Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 39/2024/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Lộc Bình (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
Số hiệu: | 39/2024/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 31/07/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | 1. Về quan hệ hôn nhân |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31-7-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vi Thị Hòa và bà Đặng Thị Phương
-Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên toà: Ông Hoàng Chí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh
Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số:
58/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2024; về việc "Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
34/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên
tòa số: 20/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị N, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn N, xã Y,
huyện B, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, Luật
sư, thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh
Lạng Sơn, có mặt.
- Bị đơn: Anh Vi Văn H, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn S, xã X, huyện L,
tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 11/5/2024, các lời khai sau đó và quá
trình tiến hành tố tụng, nguyên đơn chị Đặng Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vi Văn H được tự do tìm hiểu, tự
nguyện kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức cưới cho theo phong tục địa

2
phương, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã X, huyện L, tỉnh
Lạng Sơn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05, ngày 27/7/2021. Thời gian đầu
sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng bình thường, nhưng được một thời gian
ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường
xuyên cãi chửi nhau. Đến tháng 01/2023 chị đã bỏ về Cao Bằng sống cùng bố
mẹ đẻ cho đến nay. Chị và anh Vi Văn H không quan tâm, không liên lạc gì với
nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không
đạt được, yêu cầu ly hôn với anh Vi Văn H, chị đề nghị giải quyết xét xử vắng
mặt và đề nghị không hòa giải.
Về con chung: Có 01 con chung, cháu tên là Vi Bảo N, sinh ngày
02/10/2021. Hiện nay đang sống cùng với anh Vi Văn H, khi ly hôn chị yêu cầu
anh Vi Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con đến khi con đủ 18 tuổi và chị
không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Chị
Đặng Thị N và anh Vi Văn H có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống hiện
nay đã không quan tâm, yêu thương lẫn nhau và sống ly thân từ năm 2023 cho
đến nay. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị N được ly hôn với anh Vi
Văn H. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao 01 con chung là cháu Vi
Bảo N, sinh ngày 02/10/2021 cho anh Vi Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc
và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị Đặng Thị N
không cấp dưỡng cho con do anh Vi Văn H chưa yêu cầu. Về tài sản chung, nợ
chung không đề nghị Toà án giải quyết và đề nghị miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho
chị Đặng Thị N do chị Đặng Thị N là người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh
sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đã có đơn xin miễn tạm ứng án
phí, miễn án phí.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Giấy triệu tập,
Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết
định hoãn phiên toà cho anh Vi Văn H nhưng anh Vi Văn H không cung cấp bản
khai cho Tòa án và cũng không hợp tác nên Tòa án không thể lấy lời khai của
anh Vi Văn H được.
Tại biên bản xác minh ngày 03/7/2024 với ông Vi Văn T là bố đẻ của anh
Vi Văn H cho biết: Các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý vụ án;
Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải thì ông đã giao cho anh Vi Văn H. Sau khi anh Vi
Văn H nhận được các văn bản trên thì anh Vi Văn H đồng ý ly hôn với chị Đặng
Thị N. Về con chung anh Vi Văn H nhất trí trực tiếp nuôi dưỡng con chung là
cháu Vi Bảo N đến khi trưởngg thành và chưa yêu cầu chị Đặng Thị N cấp
dưỡng nuôi con chung. Hiện nay cháu Vi Bảo N đang ở cùng với vợ chồng ông
và anh Vi Văn H, cháu được chăm sóc đảm bảo tốt. Chị Đặng Thị N và anh Vi

3
Văn H trong quá trình chung sống thì ông không thấy có mâu thuẫn gì, nhưng từ
tháng 01/2023 cho đến nay chị Đặng Thị N đi làm công ty cho không thấy về
gia đình sinh sống lần nào, còn anh Vi Văn H đi làm công ty không biết thu
nhập được bao nhiêu một tháng. Khi anh Vi Văn H đi làm công ty thì vợ chồng
ông hỗ trợ anh Vi Văn H chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Vi Bảo N đảm bảo tốt.
Tại biên bản xác minh ngày 03/7/2023 với ông Nông Văn Hòa - trưởng
thôn S, xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn cho biết: Chị Đặng Thị N và anh Vi Văn
H trong quá trình chung sống thì ông cũng không thấy có mâu thuẫn gì, nhưng
từ đầu năm 2023 cho đến nay thì không thấy chị Đặng Thị N về địa phương sinh
sống lần nào, còn anh Vi Văn H hiện nay đi làm công ty thỉnh thoảng mới về địa
phương sinh sống. Anh Vi Văn H hiện nay có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú
tại thôn S, xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Anh Vi Văn H và chị Đặng Thị N có
01 con chung là cháu Vi Bảo N, hiện nay đang sinh sống cùng anh Vi Văn H
Hùng và bố mẹ của anh Vi Văn H và thấy cháu Vi Bảo N được chăm sóc và
nuôi dưỡng đảm bảo tốt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn:
Về tố tụng: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp,
thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng; thực hiện đúng việc thu thập tài
liệu chứng cứ, việc tống đạt văn bản tố tụng được thực hiện hợp lệ, trình tự thụ lý,
thời hạn chuẩn bị xét xử và nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử theo Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 93 đến Điều 97,
Điều 175, Điều 177, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến
hành xét xử vụ án là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ về thủ tục chuẩn bị khai mạc phiên tòa,
ghi chép diễn biến phiên tòa cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo
quy định tại Điều 51, Điều 237 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70,
Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại
các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các Điều
75, Điều 76 Bộ luật Tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án: Chị Đặng Thị N và anh Vi Văn H được tự do tìm
hiểu và gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân xã X Trong qúa trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, chị Đặng Thị N
và anh Vi Văn H đã ly thân, trong thời gian sống ly thân không ai quan tâm hỏi han
chăm sóc lẫn nhau, nay chị Đặng Thị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên
yêu cầu được ly hôn với anh Vi Văn H. Anh Vi Văn H không cung cấp bản khai
nhưng qua ông bố đẻ anh Vi Văn H thì anh Vi Văn H cũng nhất trí ly hôn.
Nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị N và anh Vi Văn H không
có khả năng hàn gắn đoàn tụ, cuộc sống hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời
4
sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy có
căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị N. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ
vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị Đặng Thị
N được ly hôn với anh Vi Văn H.
Về con chung: Tuy anh Vi Văn H không hợp tác nhưng qua làm việc với
ông Vi Văn Tlà bố đẻ của anh Vi Văn H thì anh Vi Văn H đồng ý nuôi dưỡng
con chung là cháu cháu Vi Bảo N đến khi trưởng thành và chưa yêu cầu chị
Đặng Thị N cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay cháu Vi Bảo N đang ở cùng
với vợ chồng ông và anh Vi Văn H, cháu được chăm sóc đảm bảo tốt. Khi anh
Vi Văn H đi làm công ty thì vợ chồng ông hỗ trợ anh Vi Văn H chăm sóc và
nuôi dưỡng cháu Vi Bảo N đảm bảo tốt. Chị Đặng Thị N cũng đề nghị anh Vi
Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Để đảm bảo quyền
lợi cho cháu, tránh cuộc sống bị xáo trộn, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung
cho anh Vi Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đặng Thị N chưa phải cấp dưỡng nuôi con
chung do anh Vi Văn H chưa yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung không có nên đề nghị không xem xét. Nguyên
đơn chị Đặng Thị N được miễn án phí ly hôn sơ thẩm do là người dân tộc thiểu
số thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn, đã có đơn xin miễn tạm ứng án phí, miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là phiên tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai,
nguyên đơn chị Đặng Thị N đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Vi
Văn H đã được Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn triệu tập hợp lệ
đến phiên toà nhưng không có mặt. Theo quy định tại Điều 227, khoản 1, 3 Điều
228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án
vắng mặt chị Đặng Thị N và anh Vi Văn H theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn vì vậy quan hệ pháp luật là
"Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Vi Văn H, cư trú tại thôn S, xã X, huyện L, tỉnh
Lạng Sơn. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện
Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị N và anh Vi Văn H đăng ký kết
hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Giấy chứng nhận
kết hôn số 05, ngày 27/7/2021, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công
nhận và bảo vệ. Bị đơn anh Vi Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn
bản tố tụng và cũng có ý kiến với bố đẻ là nhất trí ly hôn. Hội đồng xét xử nhận
thấy chị Đặng Thị N và anh Vi Văn H đã sống ly thân, không còn quan tâm yêu
5
thương, chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích
hôn nhân không đạt được, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, anh Vi Văn H
không có ý kiến gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của
nguyên đơn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Chị Đặng Thị N và anh Vi Văn H có 01 con chung cháu
tên là Vi Bảo N, sinh ngày 02/10/2021, hiện nay đang sống anh Vi Văn H. Nguyên
đơn chị Đặng Thị N yêu cầu anh Vi Văn H tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến khi
trưởng thành và chị không cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy cháu Vi Bảo N
đang sống với anh Vi Văn H được chăm sóc, nuôi dưỡng vẫn đảm bảo phát triển
đầy đủ, toàn diện và chị Đặng Thị N không đề nghị được nuôi dưỡng con chung.
Do vậy Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Vi Bảo N, sinh ngày 02/10/2021
cho anh Vi Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến con khi đủ 18
tuổi là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo cuộc sống không
bị xáo trộn. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đặng Thị N chưa phải cấp dưỡng
nuôi con do anh Vi Văn H chưa yêu cầu. Chị Đặng Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con chung, không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đặng Thị N và anh Vi Văn H
không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Đặng Thị N được miễn án phí ly hôn sơ thẩm do là
người dân tộc thiểu số (dân tộc Sán Chỉ), sống tại thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh
Cao Bằng là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn
xin miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Toà án.
[7] Xét thấy ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn tại phiên tòa có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét
xử nên được chấp nhận.
[8] Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ
nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo
Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều
83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 271, khoản 1 Điều 273; Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật
Tố tụng dân sự;
6
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị N được ly hôn với anh Vi
Văn H. (Giấy chứng nhận kết hôn số 05, đăng ký ngày 27/7/2021 tại Ủy ban
nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn).
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Vi Bảo N, sinh ngày 02/10/2021
cho anh Vi Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến
khi đủ 18 tuổi. Chị Đặng Thị N chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh Vi Văn H
chưa yêu cầu. Chị Đặng Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai
được cản trở chị Đặng Thị N thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị Đặng Thị N được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án
hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
- UBND xã X, huyện L;
- Các đương sự, NBVQLI HP;
- Lưu: Hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Tuyết Mai
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm