Bản án số 407/2025/DS-PT ngày 25/12/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 407/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 407/2025/DS-PT ngày 25/12/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 407/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/12/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị linh D
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 407/2025/DS-PT
Ngày: 25 - 12 - 2025
V/v yêu cầu huỷ văn bản thoả thuận
phân chia di sản thừa kế và công nhận
quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hồng.
Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr, bà Lưu Thị Thu Hường.
- Thư phiên tòa: Trần Thị Mỹ Hạnh TToà án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Phan Văn Công - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai ván dân sự thụ s303/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 10
năm 2025 về việc: “Yêu cầu huỷ văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế
công nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sựthẩm số: 94/2025/DS-ST ngày
06/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay Toà
án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 414/QĐ-PT ngày 17/11/2025, Quyết
định hoãn phiên toà số: 365/QĐ-PT ngày 01/12/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Phạm Thị Linh D, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn B, C,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lương Xuân Đ, sinh năm 1991. Địa chỉ:
Thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng) Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phạm Hùng T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn C, C, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương H, sinh năm 1958; Địa chỉ: B N,
phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Phạm Văn L, sinh năm 1945; Địa chỉ: Thôn C, C, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Có mặt.
2
3.2. Bà Phạm Thị ch N, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn C, xã C, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt.
3.3. Bà Phạm Thị Lễ X, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn H, C, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt.
3.4. Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn C, C, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Có mặt.
3.5. Phạm Ngọc A, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn C, C, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Có mặt.
3.6. Bà Phạm Thị Thanh D1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn B, xã C, thành phố
B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Có mặt.
3.7. Phạm Thị Thu H2, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn C, C, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của những liên quan trên là: Ông Lương Xuân
Đ, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn H, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay Đ,
tỉnh Lâm Đồng) Có mặt.
3.8. Bà Nguyễn Thị L1 (chết)
Những người thừa kế của L1: Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T1,
Nguyễn Thị L2, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Thanh V Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của H3, T1, L2, ông K, V: Ông
Lương Xuân Đ mặt.
3.9. Bà Phùng Kim Tú H4, sinh năm 1982; Địa chỉ: Đường A, xã C, thành phố
B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H4: Ông Trương H Có mặt.
3.10. Văn phòng C; Địa chỉ: A L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay 1 Y,
phường B, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt.
3.11. Ngân hàng TMCP X1 (E).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Minh T2, chức vụ: Giám đốc Ngân
hàng TMCP X1, Chi nhánh Đ1, P; Địa chỉ: B P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là
phường B, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị Linh D và người đại diện theo
uỷ quyền của bị đơn là ông Trương H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện qtrình giải quyết vụ án, nguyên đơn người đại
diện theo uỷ quyền trình bày:
Gia đình bà D có các quyền sử dụng đất sau:
1. Quyền sdụng đất theo Giấy chứng nhận sK 522580 do UBND thành phố
B cấp ngày 14/12/1996 đối với thửa đất số 150, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.790m
2
,
trong đó có 400m
2
đất ở và 1390m
2
đất màu.
3
2. Quyền sdụng đất theo Giấy chứng nhận sK 522579 do UBND thành phố
B cấp ngày 14/12/1996 đối với thửa đất số 104, tờ bản đồ số 26, diện tích 5.545m
2
đất trồng cà phê.
3. Quyền sdụng đất theo Giấy chứng nhận sK 522577 do UBND thành phố
B cấp ngày 14/12/1996 đối với thửa đất số 195, tờ bản đồ số 1, diện tích 7620m
2
đất
trồng mía.
4. Quyền sdụng đất theo Giấy chứng nhận sK 522578 do UBND thành phố
B cấp ngày 14/12/1996 đối với thửa đất số 134A, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.070m
2
đất trồng cà phê.
Các thửa đất đều toạ lạc tại C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và được cấp cho
hộ ông Phạm Văn L.
D con gái ruột (thuộc hàng thừa kế thứ nhất) của bà Nguyễn Thị H5, sinh
năm 1952 (chết ngày 23/6/2004) ông Phạm Văn L, sinh năm 1945. Thời gian gần
đây bà D phát hiện tất cả những tài sản nêu trên đã mang tên ông Phạm Hùng T. Sau
khi gặp gỡ và hỏi thăm mọi người trong gia đình thì được biết vào ngày 07/01/2015,
ông Phạm Văn L và các bà N, X, H1, A, D1, H2 đã văn bản thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế và tặng cho toàn bộ tài sản nêu trên cho ông T. Mục đích ông T nhờ
mọi người trong gia đình để ông T thuận tiện trong việc vay mượn Ngân hàng
chứ không hề biết để sang tên tài sản cho ông T, trong khi D không biết,
không ký văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế trên.
Vì vậy, bà D yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
1. Hủy toàn bộ Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày
07/01/2015 tại Văn phòng C đối với 04 quyền sử dụng đất theo các Giấy chứng nhận
số K 522580, K 522579, K 522577, K 522578.
2. Công nhận 04 quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất nêu trên là tài
sản chung của hộ ông Phạm Văn L.
* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phạm Hùng T người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phùng Kim Tú H4 là ông Trương H trình bày:
Gia đình ông T gồm 11 người cụ thể: cha mẹ ông T là ông Phạm Văn L và bà
Nguyễn Thị H5, bà ngoại Nguyễn Thị L1 và các con gồm: Phạm Thị Linh D, Phạm
Thị Bích N, Phạm Thị Lễ X, Phạm Thị Thu H1, Phạm Ngọc A, Phạm Thị Thanh
D1, Phạm Hùng T, Phạm Thị Thu H2. Năm 2004, mẹ ông T bệnh mất. Ngày
07/01/2015 gia đình ông T lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại Văn
phòng C có nội dung:
Các ông, bà gồm: Phạm Văn L, Phạm Thị Bích N, Phạm Thị Lễ X, Phạm Thị
Thu H1, Phạm Ngọc A, Phạm Thị Thanh D1, Phạm Thị H2 và Nguyễn Thị L1 (mẹ
ruột, chồng con ruột của H5) đều đồng thuận tặng cho toàn bộ quyền hưởng
di sản của mình là ½ các quyền sdụng đất theo GCNQSD đất số K 522580, K
522579, K 522577, K 522578 cho ông Phạm Hùng T. Đồng thời ông Phạm Văn L
đồng ý tặng cho ½ các quyền sử dụng đất nêu trên tài sản của ông trong khối tài
sản chung vợ chồng cho ông Phạm Hùng T. Văn bản thỏa thuận được Văn phòng C
4
chứng thực theo quy định. Trên sở đó, ngày 21/01/2015 ông T đã được cấp đổi
GCNQSD đất mới mang tên Phạm Hùng T.
Đối với bà Phạm Thị Linh D, khi nhân viên Văn phòng C đến địa chỉ C đường
Y, thôn C, C để giám sát việc chứng thực Văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế thì D cũng mặt nhưng không i mất giấy khai sinh đã tách
khỏi hộ khẩu gia đình. Sau khi ông T được sang tên quyền sử dụng đất thì bà D và
X đề nghị mua lại thửa đất số 195, tờ bản đồ số 1, diện tích 7.620m
2
với số tiền
400.000.000 đồng bằng thỏa thuận miệng, chưa đưa tiền cho ông T, hiện bà D và bà
X đang canh tác trên thửa đất đó. Vì đứng tên ông T cho nên bà D và X đề nghị
ông T vay ngân hàng hộ từ năm 2015 tại Ngân hàng E Phan Chu T3 số tiền
400.000.000 đồng, D X đóng lãi cho ngân hàng theo định kỳ, đến năm 2016
X D yêu cầu ông T vay lên số tiền 500.000.000 đồng trả lãi qua tài khoản
của H4 vợ ông T để đóng lãi ngân hàng cho đến nay. Như vậy, D đã biết rất
việc kết văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, biết ông T đã được
cấp đổi GCNQSD đất cho nên mới có thỏa thuận mua lại đất của ông T hiện nay
đang nhờ ông T vay và bà X cùng bà D trả lãi suất ngân hàng theo định kỳ.
Đối với văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 07/01/2015 được
thực hiện tnguyện, đúng trình tự quy định của pháp luật, hiện nay ông T đã thế
chấp các tài sản trên tại ngân hàng E. Đề nghị Tòa án xem xét bác yêu cầu khởi kiện
của bà D.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn L trình bày:
Ông L vợ là Nguyễn Thị H5, đã chết năm 2004. Quá trình chung sống ông
H5 tạo lập được khối tài sản chung gồm 04 thửa đất như nguyên đơn trình bày.
Sau khi bà H5 chết, ông L, mẹ vợ ông là bà L1 cùng 08 người con thống nhất để lại
04 thửa đất trên cho ông Phạm Hùng T sẽ ra văn phòng công chứng để văn
bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, đến ngày 07/01/2015 thì
Phạm Thị Linh D không đến và không ký vào văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế. Sau đó vợ chồng ông T không quan tâm chăm sóc ông, ông phải ở nhà con
gái, điều này ảnh hưởng đến quyền lợi, danh dự của ông. Nay D yêu cầu hủy văn
bản phân chia di sản thừa kế công nhận quyền sử dụng đất tài sản chung của
hộ ông L thì ông đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Ông Lương Xuân Đ là người đại diện theo ủy quyền của những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Các ông đồng ý theo đơn khởi kiện của nguyên đơn. D con gái ruột
của Nguyễn Thị H5 (hàng thừa kế thứ nhất). Ngày 07/01/2015 ông Phạm Hùng
T đã nhờ các thành viên trong gia đình văn bản chia di sản thừa kế và sang tên
các GCNQSD đất cho ông T. D một thành viên trong gia đình một phần
quyền tài sản đồng thời có một phần quyền hưởng di sản thừa kế của các GCNQSD
đất. Nhận thấy văn bản chia di sản thừa kế đối với các quyền sử dụng đất xâm phạm
đến quyền lợi của bà D, do đó đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên
đơn, hủy văn bản phân chia di sản thừa kế và công nhận 04 quyền sử dụng đất trên
là tài sản chung của hộ ông Phạm Văn L.
5
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP X1 trình bày:
Từ ngày 01/7/2014 đến nay, ông Phạm Hùng T nhiều lần đến ngân hàng đề
nghị được vay vốn. Sau khi thẩm định thực tế, ngân hàng đã đồng ý cấp tín dụng với
tổng số tiền 14,3 tỷ đồng và nhận thế chấp 04 quyền sử dụng đất.
1. Số tiền vay 2.500.000.000 đồng, dư nợ 625.000.000 đồng. Ngày vay
13/7/2021. Ngày đáo hạn 13/7/2026. Mục đích hoàn trả tiền mượn bên thứ ba để
nhận chuyển nhượng bất động sản.
2. Số tiền vay 2.600.000.000 đồng. nợ 1.820.000.000 đồng. Ngày vay
12/4/2022. Ngày đáo hạn 12/4/2032. Mục đích thanh toán tiền nhận chuyển nhượng
bất động sản.
3. Số tiền vay 1.000.000.000 đồng. Dư nợ 875.000.000 đồng. Ngày vay
12/12/2023. Ngày đáo hạn 12/12/2033. Mục đích đầu tư xây dựng trang trại gà.
4. Số tiền vay 8.200.000.000 đồng. nợ 8.200.000.000 đồng. Ngày vay
05/12/2024. Ngày đáo hạn 05/6/2025. Mục đích bsung vốn lưu động kinh doanh
trang trại chăn nuôi lấy trứng, trồng phê, hồ tiêu sầu riêng nuôi nai lấy
nhung.
Các tài sản đảm bảo cho khoản vay gồm: Quyền sử dụng 151,5m
2
đất (thửa đất
số 715, tờ bản đsố 93) tại mặt đường A, thôn B, C, thành phố B; Quyền sử dụng
1.790m
2
thửa đất số 150, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại số C đường I, thôn C, xã C,
thành phố B; Quyền sử dụng 7.620m
2
thửa đất số 195, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại thôn
H, C, thành phố B; Quyền sử dụng 03 thửa đất liền kề, tổng diện tích 11.562m
2
thửa đất số 104, 135A, 135 tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại hẻm P, thôn C, C, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Sau khi hoàn thành việc thế chấp và đăng ký giao dịch đảm bảo, Ngân hàng đã
tiến hành giải ngân cho khách hàng.
Trong quá trình vay vốn ông Phạm Hùng T trả số nợ gốc và lãi vay đúng hạn,
Ngân hàng không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thay khách hàng. Quá trình thẩm
định cho vay và thực hiện các thủ tục nhận thế chấp theo đúng quy định. Vì vậy để
đảm bảo quyền và lợi ích của ngân hàng, đề nghị Tòa án xem xét góc độ ngay tình
của ngân hàng. Các tài sản liên quan đến tranh chấp trong vụ án này đang được đảm
bảo cho nợ của ông T tại ngân hàng. Do đó ngân hàng yêu cầu Tòa án không
đồng ý hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất liên
quan vì khi hủy sảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp ngay tình
của ngân hàng.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng tỉnh C: đã
được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng
không tham gia tố tụng, không ghi nhận được ý kiến.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2025/DS-ST ngày 06/6/2025 của Tòa án
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là T án nhân dân khu
vực 1 – Đắk Lắk) đã quyết định:
Căn cứ các điều 117, 609, 612, 613, khoản 1 Điều 623, Điều 649, 656, 660 của
6
Bộ luật dân sự năm 2015;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị Linh D:
Tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 07/01/2015, số công
chứng 00070, quyển số 12/TP/CC–SCC/HĐGD lập tại Văn phòng C là vô hiệu.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về công nhận quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 150, tờ bản đồ số 26; thửa đất
số 195, tờ bản đồ số 1; thửa đất số 104, tờ bản đồ số 26; thửa đất số 134A, tờ bản đồ
số 26, tại C, thành phố B theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K522580,
K522579, K522577, K522578 là tài sản chung của hộ ông Phạm Văn L.
3. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn Phạm Thị Linh D phải chịu 42.000.000
đồng chi phí tố tụng. Bà D đã nộp và chi phí hết.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên ván phí quyền kháng cáo theo quy định
pháp luật.
Ngày 09/6/2025, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trương H
kháng cáo một phần bản án thẩm, đnghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhận văn
bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có hiệu lực.
Ngày 19/6/2025, nguyên đơn bà Phạm Thị Linh D kháng cáo một phần Bản án
sơ thẩm về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng (thẩm định và định giá tài sản), đề nghị cấp
phúc thẩm buộc nguyên đơn và bị đơn mỗi bên chịu ½ chi phí tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nội dung
kháng cáo. Bị đơn giữ nguyên đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm tại
phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, các
đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bđơn, sửa một phần bản án thẩm theo
hướng: Hủy một phần Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế về việc người
liên quan bị đơn định đoạt toàn bộ ½ di sản của H5, đối với phần D quyền
khởi kiện bằng vụ án chia di sản khác, phần còn lại của những người đã ký và phần
tài sản của ông L đã chuyển quyền cho ông T hiệu lực. Không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn c vào tài liệu, chng c đã đưc thu thập có trong hồ sơ vụ án đã đưc
thẩm tra tại phiên tòa; căn c vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem
xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chng c, lời trnh bày của các đương sự, quan
điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
7
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn nộp trong hạn luật định
đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được xem xét giải quyết theo trình
tự phúc thẩm là phù hợp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét kháng cáo của bị đơn về việc tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế vô hiệu:
Ngày 14/12/1996, hộ ông Phạm Văn L được UBND thành phố B cấp GCNQSD
đất lần lượt là K 522580 đối với thửa đất số 150, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.790m
2
;
K 522579 đối với thửa đất số 104, tờ bản đồ s26, diện tích 5.545m
2
; K 522577 đối
với thửa đất số 195, tờ bản đồ số 1, diện tích 7620m
2
; K 522578 đối với thửa đất số
134A, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.070m
2
. Tài sản trên được các đương sự thừa nhận
tài sản chung của ông Phạm Văn L vợ Nguyễn Thị H6 ã chết năm 2004),
trước khi chết bà H6 không để lại di chúc. Tại thời điểm mở thừa kế, những người
thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà H6 bao gồm: Ông Phạm Văn L, bà Nguyễn Thị
L1 (mẹ đẻ bà H6) 08 người con Phạm Thị Lễ X, Phạm Thị Linh D, Phạm Thị
Thanh D1, Phạm Thị Bích N, Phạm Thị Thu H1, Phạm Hùng T, Phạm Thị Thu H2,
Phạm Ngọc A.
Ngày 07/01/2015, gia đình ông L lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế để định đoạt di sản thừa kế của bà H6 để lại và phần tài sản của ông L trong khối
tài sản chung của vợ chồng, gồm các thành viên: Ông L, bà L1, bà X, bà D1, bà N,
H1, ông T, bà H2, bà A (không có bà D). Nội dung văn bản xác định di sản thừa
kế 04 quyền sử dụng đất nêu trên những người thừa kế đồng thuận tặng cho
toàn bộ quyền hưởng di sản của mình ½ các quyền sử dụng đất cho ông T, đồng
thời ông L ng đồng ý tặng cho ½ các quyền sử dụng đất là tài sản riêng của ông L
trong khối tài sản chung của vợ chồng cho ông T; ông T đồng ý nhận được trọn
quyền sử dụng đất đã được phân chia. Tại Văn bản này, những người thừa kế còn
cam đoan, ngoài các ông ra, H5 không còn người thừa kế nào khác, nếu sau
này phát hiện người được hưởng thừa kế thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm
trước pháp luật, việc phân chia, tặng cho không nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản,
cũng không sự gian dối nào trong việc phân chia di sản. Mặc Văn bản thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế đã được công chứng, chứng thực theo quy định pháp
luật nhưng đã bỏ sót người thừa kế hàng thứ nhất Phạm Thị Linh D - con đẻ
của H5, vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 676 Bộ luật dân sự năm
2005:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật đưc quy định theo th tự sau đây:
a) Hàng thừa kế th nhất gồm: v, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi,
con đẻ, con nuôi của người chết;
....
2. Những người thừa kế cùng hàng đưc hưởng phần di sản bằng nhau.”
Và Điều 681 Bộ luật dân sự năm 2005:
8
“1. Sau khi thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc đưc công bố, những
người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:
a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ
của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b) Cách thc phân chia di sản.
2. Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải đưc lập thành văn bản.”
Do vi phạm điều kiện hiệu lực của giao dịch dân sự, căn cứ theo quy định
tại Điều 122, 127, 128 Bộ luật dân sự năm 2005, Toà án cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu
Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế ngày 07/01/2015 căn cứ. Tuy
nhiên, cấp sơ thẩm áp dụng các quy định về giao dịch dân sự và thừa kế tài sản theo
Bộ luật dân sự năm 2015 là chưa phù hợp, bởi lẽ tại thời điểm kết Văn bản thoả
thuận phân chia di sản thừa kế thì Bộ luật dân sự năm 2005 đang hiệu lực. Toà
án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm, Hội đồng xét xử phúc thẩm điều chỉnh lại điều
luật cho đúng.
Xét thấy, quá trình tham gia tố tụng, các đương sự xác định 04 thửa đất là tài
sản chung của ông L H5, các thành viên khác không đóng góp gì. Ngày
07/01/2015, khi lập văn bản phân chia di sản thừa kế thì các bên thống nhất 02 nội
dung: một các đồng thừa kế thống nhất tặng cho quyền hưởng di sản ½ các
quyền sử dụng đất cho ông T, hai là ông L đồng ý tặng cho ½ các quyền sử dụng đất
trên thuộc tài sản riêng của ông L trong khối tài sản chung cho ông T. Do bỏ sót
hàng thừa kế thứ nhất nên nội dung định đoạt ½ di sản thừa kế của H5 bị vô hiệu,
còn nội dung ông L T4 cho ½ các quyền sử dụng đất cho ông T vẫn hiệu lực.
Đáng lẽ văn bản phân chia di sản thừa kế bị vô hiệu một phần nhưng các đương sự
trong vụ án không yêu cầu chia thừa kế hay tài sản chung, khối tài sản chung hợp
nhất, không thể xác định phần quyền sử dụng đất nào, diện tích bao nhiêu bị
hiệu. Mặt khác nếu tuyên hiệu một phần của Văn bản thoả thuận phân chia di sản
thừa kế thì phần còn lại của Văn bản không thể tồn tại độc lập và có giá trị pháp
để thi hành. Do đó cần tuyên vô hiệu toàn bộ Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày
07/01/2015 như Bản án thẩm. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị huỷ
một phần Văn bản phân chia di sản thừa kế đối với phần người liên quan và bị đơn
định đoạt toàn bộ ½ di sản của bà H5, phần còn lại của những người đã ký và phần
tài sản của ông L đã chuyển quyền cho ông T có hiệu lực là chưa phù hợp với nhận
định trên nên không có căn cứ chấp nhận.
Phía bđơn kháng cáo cho rằng thời điểm năm 2015 D đã biết việc ký kết
văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế, biết việc ông T được cấp đổi giấy chứng
nhận quyền sdụng đất nên mới thoả thuận mua lại của ông T thửa đất số 195, tờ
bản đồ số 1, diện tích 7.620m
2
với stiền 400.000.000 đồng, hiện D đang sử dụng
thửa đất trên đồng thời nhờ ông T vay hộ ngân hàng và trả lãi hàng tháng thông qua
tài khoản của H4. Phía bà D thừa nhận có việc thoả thuận mua lại đất của bố chứ
không phải mua của ông T khi này mới biết đất đứng tên ông T, nhờ ông T
vay hộ 100.000.000 đồng và trả lãi ngân hàng nhưng bà D không thừa nhận đã biết
việc văn bản thoả thuận phân chia toàn bộ di sản thừa kế cho ông T từ năm 2015,
9
ngoài ra ông T ng không tài liệu chứng cứ nào chứng minh. Do đó không
căn cứ chấp nhận lời trình bày của bị đơn.
Đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng 04 thửa đất là tài sản chung của hộ
ông L thấy rằng: Do văn bản phân chia di sản thừa kế bị hiệu nên 04 quyền sử
dụng đất trên trở lại là tài sản chung của hộ ông L, các đương sự đều không có yêu
cầu phân chia di sản thừa kế hay chia tài sản chung nên việc nguyên đơn yêu cầu
công nhận như trên không phù hợp. Toà án cấp thẩm bác đơn khởi kiện, nội
dung này không kháng cáo, không bị kháng nghị nên hiệu lực pháp luật. Về
hậu quả của việc tuyên Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế các đương sự
không có yêu cầu nên không xem xét.
[2.2] Xét kháng cáo của nguyên đơn về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng thấy rằng:
Nguyên đơn người yêu cầu xem xét thẩm định tại chđịnh giá tài sản, nghĩa
vụ nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Tuy nhiên, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất tài sản chung của nguyên đơn không được Toà án chấp
nhận nên nguyên đơn phải chịu các chi phí tố tụng là đúng theo quy định Điều 157,
Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với yêu cầu tuyên văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế hiệu được
chấp nhận yêu cầu xem xét, đánh giá về mặt hình thức, nội dung của văn bn công
chứng, không cần thiết phải xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Bị đơn phải
chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu này được chấp nhận. Do đó, không
thể buộc bị đơn phải chịu chi phí tố tụng này cùng với nguyên đơn.
[2.3] Từ những phân tích lập luận trên, xét thấy kháng cáo của nguyên đơn
Phạm Thị Linh D kháng cáo của người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn
ông Trương H đều không căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên các quyết định của
Bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên D, ông H phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Phạm Thị Linh D kháng
cáo của người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là ông Trương H.
Giữ nguyên Bản án dân sthẩm số 94/2025/DS-ST ngày 06/6/2025 của Tòa
án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là Toà án nhân dân khu
vực 1 – Đắk Lắk).
Căn cứ các Điều 122, 127, 128, 631, , 632, 633, 635, 676, 681 Bộ luật dân sự
năm 2005; Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26, khoản 1
10
Điều 29 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Linh D
Tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 07/01/2015, số công
chứng 00070, quyển số 12/TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng C là vô hiệu.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về công nhận quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 150, tờ bản đồ số 26; thửa đất
số 195, tờ bản đồ số 1; thửa đất số 104, tờ bản đồ số 26; thửa đất số 134A, tờ bản đồ
số 26, tại C, thành phố B theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K522580,
K522579, K522577, K522578 là tài sản chung của hộ ông Phạm Văn L.
3. Về chi phí tố tụng: Phạm Thị Linh D phải chịu 42.000.000 đồng chi phí
tố tụng, được khấu trừD đã nộp và chi phí hết).
4. Về án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Phạmng T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn Phạm Thị Linh D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự
thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 2.400.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu tiền số AA/2023/0004432 ngày 24/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân
sự thành phố Buôn Ma Thuột (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1). Bà Phạm
Thị Linh D được nhận lại số tiền 2.100.000 đồng.
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Phạm Hùng T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được
khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011165 ngày 16/6/2025 của
Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột (nay Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 1).
Phạm Thị Linh D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được
khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000251 ngày 03/7/2025 tại
Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
[2] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1;
- Đương sự;
- Cổng thông tin điện tử TA;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Hồng
11
Tải về
Bản án số 407/2025/DS-PT Bản án số 407/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 407/2025/DS-PT Bản án số 407/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất