cùng nhau quay về quán Karaoke “I”.
Khoảng 02 giờ sáng ngày 01/4/2021, Hà Duy T đến quán Karaoke “I” gọi
Hoàng Thị C dậy để đi giao tiền. Do sợ lực lượng chức năng phát hiện, cả hai nhờ
chị Hoàng Thị B và anh Lộc Văn N là nhân viên của quán Karaoke “I” điều khiển
02 xe mô tô chở Hà Duy T, Hoàng Thị C vào khu vực biên giới nhưng không nói
mục đích chuyến đi. Khoảng 04 giờ sáng cùng ngày, cả bốn người đến khu vực
biên giới cách lán trực của lực lượng Biên phòng đồn Chi Lăng khoảng 02km.
Hoàng Thị C bảo chị Hoàng Thị B và anh Lộc Văn N điều khiển xe mô tô về trước
và dặn Hoàng Thị B bảo Hoàng Văn C (chồng Hoàng Thị C) đi xe ô tô vào đón
Hoàng Thị C. Lúc này, Hà Duy T mới cho Hoàng Thị C biết Hà Duy T đã giấu
tiền sẵn từ chiều hôm trước. Rồi Hà Duy T đi lấy tiền và cả hai đi bộ lên khu vực
biên giới. Khi đến sát hàng rào biên giới, Hà Duy T mang túi tiền đi giao. Hoàng
Thị C ngồi đợi ở rừng thông gần đó và gọi điện thoại bảo Hoàng Văn C đến đón.
Do không thấy người nhận tiền nên Hoàng Thị C gọi điện thoại cho H nhưng
không liên lạc được. Đến 07 giờ sáng cùng ngày, khi Hà Duy T và Hoàng Thị C
đang đi về phía xe ô tô do Hoàng Văn C lái đến đón thì bị lực lượng Biên phòng
đồn Chi Lăng phát hiện. Hà Duy T và Hoàng Thị C bỏ trốn lên đồi và bị lực lượng
Biên phòng đồn Chi Lăng bắt giữ, thu giữ số tiền 360.170 NDT gần khu vực mốc
1257 thuộc thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn vào khoảng 10 giờ cùng ngày.
Khi bỏ trốn, Hoàng Thị C làm rơi điện thoại, Hà Duy T xóa toàn bộ lịch sử liên
lạc với H trong 02 điện thoại.
Tại Kết luận giám định số 205/KLGD-PC09 ngày 03/4/2021 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận, toàn bộ số tiền 360.170 NDT trên
là tiền thật. Căn cứ Công văn số 347/LAS-THINS&KSNB ngày 05/4/2021 của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn về việc cung cấp thông
tin tỷ giá, xác định số tiền 360.170 NDT có giá trị tương đương 1.274.634.427
đồng.
Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án, những người làm chứng chị Hoàng
Thị B, anh Lộc Văn N và anh Hoàng Văn C chứng kiến việc Hà Duy T và Hoàng
Thị C đi vào khu vực biên giới nhưng không biết mục đích của Hà Duy T và
Hoàng Thị C.
Bản cáo trạng số: 101/CT-VKS-LB, ngày 06 tháng 8 năm 2021 của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Hà Duy T và Hoàng Thị C về
tội về tội Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới theo quy định tại khoản 3
Điều 189 Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo Hà Duy T đã nộp bảo đảm thi hành
án số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số:

4
AA/2015/0006575 ngày 15 tháng 9 năm 2021 và 100.000.000 đồng (một trăm
triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số: AA/2015/0006577 ngày 20 tháng 9 năm 2021
tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Bị cáo Hoàng Thị C đã
nộp bảo đảm thi hành án số tiền là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) theo
Biên lai thu tiền số: AA/2015/0006575 ngày 15 tháng 9 năm 2021 và 100.000.000
đồng (một trăm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số: AA/2015/0006578 ngày 20
tháng 9 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn.
Tại phiên toà, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội
dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên
quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hà Duy T,
Hoàng Thị C phạm tội Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới. Áp dụng khoản
3 Điều 189, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58
Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Hà Duy T và Hoàng Thị C, xử phạt
các bị cáo mỗi người từ 1.000.000.000 đồng đến 1.200.000.000 đồng để nộp ngân
sách nhà nước, được khấu trừ vào số tiền bị cáo Hà Duy T đã nộp là 300.000.000
đồng và số tiền bị cáo Hoàng Thị C đã nộp là 500.000.000 đồng để bảo đảm thi
hành án. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015, đề nghị: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 360.170 Nhân dân tệ (NDT)
gồm 3.732 tờ tiền Trung Quốc gồm 3.552 tờ mệnh giá 100 NDT, 66 tờ mệnh giá
50 NDT, 53 tờ mệnh giả 20 NDT, 61 tờ mệnh giá 10 NDT (hiện tạm gửi tại Kho
bạc Nhà nước tỉnh Lạng Sơn). Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi nilon có quai xanh,
màu trắng sữa, kích thước 34cm x 43,5cm. Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà
nước 02 điện thoại di động thu giữ của Hà Duy T, gồm: 01 điện thoại di động nhãn
hiệu SAMSUNG màu đen, cũ đã qua sử dụng, số kiểu máy SM G770F/DS, số seri
RF8N90WV9CZ, bên trong lắp 02 sim Vinaphone số thuê bao trả trước
0832.129.998 và 0826.361.269; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU màu vàng
- đen, máy cũ đã qua sử dụng, số IMEI 355180715281714, bên trong lắp 01 sim
Viettel số thuê bao trả trước 0374.019.823. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Hà Duy T và Hoàng Thị C không có ý kiến tranh luận. Lời nói
sau cùng, các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng nhưng đã có
lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình
xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp
tục xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những

5
người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành
tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực
hiện là hợp pháp.
[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp
với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang
và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, do đó có căn cứ xác định: Ngày 01/4/2021, tại khu vực biên giới mốc 1257
thuộc thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, các bị cáo Hà Duy T và Hoàng Thị
C đã có hành vi vận chuyển trái phép số tiền Trung Quốc là 360.170 Nhân dân tệ
(ba trăm sáu mươi nghìn một trăm bẩy mươi Nhân dân tệ) theo tỷ giá quy đổi
ngày 05/4/2021 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn có
giá trị tương đương 1.274.634.427 đồng (một tỷ hai trăm bảy mươi tư triệu sáu
trăm ba mươi tư nghìn bốn trăm hai mươi bảy đồng). Hành vi của các bị cáo Hà
Duy T, Hoàng Thị C đã cấu thành tội Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới
theo quy định tại khoản 3 Điều 189 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật.
[4] Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Các bị cáo nhận thức được hành
vi vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới là xâm phạm đến hoạt động quản lý
kinh tế của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế và tình hình an ninh
trật tự tại khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc nhưng các bị cáo vẫn cố ý
thực hiện vì mục đích vụ lợi.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật Hình sự năm 2015. Bị cáo Hoàng Thị C đang nuôi con nhỏ (sinh năm
2020), bị cáo Hà Duy T là lao động chính trong gia đình có trách nhiệm nuôi
dưỡng, chăm sóc bố mẹ và hai con nhỏ (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh
năm 2017; bị cáo đã ly thân với vợ từ năm 2020); các bị cáo Hoàng Thị C và
Hà Duy T (gia đình nộp thay) mỗi người đóng góp ủng hộ quỹ phòng chống
dịch bệnh Covid – 19 của địa phương được số tiền 2.000.000 đồng nên các bị
cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về nhân thân: Trước khi phạm tội các bị cáo chưa bị xử lý trách nhiệm
hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, là người có
nhân thân tốt.
[8] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành
vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm

6
tội của các bị cáo là nghiêm trọng, tuy là đồng phạm nhưng mang tính chất giản
đơn. Bị cáo Hà Duy T là người trực tiếp liên lạc và nhận tiền Trung Quốc với
đối tượng tên H, trực tiếp cất giấu và vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới,
có vai trò chính và tích cực trong vụ án. Bị cáo Hoàng Thị C là người giới thiệu
Hà Duy T với đối tượng tên H, giúp sức cho bị cáo Hà Duy T vận chuyển trái
phép tiền tệ qua biên giới, có vai trò thứ yếu so với bị cáo Hà Duy T. Xét thấy,
ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành
đúng chính sách pháp luật, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; có nhiều
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự, là người có nhân thân tốt, có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng, trong thời
gian tại ngoại vừa qua các bị cáo không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật.
Các bị cáo là lao động tự do và tham gia việc kinh doanh cùng gia đình, các bị
cáo có tài sản, có thu nhập. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo Hà Duy T đã
nộp được số tiền 300.000.000 đồng, bị cáo Hoàng Thị C đã nộp được số tiền
500.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện L để bảo đảm thi hành
án. Xét thấy, các bị cáo có khả năng tự cải tạo, có điều kiện để thi hành án trong
trường hợp bị xử phạt tiền nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội
mà xử phạt các bị cáo hình phạt chính là phạt tiền vẫn đảm bảo sự nghiêm minh của
pháp luật, có tác dụng đấu tranh phòng, chống tội phạm. Mức hình phạt đại diện
Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đề nghị là có căn cứ,
phù hợp nên chấp nhận.
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 106 của Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015, thấy rằng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ
360.170 Nhân dân tệ (NDT) gồm 3.732 tờ tiền Trung Quốc, trong đó có 3.552 tờ
mệnh giá 100 NDT, 66 tờ mệnh giá 50 NDT, 53 tờ mệnh giá 20 NDT, 61 tờ mệnh
giá 10 NDT, là số tiền các bị cáo vận chuyển trái phép qua biên giới nên cần tịch
thu nộp ngân sách nhà nước; 01 chiếc túi nilon có quai xanh, màu trắng sữa, kích
thước 34cm x 43,5cm là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
02 điện thoại di động của Hà Duy T, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu
SAMSUNG màu đen, cũ đã qua sử dụng, số kiểu máy SM G770F/DS, số seri
RF8N90WV9CZ, bên trong lắp 02 sim Vinaphone số thuê bao trả trước
0832.129.998 và 0826.361.269; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU màu
vàng - đen, máy cũ đã qua sử dụng, số IMEI 355180715281714, bên trong lắp 01
sim Viettel số thuê bao trả trước 0374.019.823. Cả 02 chiếc điện thoại này được
Hà Duy T sử dụng để liên lạc trong quá trình vận chuyển tiền qua biên giới nên
cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước.
[10] Đối với người phụ nữ tên “H”: Mặc dù đã tiến hành các biện pháp điều
tra, xác minh nhưng do không có họ, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không
xác định được người phụ nữ này là ai. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Đối với Hoàng Thị B và Lộc Văn N: Quá trình Hoàng Thị B đi cùng
Hoàng Thị C chiều ngày 31/3/2021 và Hoàng Thị B, Lộc Văn N đi cùng Hà Duy
T, Hoàng Thị C rạng sáng ngày 01/4/2021 lên khu vực biên giới, Hoàng Thị B và
Lộc Văn N đều không thấy Hà Duy T, Hoàng Thị C mang theo đồ vật, tài sản gì

7
và cũng không được Hà Duy T, Hoàng Thị C nói cho biết mục đích đi để vận
chuyển tiền qua biên giới, vì vậy không có căn cứ để xử lý hình sự Hoàng Thị B,
Lộc Văn N với vai trò đồng phạm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[12] Các bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại
khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản
1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội khoá 14.
[13] Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định của pháp
luật theo Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 189, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều
35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Hà Duy T và
Hoàng Thị C; căn cứ khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136,
khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ điểm a khoản 1
Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hà Duy T, Hoàng Thị C phạm tội Vận
chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Hà Duy T 1.100.000.000 đồng (một tỷ một trăm triệu đồng)
để nộp ngân sách nhà nước, được khấu trừ vào số tiền bị cáo Hà Duy T đã nộp
bảo đảm thi hành án là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) theo Biên lai thu
tiền số: AA/2015/0006575 ngày 15 tháng 9 năm 2021 và 100.000.000 đồng (một
trăm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số: AA/2015/0006577 ngày 20 tháng 9 năm
2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn. (Hiện số tiền trên
được lưu giữ trong tài khoản số 3949.0.1054406.00000 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn tại Kho bạc Nhà nước huyện L, tỉnh Lạng Sơn).
Bị cáo Hà Duy T còn phải nộp tiếp số tiền 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng)
vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị C 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) để nộp ngân
sách nhà nước, được khấu trừ vào số tiền bị cáo Hoàng Thị C đã nộp bảo đảm thi
hành án là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số:
AA/2015/0006575 ngày 15 tháng 9 năm 2021 và 100.000.000 đồng (một trăm triệu
đồng) theo Biên lai thu tiền số: AA/2015/0006578 ngày 20 tháng 9 năm 2021 tại
Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn. (Hiện số tiền trên được lưu
giữ trong tài khoản số 3949.0.1054406.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện L, tỉnh Lạng Sơn tại Kho bạc Nhà nước huyện L, tỉnh Lạng Sơn). Bị cáo
Hoàng Thị C còn phải nộp tiếp số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) vào
ngân sách nhà nước.
8
3. Xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 360.170 Nhân dân tệ (NDT)
gồm 3.732 tờ tiền Trung Quốc gồm 3.552 tờ mệnh giá 100 NDT, 66 tờ mệnh giá
50 NDT, 53 tờ mệnh giả 20 NDT, 61 tờ mệnh giá 10 NDT đựng trong 01 (một)
hộp bìa carton bên ngoài bọc giấy A3 màu trắng được dán kín, kích thước 36 cm
x 25 cm x 12 cm, tại các mép dán có chữ ký và tên của Hoàng Thị C, Hà Duy T;
chữ ký và tên của thành phần tham gia niêm phong; dấu tròn đỏ của Công an xã
T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; chữ ký và tên của Giám định viên, dấu tròn đỏ của
Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi nilon có quai xanh, màu trắng sữa, kích
thước 34cm x 43,5cm.
3.3. Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động thu
giữ của Hà Duy T, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen,
cũ đã qua sử dụng, số kiểu máy SM G770F/DS, số seri RF8N90WV9CZ, bên
trong lắp 02 sim Vinaphone số thuê bao trả trước 0832.129.998 và 0826.361.269;
01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU màu vàng - đen, máy cũ đã qua sử dụng,
số IMEI 355180715281714, bên trong lắp 01 sim Viettel số thuê bao trả trước
0374.019.823.
(Vật chứng trên được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh
Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11 tháng 8 năm 2021).
4. Án phí: Các bị cáo Hà Duy T, Hoàng Thị C phải chịu mỗi người 200.000
đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà
nước.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
- Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
- CQTHAHS CA h.Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
- CCTHADS huyện L, tỉnh Lạng Sơn;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nông Thị Huyền Trang
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 709/2026/DS-PT ngày 13/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm