Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 44/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lộc Bình (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 44/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/01/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24-01-2025
V/v Ly hôn, tranh chp về nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Thị Tuyết Mai;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thịnh;
Ông Lê Minh Tuấn
-Thư phiên toà: Nguyễn Nhật Trang - Thư Tòa án nhân dân
huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên toà: Bà Hoàng Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc nh,
tỉnh Lạng Sơn xét xử thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ số:
94/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc "Ly n, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
42/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên
tòa số: 26/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 11 tháng 11 m 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn B, T,
huyn L, tnh Lng Sơn; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1998. Địa ch: Thôn B, T,
huyn L, tnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 30/9/2024, các lời khai sau đótrong
quá trình tiến hành tố tụng, nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H1 được tự do tìm hiểu, tự
nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày
12/3/2018. Sau khi kết hôn được một thời gian thì vợ chồng thường xuyên cãi
chửi nhau. Do tính tình không hợp nhau, mâu thuẫn cách sống không giống
2
nhau, không tìm được tiếng nói chung. Nên năm 2022 chđã về thôn B sống,
anh Nguyễn Văn H1 chị không liên lạc với nhau, không quan tâm nhau. Nay
chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Nguyễn Văn H1 không còn, mục đích
hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với
anh Nguyễn Văn H1, chị đề nghị không hòa giải giải quyết xét xử vắng mặt
chị.
Về con chung: 02 con chung cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày
05/5/2016 Nguyễn Tiến T, sinh ngày 11/8/2021. Hiện nay đang sống cùng
anh H1. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
con chung là cháu Nguyễn Ngọc D; yêu cầu anh Nguyễn Văn H1 được trực tiếp
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cháu Nguyễn Tiến T đến khi đủ
18 tuổi. Chưa bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Chhiện nay làm
tự do, thu nhập khoảng 4.000.000 đồng/tháng, cùng bố mẹ đẻ, chỗ ổn
định và có bố mẹ đẻ hỗ trợ chăm sóc con chung
Về tài sản chung, nợ chung: Không không yêu cầu xem xét, giải
quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Giấy triệu tập,
Thông báo thụ vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra tiếp
cận công khai chứng cứ Quyết định xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho
anh Nguyễn Văn H1, nhưng anh Nguyễn Văn H1 không cung cấp bản khai cho
Tòa án cũng không hợp tác nên Tòa án không thể lấy lời khai của anh
Nguyễn Văn H1 được.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/10/2024, cháu Nguyễn Ngọc D, sinh
ngày 05/5/2016 trình bày: Bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng sống với mẹ
cháu, mẹ vẫn quan tâm và mua đồ cho cháu.
Tại biên bản làm việc ngày 04/10/2024 với trưởng thôn B - nơi cư trú của
anh Nguyễn Văn H1, theo trưởng thôn thì ông không biết mâu thuẫn giữa chị
Hoàng Thị H anh Nguyễn Văn H1 thế nào, chỉ thấy chị Hoàng Thị H không
sống cùng anh Nguyễn Văn H1 các con được khoảng 01 - 02 năm nay, chị
Hoàng Thị H đi làm ng ty hay về nhà bố mẹ đẻ ông cũng không biết. Anh
Nguyễn Văn H1 làm tự do, thu nhập bao nhiêu ông không nắm được. 02 con
chung của chị Hoàng Thị H anh Nguyễn Văn H1 cháu Nguyễn Ngọc D
Nguyễn Tiến T đang sống cùng anh Nguyễn Văn H1 và bố mẹ anh Nguyễn Văn
H1, vẫn được đi học và được chăm sóc bảo đảm và chỗ ở ổn định, chị Hoàng
Thị H làm gì, thu nhập thế nào ông không nắm được. Anh Nguyễn Văn H1 hộ
khẩu vẫn B sống nhà. Một đứa trẻ để nuôi ăn học tại thôn thì bình quân
khoảng 2.000.000 đ/tháng tuỳ gia đình điều kiện hay không, gia đình
nhiều hoặc ít hơn. Lao động tự do trung bình thu nhập khoảng 3.000.000 đ -
4.000.000 đ/tháng.
Tại biên bản làm việc ngày 14/10/2024 Nông Thị L mẹ đẻ của anh
Nguyễn Văn H1 trình bày: không mâu thuẫn với anh Nguyễn Văn H1
3
chị Hoàng Thị H. không thấy anh Nguyễn Văn H1 chHoàng Thị H
mâu thuẫn gì, không biết do chị Hoàng Thị H lại làm đơn xin ly hôn với
anh Nguyễn Văn H1. Nhưng được khoảng 01 năm nay chị Hoàng Thị H về nhà
bố mẹ đẻ tại thôn B, T, huyện L sống. Không thấy anh Nguyễn Văn H1 đi
đón chị Hoàng Thị H lần nào. Chị Hoàng Thị H thỉnh thoảng vẫn về thăm các
con, nhưng không lại. Không thấy chị Hoàng Thị H anh Nguyễn Văn H1
quan tâm gì đến nhau. Chị Hoàng Thị H gọi điện cho bà chỉ để hỏi thăm tình
hình con cái. Các con của chị Hoàng Thị H và anh Nguyễn Văn H1 vẫn sống
cùng vợ chồng anh Nguyễn Văn H1 tkhi chị Hoàng Thị H bỏ về nhà bố
mẹ đẻ sống. Các cháu vẫn được chăm sóc đầy đủ đảm bảo. Anh Nguyễn n
H1 nhà làm ruộng, thu nhập không ổn định, nhưng các cháu vẫn đảm bảo nhu
cầu sống học tập nh thường. cam đoan nếu các cháu sống cùng anh
Nguyễn Văn H1 thì vchồng vẫn hỗ trợ chăm sóc đưa đón các cháu đầy
đủ và đảm bảo. Cháu Nguyễn Ngọc D chỉ bị anh Nguyễn Văn H1 mắng lúc cháu
học hành nghịch. Bình thường anh Nguyễn Văn H1 cũng không mắng các
con bao giờ. Thường mỗi tháng gia đình nuôi các cháu chi phí khoảng 2.000.000
đồng/tháng/cháu. Việc chị Hoàng Thị H xin ly hôn thì do các cháu quyết định.
mong vợ chồng chị Hoàng Thị H và anh Nguyễn Văn H1 quay về đoàn tụ để
cùng nuôi dậy con cái. Anh Nguyễn Văn H1 đã nhận được giấy triệu tập
Thông báo của Tòa án nhưng anh Nguyễn Văn H1 không nói gì. cam đoan sẽ
giao các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Nguyễn Văn H1.
Tại đơn ngày 25/10/2024 của Hoàng Thị H2 ông Hoàng Văn C
bố mẹ đẻ của chị Hoàng Thị H trình bày: Ông bà không có mâu thuẫn với chị
Hoàng Thị H anh Nguyễn Văn H1. Chị Hoàng Thị H và anh Nguyễn Văn H1
thường xuyên cãi chửi nhau. Chị Hoàng Thị H về sống cùng gia đình ông từ
năm 2022 đến nay. Không thấy anh Nguyễn Văn H1 đón chị Hoàng Thị H về
nhà lần nào. Nay chị Hoàng Thị H yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn H1 thì đề
nghị giải quyết theo quy định. Về con chung: Cháu Nguyễn Thị D nguyện
vọng sống cùng chị Hoàng Thị H, nếu chị Hoàng Thị H nuôi con ông bà cam kết
hỗ trợ chị Hoàng Thị H nuôi cháu Nguyễn Ngọc D, đưa đón cháu Nguyễn Ngọc
D những lúc chị Hoàng Thị H bận, chỗ ổn định cho 02 mẹ con. Chị Hoàng
Thị H làm tự do ông bà không biết thu nhập là bao nhiêu.
Ý kiến của đại din Viện kiểm sát nhân n huyện Lộc nh, tỉnh Lạng
Sơn:
Về tố tụng: Thẩm pn đã thực hiện đúng đầy đủ quy định theo Điều 28,
Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 93 đến Điều 97, Điều 195, Điều 196, Điều 203 B
luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tn theo đúng quy định tại Điều 239 Bộ luật
Tố tụng n sự vviệc xét xthẩm vụ án.
Thư đã thực hiện đúng, đầy đủ về thtục chuẩn bị khai mạc phn a,
ghi chép diễn biến phn tòa cho đến tớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo
quy định tại Điều 51 của Bluật Ttụng dân sự.
4
Nguyên đơn đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70,
Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành, thực hiện đúng các quy
định Bộ luật Tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án: ChHoàng Thị H anh Nguyễn Văn H1 kết
hôn trên sở tự nguyện và đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân T ngày
12/3/2018, đây quan hhôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung
sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, không tìm được
tiếng nói chung, chị Hoàng Thị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống, hai vợ chồng
không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Hoàng Thị H xác định không còn
tình cảm, không thể chung sống yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn
H1. Anh Nguyễn Văn H1 đã được giao nhận văn bản tố tụng và được thông báo
nội dung văn bản tố tụng nhưng không hợp tác, thể hiện anh Nguyễn Văn H1
không mong muốn đoàn tụ còn tình cảm vợ chồng với chị Hoàng Thị H. Xét
thấy chị Hoàng Thị H anh Nguyễn Văn H1 nhiều mâu thuẫn, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1
Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu
xin ly hôn của chị Hoàng Thị H, xcho chHoàng Thị H được ly hôn với anh
Nguyễn Văn H1.
Về con chung: Chị Hoàng Thị Hanh Nguyễn Văn H1 02 con chung
cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 05/5/2016 và cháu Nguyễn Tiến T, sinh ngày
11/8/2021. Khi ly hôn chị Hoàng Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục con chung cháu Nguyễn Ngọc D; yêu cầu anh Nguyễn
Văn H1 được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cháu
Nguyễn Tiến T đến khi đủ 18 tuổi, không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên
nào. Xét thấy các điều kiện nuôi con, chỗ ở, tài chính đều như nhau, cháu
Nguyễn Ngọc D con gái, nguyện vọng sống cùng chị Hoàng Thị H, cháu
hiện đang học T, nếu sống cùng chị Hoàng Thị H thì cũng không nh
hưởng đến học tập hay sinh hoạt của cháu. Nên mỗi bên chăm sóc một con
chung sẽ đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho các cháu. Căn cứ vào các Điều 81,
Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị giao Nguyễn Ngọc D, sinh
ngày 05/5/2016 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
và giao cháu Nguyễn Tiến T, sinh ngày 11/8/2021 cho anh Nguyễn Văn H1 trực
tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Không bên nào cấp
dưỡng nuôi con cho bên nào.
Về i sản chung, nợ chung không n đề nghkhông xem t. Nguyên
đơn chị Hoàng Thị H phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây phiên tòa lần thứ hai, nguyên đơn đã được
Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn triệu tập hợp lệ đến phiên toà
nhưng không mặt đã đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn đã được Toà
án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn triệu tập hợp l đến phiên toà
nhưng vắng mặt không do. Theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227;
5
khoản 1 Điều 228 điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Ttụng dân sự,
Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn bị đơn
theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu ly hôn, giải quyết tranh chấp nuôi con khi ly hôn vì vậy quan hệ pháp
luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn H1, ttại thôn B, T,
huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án
nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H anh Nguyễn Văn H1 đăng
kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Giấy chứng
nhận số 17, ngày 12/3/2018, đây hôn nhân hợp pháp được pháp luật công
nhận bảo vệ. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng
quan điểm, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không còn quan m,u tơng nhau, đã
ly thân từ m 2022 cho đến nay. ChHoàng Thị H xin ly n, anh Nguyễn Văn
H1 đã được tống đạt và thông báo hợp lệ văn bản tố tụng nng không ý kiến
để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng t xxét thấy tình trạng n nhân
của chHoàng ThH anh Nguyễn n H1 đã trầm trọng, mục đích n nhân
không đạt được,u thuẫn vợ chồng không n khả năng hàn gắn. Do đó, yêu cầu
lyn của chHoàng Thị H có căn cn được chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị Hoàng Thị H và anh Nguyễn Văn H1 02 con
chung cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 05/5/2016 cháu Nguyễn Tiến T,
sinh ngày 11/8/2021. Hin nay c 02 con chung đang sống vi anh Nguyễn Văn
H1. Ch Hoàng Th H nguyn vng đưc trc tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dc con chung cháu Nguyn Ngc D đến khi đủ 18 tui, ch Hoàng Th
H chưa yêu cu anh Nguyễn Văn H1 cấp dưỡng nuôi con; ch Hoàng Th H đề
ngh anh Nguyễn Văn H1 trc tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung
cháu Nguyn Tiến T đến khi đủ 18 tui, ch Hoàng Th H không cấp dưỡng nuôi
con.
[5] Th nhất: ChHoàng ThH nguyện vọng được nuôi cu Nguyễn
Ngọc D đề nghanh Nguyễn n H1 nuôi cu Nguyễn Tiến T, anh Nguyễn
n H1 không có ý kiến , mặc nhn thừa nhận yêu cầu nuôi con của chị Hoàng
Thị H.
[6] Thứ hai: Cháu Nguyễn Ngọc D đã đủ 07 tuổi nguyện vọng sống với
chị Hoàng Thị H cu lại là con gái, để đảm bảo quá trình cm sóc phát triển tâm
sinh cho cháu, đcháu sống với mẹ hoàn toàn phù hợp.
[7] Thba: Cháu Nguyễn Tiến T con trai, đang sống ng anh Nguyễn
n H1, vẫn được ni ỡng phát triển đảm bảo, chăm sóc tốt.
[8] Thtư: Anh Nguyễn n H1 và chị Hoàng Thị H đều được gia đình bố
mẹ đhỗ trợ nuôi con, chỗ đảm bảo.
6
[9] Như vậy t về điều kiện, hoàn cảnh của hai n đều như nhau, để đảm
bảo quyền lợi tốt nhất cho c con chung thì việc giao con chung cháu Nguyễn
Ngọc D cho chị Hoàng ThH nuôi đưỡng, chăm c, giáo dục giao con chung là
cháu Nguyễn Tiến T cho anh Nguyễn n H1 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
phù hợp có n cứ.
[10] t thấy u cầu về việc nuôi con của chị Hoàng Thị H cần được chấp
nhận. Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc D cho chị Hoàng Thị
H trực tiếp chăm sóc, nuôiỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi; giao con chung
cháu Nguyễn Tiến T cho anh Nguyễn Văn H1 trực tiếp chăm c, nuôi dưỡng,
giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Chưa n o phải cấp ỡng ni con cho n
o do c bên chưa yêu cầu. n không trực tiếp nuôi con quyền, nga vụ
thăm nom con chung, kng ai được cản trở.
[11] Về tài sản chung: Chị Hoàng Th H không yêu cầu xem xét giải
quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[12] Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị H xác định không nợ chung. Do
vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[13] Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị H phải chịu án phí theo quy
định của pháp luật.
[14] Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa căn cứ,
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét x nên được chấp nhận.
[15] Về quyền kháng cáo: c đương sự có quyền kháng o bản án theo
Điều 273 của Bluật Tố tụng n sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều
82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 271, khoản 1
Điều 273; khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh
Nguyễn Văn H1. (Giấy chứng nhận kết hôn số 17, đăng ngày 12/3/2018 tại
Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn)
2. Về con chung:
Giao 01 (một) con chung cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 05/5/2016
cho chị Hoàng ThH trc tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi đủ 18
7
tuổi. Anh Nguyễn n H1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị Hoàng Thị H
chưa yêu cầu.
Giao 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Tiến T, sinh ngày 11/8/2021 cho
anh Nguyễn n H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi đủ 18
tuổi. Chị Hoàng ThH chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh Nguyễn Văn H1
chưa yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nga vụ thăm nom con chung,
không ai được cản trở việc thực hiện quyền y.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. c nhận chị Hoàng
Thị H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002701 ngày 03 tháng 10 năm 2024 tại
Chi cục Thi hành án dân shuyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Chị Hoàng Thị H
đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, ktừ ngày nhận được bản án
hoc kể từ ny bn án được niêm yết theo quy đnh ca Blut T tụng n s.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện Lộc Bình;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Tải về
Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất