Bản án số 446/2025/DS-PT ngày 26/09/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 446/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 446/2025/DS-PT ngày 26/09/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 446/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 446/2025/DS-PT
Ngày: 26/9/2025
V/v tranh chấp đòi quyền sử dụng đất,
hợp đồng hoán đổi quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Quế
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Bà Tăng Trần Quỳnh Phương
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Hải n, Thư Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông
Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, ti tr s Tòa án nhân dân tnh Mau xét x
phúc thm công khai v án dân s th lý s: 294/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 8
năm 2025 v tranh chấp đòi quyền s dụng đất, hợp đồng hoán đổi quyn s dng
đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 của
Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình (nay thuộc Tòa án nhân dân khu vực 7 -
Mau) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 252/2025/QĐXXPT-DS
ngày 25/8/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thái Hồng N, sinh năm 1952
CCCD số: 095152005062, cấp ngày: 02/7/2021, i cấp: Cục C2 về TTXH
Bộ C3
Địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp D, xã H, tỉnh Cà Mau)
Người đại diện theo ủy quyền của N: Ông Bùi Quốc L, sinh năm 1984; số
CCCD: 060084014688, cấp ngày: 30/10/2024, nơi cấp: Cục C2 về TTXH Bộ C3;
địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp D, xã H, tỉnh Cà Mau). Ông
L có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của N: Luật Nguyễn Thanh B
của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C. Luật sư có mặt.
- Bị đơn: Ông Hồng Văn C, sinh năm 1972, CMND số: 385209384
Địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp D, xã H, tỉnh Cà Mau)
Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Bà Hồ Huỳnh Tố H, sinh năm 1982;
địa chỉ: Số D đường L, khóm G, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay số
D đường L, khóm G, phường B, tỉnh Cà Mau). Bà H có mặt.
2
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Hồng Văn S, sinh năm 1946 (chết 2000)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Hồng Văn S:
1.1. Bà Thái Hồng N, sinh năm 1952
1.2. Ông Hồng Thanh N1, sinh năm 1979 (con ruột N)
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (này là ấp Thị Trấn A, xã H,
tỉnh Cà Mau)
1.3. Bà Hồng Ngọc N2, sinh năm 1989 (con ruột bà N)
Địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp D, xã H, tỉnh Cà Mau)
Người đại diện theo ủy quyền của ông N1, bà N2: Ông Bùi Quốc L
2. Ông Hồng Văn H1, sinh năm 1930 (chết ngày 31/10/2020)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Hồng Văn H1:
2.1. Bà Dương Thị S1, sinh năm 1932 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp D, xã H, tỉnh Cà Mau)
2.2. Bà Hồng Thị K, sinh năm 1955 (chết ngày 19/10/2021)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà K: Bà Dương Thị S1, sinh năm 1932
2.3. Bà Hồng Thị T, sinh năm 1957 (chết ngày 08/08/2021)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà T: Bà Dương Thị S1, sinh năm 1932
2.4. Bà Hồng Thị E, sinh năm 1961 (vắng mặt)
2.5. Bà Hồng Kim T1, sinh năm 1963 (vắng mặt)
2.6. Bà Hồng Thị P, sinh năm 1965 (vắng mặt)
2.7. Bà Hồng Thị T2, sinh năm 1969 (vắng mặt)
2.8. Bà Hồng Thị M, sinh năm 1974 (vắng mặt)
2.9. Bà Hồng Thị M1, sinh năm 1976 (vắng mặt)
2.10. Bà Hồng Thị Mười H2, sinh năm 1979 (vắng mặt)
3. Bà Hồng Ngọc N2, sinh năm 1989
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp D, H, tỉnh Cà
Mau)
4. Ông Hồng Thanh N1, sinh năm 1979
5. Bà Hồng Thị K, sinh năm 1955 (chết ngày 19/10/2021)
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà K: Bà Dương Thị S1, sinh năm 1932
6. Bà Hồng Thị M1, sinh năm 1976
7. Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu (đơn vị kế thừa quyền và nghĩa
vụ: Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Cà Mau, vắng mặt)
8. Ngân hàng TMCP N5 (V2)
Người đại diện theo ủy quyền của V2: Ông Mã Kim P1, chức vụ: Phó Trưởng
phòng phụ trách khách hàng V2 chi nhánh B1. Ông P1 có mặt.
Địa chỉ: Số D đường H, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay sD
đường H, phường B, tỉnh Cà Mau).
9. Bà Đinh Phương N3, sinh năm 1984 (vợ ông C, vắng mặt)
CMND số: 385729861
Địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp D, xã H, tỉnh Cà Mau)
- Người kháng cáo: Thái Hồng N nguyên đơn. Ông Hồng Thanh N1 và
Hồng Ngọc N2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo ông Bùi Quốc L người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
Thái Hồng N, đồng thời đại diện theo ủy quyền của ông Hồng Thanh N1
Hồng Ngọc N2 trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp của ông Hồng Văn S, chồng của bà Thái Hồng N
được Nhà nước cấp vào ngày 26/03/1971 bằng chứng khoán chứng thư. Năm
2000, ông S chết để lại cho N trực tiếp quản lý, sử dụng. Đến năm 2002, cho
ông Hồng Văn C thuê đất gồm các thửa đất: Thửa 215 diện tích 3,814m2, thửa đất
216 diện ch 2.065m2, thửa đất 217 diện tích 3.862m2, thửa đất 1077 diện tích
4.000m2; giá thuê 3.000.000 đồng/năm. Ngoài ra, ông C còn lấn chiếm của N
diện tích 350m2 tại thửa đất 220 và diện tích 2.800m2 tại thửa đất số 214. Toàn bộ
các phần đất này tọa lạc tại ấp D, V, huyện H. Nay bà N yêu cầu ông C tháo dỡ
các công trình trên đất để trả lại các phần đất mà gia đìnhN đã cho gia đình ông
C thuê từ năm 2002 với tổng diện tích: 16.891m2 đất (cụ thể tại các thửa: Thửa đất
220 diện tích 350m2, thửa đất 214 diện tích 2.800m2, thửa 215 diện tích 3.630m2,
thửa 216 diện tích 2.065m2, thửa 217 diện tích 3.862m2 thửa 1077 diện tích
4.000m2) toạ lạc tại ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Đồng thời yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất
216 đã cấp cho ông Hồng Văn H1 và thửa đất 217 đã cấp cho bà Hồng Thị K.
* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (ông Hồng Văn C) là bà Hồ Huỳnh
Tố H trình bày:
Ông C không đồng ý toàn bộ yêu cầu của N, nguồn gốc đất đang tranh
chấp của cha ông C ông Hồng Văn H1 cùng vợ con canh tác sử dụng từ năm
1976 xuyên suốt cho đến nay. Trong quá trình sử dụng, gia đình ông đã nhiều lần
cất nhà, cũng như trồng cây, nuôi ổn định cho đến khi xảy ra tranh chấp giữa
các bên. Ông Chính xác Đ không thuê đất của phía gia đình N. Riêng đối với
thửa đất 215, tờ bản đồ số 7, diện tích 3.814m2, vào năm 2002, bà N cùng con
Hồng Thanh N1 đứng ra đổi đất với ông H1. Cụ thể: N đổi cho ông H1 thửa đất
số 215, còn ông Hai đổi cho N một phần đất (khoảng hơn 2.000m2) ông Hồng
Văn C đứng tên tại thửa đất số 213, tờ bản đồ s07. Do đất của ông C ít nên ông
H1 phải thêm cho cho N số tiền 3.000.000 đồng tương đương với 120 giạ
lúa. Khi đổi đất có đo đạc thực tế, có bà N, anh N1, ông H1 và có người làm chứng
là ông Hồng T3 V là người trực tiếp đo đạc phần đất trên.
Ngoài ra ông C đơn phản tố yêu cầu công nhận việc đổi đất giữa bà N
ông H1 đối với phần đất hiện do ông C sử dụng đất tại thửa 215, tờ bản đsố 7,
diện tích theo đo đạc thực tế 3.630m2. Đất toạ lạc tại ấp D, V, huyện H, tỉnh
Bạc Liêu.
* Theo người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hồng Thị P; Hồng Thị
T2; Hồng Thị M; Hồng Thị M1; Hồng Thị Mười H2; Hồng Kim T1; Hồng Thị E;
Hồng Thị T kiến của T lúc còn sống); Hồng Thị K kiến của K lúc còn
sống) trình bày:
4
Đất có nguồn gôc là của ông Hồng Văn H1 canh tác từ năm 1976 cho đến nay
đồng thống nhất để cho ông Hồng Văn C quản lý, sdụng; thống nhất theo ý
kiến của ông Hồng Văn C không có ý kiến trình bày gì khác.
* Theo Người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan là Đinh Phương N3 trình
bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp của gia đình chồng ông Hồng Văn C, cho
nên do ông C quyết định, bà N3 không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Dương Thị S1 đồng thời
người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Hồng Văn H1; Hồng Thị S2 Hồng Thị
T trình bày:
Nguồn gốc đất đang tranh chấp của vợ chồng khai phá sử dụng từ năm
1976 cho đến nay. Trong quá trình sử dụng có nộp thuế đầy đủ. Bà thống nhất theo
ý kiến của ông Hồng Văn C.
* Người đại diện cho người quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng
TMCP N5, ông Đậu Tuấn C1 trình bày:
Ông Hồng Văn C vay vốn Ngân hàng TMCP N5, chi nhánh B1. Để đảm bảo
cho khoản vay của mình, ông C đã thế chấp các quyền sử dụng đất, trong đó
thửa đất 215. Nay nguyên, bị đơn đang tranh chấp thì Ngân hàng đnghị xử vụ
án theo đúng quy định của pháp luật, không giảm đi các quyền lợi hợp pháp ưu
tiên của Ngân hàng.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 54/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025,
Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình đã quyết định:
Căn cứ các điều 26, 35, 39 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ
Điều 45 của Luật Đất đai năm 2024; Căn cứ các điều 131, 236 của Bộ luật Dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lphí
Tòa án:
1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Thái Hồng N đối với ông Hồng Văn C đòi
trả diện tích theo đo đạc thực tế tại mảnh trích đo địa chính ngày 07/11/2020
thửa 215, diện tích 3.630m2 + thửa 216, diện tích 1.737,9m2 + thửa 217, diện tích
2.270m2 + thửa 1077, diện tích 3.000m2, tờ bản đồ số 7 = 10.637,9m2;
2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Thái Hồng N đối với ông Hồng Văn C
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sdụng đất đối với thửa đất 216 đã cấp cho
ông Hồng Văn H1 và thửa đất 217 đã cấp cho bà Hồng Thị K;
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Hồng Văn C về việc yêu cầu
công nhận việc đổi đất giữa bà Thái Hồng N ông Hồng Văn H1 đối với phần đất
hiện do ông C sử dụng đất tại thửa 215, tờ bản đồ số 7, diện tích theo đo đạc thực
tế 3.630m2, toạ lạc tại ấp D, V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay ấp D, H,
tỉnh Cà Mau). Tuyên bố, hợp đồng đổi đất giữa bà Thái Hồng N với ông Hồng Văn
C là vô hiệu.
3.1. Buộc Thái Hồng N nghĩa vụ giao trả cho ông Hồng V1 Chính diện
tích theo đo đạc thực tế là 3.873,2m2 thuộc thửa số 213, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại
ấp D, V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp D, xã H, tỉnh Mau). Đất có vị trí
và số đo như sau
5
+ Hướng Đông giáp đất ông Hồng Văn C có số đo 134,8m;
+ Hướng Tây giáp kênh có số đo 138,19m;
+ Hướng Nam giáp đất ông Hồng Minh S3 có số đo 52,39m;
+ Hướng Bắc giáp đất ông Bùi Quốc LHồng Thị N4 số đo 5,61m;
3.2. Buộc ông Hồng Văn C nghĩa vụ trả cho Thái Hồng N số tiền
181.980.000 đồng tương đương với diện tích theo đo đạc thực tế 3.639,6m2 thuộc
thửa số 215, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là
ấp D, xã H, tỉnh Cà Mau). Đất có vị trí và số đo như sau:
+ Hướng Đông giáp kênh có số đo 39,03m;
+ Hướng Tây giáp đất ông Hồng Văn C số đo 37,7m;
+ Hướng Nam giáp đất ông Hồng Văn C có số đo 91,38m;
+ Hướng Bắc giáp đất bà Thái Hồng N số đo 101,16m;
Phần đất này này ông Hồng Văn C đang quản lý, sử dụng nên tiếp tục được
quản lý, sử dụng. Ông C được quyền đến quan Nhà nước thẩm quyền đăng
ký kê khai đối với phần đất có diện tích 3.639,6m2 thuộc thửa số 215, tờ bản đồ s
07 đất tọa lạc tại ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay ấp D, H, tỉnh
Mau) do bà Thái Hồng N đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
4. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Thái Hồng N đối với ông
Hồng Văn C kiện đòi diện tích 6.253,1m2 (trong đó thửa 214 diện tích
2.800m2; thửa đất 220 diện tích 350m2), tọa lạc tại ấp D, V, huyện H, tỉnh Bạc
Liêu (nay là ấp D, xã H, tỉnh Cà Mau).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ phải chịu chi phí tố tụng, án phí
và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 27/5/2025, bà N, N4 và ông N1 đơn kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
N, buộc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giao trả cho bà N toàn bộ
phần diện tích đất tranh chấp là 10.637,9m2.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà N, ông N1 và bà N4 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông C trình bày: Không đồng ý với nội
dung kháng cáo của bà N, ông N1 và bà N4.
- Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của N trình bày: Đề nghị chấp
nhận kháng cáo của N, riêng thửa đất 215 buộc phía ông C giao trả cho N
diện tích đất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
+ Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết ván, của
Hội đồng xét xử những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại
phiên tòa là đúng quy định của pháp luật.
+ Về nội dung, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
không chấp nhận đơn kháng cáo của N, N4 và ông N1, sửa bản án sơ thẩm
của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình theo hướng buộc ông C giao trả cho N
phần đất diện tích theo đo đạc thực tế 3.639,6m2 thuộc thửa số 215, tờ bản đồ số
07, tọa lạc tại ấp D, xã H, tỉnh Cà Mau.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện, Thái Hồng N yêu cầu ông Hồng Văn C giao trả
16.891m2 đất toạ lạc tại ấp D, V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp D, H,
tỉnh Mau), gồm các thửa đất: Thửa 220, diện tích 350m2; thửa 214, diện tích
2.800m2; thửa 215, diện tích 3.630m2; thửa 216, diện tích 2.065m2; thửa 217 diện
tích 3.862m2; thửa 1077, diện tích 4.000m2 (diện tích đo đạc được xác định theo
Mảnh trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện H lập
ngày 07/11/2020). Đến ngày 01/11/2022 cũng như tại phiên tòa thẩm, phía đại
diện của N xin rút yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 6.253,1m2 (trong đó
thửa 214, diện tích 2.800m2 thửa 220, diện tích 350m2). Theo đó, cấp thẩm
đã đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút của N là căn cứ. Phần diện
tích tranh chấp còn lại tổng diện tích đo đạc thực tế 10.637,9m2, gồm các
thửa đất thuộc tờ bản đồ số 7: Thửa 215, diện tích 3.630m2 + Thửa 216, diện tích
1.737,9m2 + Thửa 217, diện tích 2.270m2 +Thửa 1077, diện tích 3.000m2 =
10.637,9m2. Trong 04 thửa đất này, thửa 215 qua các lần đo đạc kích thước
diện tích khác nhau. Cụ thtại đồ phần đất tranh chấp do Trung tâm Kỹ thuật
Tài nguyên và Môi trường tỉnh B lập ngày 10/3/2025 xác định thửa 215 diện
tích 3.639,6m2.
[2] N xác định đối với phần diện tích tranh chấp còn lại gồm các thửa đất
215, 216, 217 và 1077 có nguồn gốc của chồng bà N là ông Hồng Văn S được Nhà
nước cấp vào ngày 26/3/1971 bằng chứng khoán và chứng thư. Sau khi ông S chết,
N trực tiếp quản lý, sử dụng. Đến năm 2002 thì cho ông C thuê lại. Ngược lại,
phía ông Chính xác Đ nguồn gốc phần đất tranh chấp của cha ông C ông
Hồng Văn H1 cùng vợ con sử dụng từ năm 1976 cho đến nay. Xét các chứng cứ do
hai bên cung cấp, thấy rằng:
[2.1] Đối với các Chứng thư, Chứng khoán cũng như Biên lai thu thuế
phía N cung cấp không thể hiện được vị trí các phần đất đâu, số thửa, số bản
đồ vị trí tọa lạc; biên lai đóng thuế cho thửa đất đất nào… Ngoại trừ thửa đất 215,
03 thửa đất còn lại gồm các thửa 216, 217, 1077 đã được gia đình ông C cất nhà,
trồng cây nuôi cá, tôn tạo xây dựng các công trình trên đất và sử dụng ổn định liên
tục công khai trong suốt thời gian dài không ai phản đối. Quá trình quản
lý, sử dụng các thửa đất này, trong sổ mục nguyên đơn cung cấp thể hiện:
Thửa 216 do ông Hồng Văn H1 khai, thửa 217 và thửa 1077 do Hồng Thị K
(con ông H1) khai. Sau đó, đến ngày 12/10/1990, ông Hồng Văn H1 đã được
cấp quyền sử dụng đất, trong đó thửa 133, tờ bản đồ số 06 (bản đồ M2), nay là
thửa 216, tờ bản đồ số 07, diện tích 2.080m2 (bút lục số 217 - 218, 266), Hồng
Thị K được cấp quyền sử dụng đất vào ngày 16/3/1991 (đến ngày 27/3/2006 được
cấp đổi Giấy CNQSD đất tại thửa 217 (Giấy CNQSD đất số 734754). Riêng
thửa đất 215, N được cấp Giấy CNQSD đất vào ngày 07/8/2001, diện tích
3.814m2.
[2.2] N xác định 04 thửa đất đang tranh chấp với ông C do phía N
cho ông C thuê sử dụng tnăm 2002 nhưng không chứng minh. Ngược lại,
đối với thửa đất số 215, phía ông Chính xác Đ giữa hai bên thực hiện việc hoán
7
đổi đất cho nhau. Cụ thể vào năm 2002, N dùng thửa đất số 215, tờ bản đồ số 7
để hoán đổi cho ông H1 lấy phần một phần đất (khoảng hơn 2.000m2 do đào kênh
thủy lợi chưa đo đạc lại chính xác diện tích) đứng tên ông C trong Giấy
CNQSD đất số 981495, thuộc một phần của thửa đất số 213, tờ bản đồ số 07
nhận thêm 3.000.000 đồng. Trình bày của ông C về việc hai bên hoán đổi đất
cho nhau sở phù hợp với lời khai của người làm chứng, xác nhận của
chính quyền địa phương xác định có việc đổi đất giữa các bên đương sự, đồng thời
cũng phù hợp với thực tế việc ông C đang sử dụng thửa đất 215 và bên N đang
sử dụng một phần thửa đất 213. Ông C yêu cầu phản tố đối với Nghe về việc
yêu cầu ng nhận việc đổi đất giữa N và ông H1 đối với phần đất hiện do ông
C sử dụng tại thửa 215. Xét giao dịch hoán đổi đất giữa các đương sự:
[2.2.1] Việc hoán đổi đất giữa ông H1N không được lập thành văn bản,
không được công chứng hoặc chứng thực cũng không chuyển tên quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật. Mặt khác, hộ gia đình bà N gồm có 03 thành
viên, gồm N, ông Hồng Thanh N1 Hồng Ngọc N2 (con N). Thửa đất
215 cấp quyền sdụng đất cho hộ gia đình N, nhưng chỉ có bà N tham gia giao
dịch hoán đổi đất không ý kiến của các thành viên còn lại. Cấp thẩm xác
định việc hoán đổi đất giữa các bên tham gia giao dịch đã vi phạm về hình thức
nội dung. Hơn nữa, vào ngày 27/9/2021, phía ông C đã thế chấp quyền sử dụng đất
tại thửa 213 để vay vốn tại V2 chi nhánh B1. Quá trình vay vốn, phía V2 chi nhánh
B1 đã khởi kiện vợ chồng ông C và được Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau thụ
số 375/2025/TLS-DS ngày 02/6/2025 và giải quyết tại Quyết định công nhận s
thỏa thuận của các đương sự số 55/2025/QĐST-DS ngày 03/9/2025. Trong quyết
định số 55/2025/QĐST-DS thể hiện: Trường hợp ông C N3 không thanh
toán nợ cho V2, Ngân hàng quyền yêu cầu Thi hành án dân sự thẩm quyền
bán đấu giá các tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng, gồm: Quyền sử dụng
đất và các tài sản gắn liền với đất, theo Giấy CNQSD đất số AĐ 981495 do UBND
huyện H cấp ngày 27/4/2006, thửa đất số 213, tờ bản đồ số 7, diện tích 9.450m2,
đất tại ấp D, V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; người sử dụng đất ông Hồng Văn
C…Do đó, xác định hợp đồng hoán đổi đất giữa bà N và ông H1 là vô hiệu. Cấp sơ
thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông C là có căn cứ.
[2.2.2] Về xử lý hậu quả của hợp đồng hoán đổi đất vô hiệu:
Quá trình giải quyết cấp thẩm, phía N ông C đều xác định không
yêu cầu xem xét xác định trị giá đối với công sức tôn tạo các phần đất tranh chấp.
Cấp sơ thẩm buộc phía bà N giao trả cho ông C phần đất diện tích đo đạc thực
tế 3.873,2m2 một phần thuộc thửa 213. Ông C không yêu cầu được nhận lại
số tiền 03 triệu đồng phía N đã nhận. Ngược lại, phía ông C giao trả cho
N trị giá phần đất tại thửa 215 diện tích đo đạc thực tế 3.639,6m2 tương ứng
với tổng số tiền 181.980.000 đồng. Sau khi xét xử thẩm phía ông C không
kháng cáo, chỉ có bà N, ông N1 và bà N2 kháng cáo. Tại phiên tòa, đại diện của bà
N yêu cầu được nhận lại phần đất tại thửa 215. Thấy rằng, thửa 215 hiện nay
cạnh hướng Bắc giáp với phần đất bên bà N đang sử dụng, việc giao trả đất là thực
hiện được. Do đó, cấp thẩm chbuộc ông C giao trả phần đất tại thửa 215 bằng
trị giá tiền là không không bảo đảm quyền lợi của phía bà N trong khi tại phiên tòa,
8
N cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương nơi N trú thể hiện
gia đình N nhu cầu sử dụng đất. vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo
của bà N, buộc ông C giao trả phần đất tại thửa 215, tờ bản đồ số 7 cho bà N là phù
hợp.
[3] Trong 04 thửa đất phía N kiện đòi ông C giao trả, gồm các thửa 215,
216, 217 và thửa 1077, phía ông C yêu cầu phản tố liên quan đến thửa 215. Cấp
thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của N về việc yêu cầu ông
C giao trả 04 thửa đất trong khi cũng lại không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông
C về việc công nhận việc hoán đổi đất đối với thửa 215 là có mâu thuẫn. Mặt khác,
việc ông H1 được cấp quyền sử dụng đất tại thửa 217 K được cấp quyền sử
dụng đất tại thửa 216 đúng quy định của pháp luật. Tuy trong nội dung khởi
kiện, N yêu cầu hủy giấy chứng nhận đã cấp cho những người này. Cấp
thẩm không chấp nhận việc hủy giấy là không thuộc thẩm quyền theo quy định. Do
cấp thẩm những thiếu xót trên, cấp phúc thẩm cần điều chỉnh lại phần quyết
định của bản án cho phù hợp.
[4] Do sửa án sơ thẩm, nên bà N, ông N1 và bà N2 không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật thi hành.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của Thái Hồng N; Sửa Bản án dân sự sơ
thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện
Hòa Bình (nay thuộc Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cà Mau).
2. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của Thái Hồng N kiện
đòi ông Hồng Văn C giao trả diện tích 6.253,1m2 (trong đó thửa 214, diện tích
2.800m2; thửa 220, diện tích 350m2), tọa lạc tại ấp D, V, huyện H, tỉnh Bạc
Liêu (nay là ấp D, xã H, tỉnh Cà Mau).
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Thái Hồng N, buộc ông
Hồng Văn C giao trả cho N phần đất diện tích đo đạc thực tế 3.639,6m2 tại
thửa 215, tbản đồ số 7, toạ lạc tại ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay ấp
D, xã H, tỉnh Cà Mau). Phần đất có vị trí, kích thước như sau:
+ Hướng Đông giáp kênh, dài 39,03m;
+ Hướng Tây giáp đất ông Hồng Văn C, dài 37,7m;
+ Hướng Nam giáp đất ông Hồng Văn C, dài 91,38m;
+ Hướng Bắc giáp đất bà Thái Hồng N, dài 101,16m;
4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thái Hồng N kiện đòi
ông Hồng Văn C giao trả các phần đất diện ch theo đo đạc thực tế tại mảnh
trích đo địa chính ngày 07/11/2020, gồm các thửa đất cùng tờ bản đồ số 7: Thửa
216, diện tích 1.737,9m2, thửa 217, diện tích 2.270m2, thửa 1077, diện tích
9
3.000m2, tọa lạc tại ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp D, xã H, tỉnh Cà
Mau).
5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Hồng Văn C vviệc công nhận
quyền sử dụng đất của ông C đối với phần đất tại thửa 215, tờ bản đồ số 7, diện
tích theo đo đạc thực tế là 3.639,6m2, toạ lạc tại ấp D, V, huyện H, tỉnh Bạc
Liêu (nay ấp D, H, tỉnh Mau). Tuyên bố, hợp đồng đổi đất giữa Thái
Hồng N với ông Hồng Văn H1 là hiệu. Về việc xử hậu quả của hợp đồng
hiệu:
5.1. Buộc Thái Hồng N nghĩa vụ giao trả cho ông Hồng Văn C phần đất
có diện tích theo đo đạc thực tế là 3.873,2m2 là một phần thuộc thửa số 213, tờ bản
đồ số 07, tọa lạc tại ấp D, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp D, xã H, tỉnh Cà
Mau). Phần đất có vị trí và kích thước như sau
+ Hướng Đông giáp đất ông Hồng Văn C, dài 134,08m;
+ Hướng Tây giáp kênh, dài 138,19m;
+ Hướng Nam giáp đất ông Hồng Minh S3, dài 52,39m;
+ Hướng Bắc giáp đất ông Bùi Quốc LHồng Thị N4, dài 5,61m;
5.2. Phần đất buộc ông C giao trả cho N được xác định tại mục 3 phần
“QUYẾT ĐỊNH” nói trên.
6. Vị trí, ranh giới, kích thước phần đất có diện tích 3.639,6m2 và phần đất có
diện tích 3.873,2m2 được thể hiện chi tiết tại đồ phần đất tranh chấp do Trung
tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B lập ngày 10/3/2025.
7. Trả lại cho ông N1 bà N4 300.000 (ba trăm nghìn) đồng/người tiền tạm
ứng án phí dân sự phúc thẩm theo các Biên lai thu tiền số 0006154 0006155
cùng ngày 27/5/2025 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Bình (nay
Phòng Thi hành án khu vực 7 - Cà Mau) phát hành.
8. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKS nd tỉnh Cà Mau;
- TAND khu vực 7 - CM;
- Phòng THA dân sự khu vực 7 - CM;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Trọng Quế
Tải về
Bản án số 446/2025/DS-PT Bản án số 446/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 446/2025/DS-PT Bản án số 446/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất