Bản án số 37/2025/DSST ngày 03/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 37/2025/DSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 37/2025/DSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 37/2025/DSST
| Tên Bản án: | Bản án số 37/2025/DSST ngày 03/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 37/2025/DSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 03/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà X yêu cầu bà D trả lại tài sản cho ở nhờ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC … – ĐẮK LẮK
Bản án số: 37/2025/DSST
Ngày: 03-9-2025
V/v“Tranh chấp đòi lại tài sản
là nhà và đất cho ở nhờ”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC … - ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tân Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Đức và ông Trần Đại Minh.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dung – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực ...
– Đắk Lắk
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực ... – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Thẩm Anh Trúc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29/8/2025 và ngày 03/9/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực ... –
Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 214/2024/TLST-DS ngày
15/10/2024 về “Tranh chấp đòi lại tài sản là nhà và đất cho ở nhờ” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-DS ngày 21/7/2025 và quyết định hoãn phiên
tòa số 57/2025/QĐST-DS ngày 08/8/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Trình Thị X, sinh năm 1952; Địa chỉ: 1 L, phường E, thành phố
T, tỉnh Phú Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ngô Minh T, sinh năm 1975;
Địa chỉ: B N, phường E, thành phố T, Phú Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk). Có
mặt.
* Bị đơn: Ông Trần Thanh P, sinh năm 1972 và bà Đoàn Thị Mỹ D, sinh năm
1975; Địa chỉ: D L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk
Lắk). Ông P vắng mặt; bà D vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 19/3/2024 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 12/6/2024,
quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Ngô Minh
T trình bày: Bà Xanh và chị D có quan hệ là mẹ con ruột với nhau. Bà Xanh có sở hữu
ngôi nhà cấp III, 02 tầng và quyền sử dụng đất tại thửa đất số 110, tờ bản đồ số D4-III-
C-b, diện tích 105,6m2 tọa lạc tại D L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác sản gắn liền với đất
số: BĐ 810502, Số vào sổ cấp GCN: CH 00783 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh
Phú Yên cấp ngày 10/8/2012. Vào năm 2011, bà X có cho con gái bà X là Đoàn Thị Mỹ
D và ông Trần Thanh P (chồng bà D) ở nhờ trong căn nhà và đất nêu trên, việc cho ở
2
nhờ chỉ nói bằng miệng chứ không có văn bản. Tuy nhiên, vào khoảng tháng 08 năm
2019, bà X cần lấy lại nhà và đất nên yêu cầu bà D và ông P giao trả lại nhưng bà D và
ông P không trả.
Do đó, bà X khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông P và bà D phải trả lại nhà và đất nói
trên cho bà X.
Về công sức quản lý, tôn tạo, sữa chữa: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn
vợ chồng ông P và bà D đã tự ý xây dựng tầng 3 như bản vẽ mặt bằng hiện trạng nhà và
đất do Công ty TNHH Đ Thiên ý đo vẽ ngày 16/12/2024. Do vợ chồng ông P và bà D
xây dựng không có sự đồng ý của bà X nhưng thực tế vợ chồng ông P và bà D có xây
dựng thêm tầng 3 nên bà X đồng ý trả chi phí xây dựng tầng 3 theo Biên bản định giá tài
sản đề ngày 26/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản.
Đối với yêu cầu của bà D về việc yêu cầu bà X trả số tiền mà bà D chuyển tiền
cho bà X từ năm 2000 là 02 tỷ đồng và hoa lợi, lợi tức từ đó cho đến nay, tổng cộng 08
tỷ đồng thì bà X không đồng ý.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đoàn Thị Mỹ D trình bày được tóm
tắt như sau: Bà D là con ruột của bà X, nguồn gốc nhà và đất đang tranh chấp tại D L,
phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên là của bà D gửi tiền về đưa tiền cho bà X giữ dùm.
Cụ thể trước năm 2000 khi bà sống ở nước ngoài và nhiều lần gửi tiền về cho bà X, tổng
cộng khoảng 02 tỷ, mục đích chuyển tiền là để mua nhà cho bà. Việc gửi tiền này là do
bà nhờ một người Nhật tên SaCho nhưng tôi không nhớ rõ họ tên, năm sinh và địa chỉ cụ
thể, để gửi tiền về cho bà X, do đó hiện nay chứng từ liên quan đến việc gửi (chuyển
tiền) này chưa có nên không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa. Vì chỗ mẹ con nên
việc giữ dùm tiền giữa bà và bà X không làm giấy tờ thỏa thuận hay giao nhận tiền gửi
mà chỉ nói bằng miệng. Năm 2002 bà về nước và sống ở nhà bà X ở địa chỉ 1 L, phường
D, thành phố T. Năm 2003 bà cưới chồng và sống ở nhà chồng nhưng bà X sợ bà ở nhà
phía chồng chật nên bà X có nói lấy số tiền bà gửi để mua nhà cho vợ chồng bà ở. Sau
nhiều lần tìm nhà nhưng vẫn chưa tìm được nhà ưng ý. Khoảng năm 2003 đến năm 2004
bà X mua nhà D L, phường B, thành phố T lúc mua bà X không nói cho bà biết và bà
cũng không ký giấy tờ gì. Sau đó bà X cho bà mượn nhà và đất tại D L, phường B, thành
phố T để bà kinh doanh, làm ăn. Khoảng năm 2008, bà X có gọi bà nói chuyện việc cho
bà sang tên nhà và đất ở D L (giá nhà và đất là 2,5 tỷ đồng) và tính toán tiền của bà gửi
về cho bà X (02 tỷ đồng) nhưng do lúc đó bà không có điều kiện để trả lại tiền chênh
lệch (500.000.000 đồng) cho bà X nên bà không làm thủ tục chuyển sang tên cho đến
bây giờ. Việc nói chuyện này không ai biết chỉ có bà và bà X và cũng không lập giấy tờ
gì. Nay bà X khởi kiện trả lại nhà và đất nêu trên thì bà không đồng ý trả lại vì lý do nhà
và đất đang tranh chấp là từ nguồn tiền do tôi gửi tiền về để mua và gia đình tôi đã sống
ở đó cho đến nay là 08 năm nên đó là nhà của bà.
Trong quá trình sống tại nhà D L, phường B, thành phố T vợ chồng bà có nâng
cấp thêm 01 tầng (tầng 3), thời điểm ban đầu chỉ có 02 tầng, ngoài ra vợ chồng bà cũng
bỏ chi phí trang trí, sơn sửa lại mới toàn bộ căn nhà, tổng chi phí khoảng 450.000.000đ.
Vì bà nghỉ việc sửa chữa, nâng cấp là để ở nên không lưu giữ tài liệu chứng cứ, do đó
không cung cấp cho Tòa.
Nay bà X yêu cầu nhà và đất nói trên thì bà đồng ý trả nhưng bà X phải mua cho
3
bà một ngôi nhà khác có giá trị tương đương 08 tỷ đồng. Trường hợp bà X không đồng ý
thì bà yêu cầu bà X trả tổng cộng số tiền 08 tỷ đồng (bao gồm 02 tỷ đồng đã chuyển từ
năm 2000 và các khoản hoa lợi, lợi tức phát sinh trên số tiền 02 tỷ đồng từ đó cho đến
nay).
Đối với tài liệu mà bà cung cấp tại bút lục 82, 81 (bản pho to) là chữ của bà viết
trong sổ theo dõi cá nhân để theo dõi số tiền mà bà X đã giữ của bà nên không có chữ ký
xác nhận của bà X. Về thời gian thì do lâu quá nên bà không nhớ rõ cụ thể thời gian nào
đã gửi về cho bà X. Đối với những người nhận tiền để gửi về cho bà X như ông người
Nhật, anh H, Dì Út N cũng như khoản tiền nợ cấn trừ của các anh chị em của bà gồm
H1, P1, T1 thì tôi xin Tòa cho bà thời gian 10 ngày để tôi cung cấp cho Tòa đầy đủ
thông tin có liên quan. Ngoài ra bà X còn giữ của bà 01 chiếc xe MazDa do chồng bà là
ông Trần Thanh P đứng tên sở hữu, bà sẽ cung cấp tài liệu liên quan đến chiếc xe này
cho Tòa trong thời gian 10 ngày.
* Tại phiên tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu và lời trình bày.
Đối với yêu cầu của bị đơn bà D về việc yêu cầu bà X trả tổng cộng số tiền 08 tỷ đồng,
tuy nhiên bà D đã có đơn rút yêu cầu phản tố nên đề nghị HĐXX xem xét giải quyết
theo quy định pháp luật.
Về quyền lưu cư: Để tạo điều kiện cho bà D và ông P có thời gian di dời toàn bộ
đồ dùng sinh hoạt cá nhân đi nơi khác, trả lại nhà và đất cho bà X, bà X tự nguyện cho
bà D và ông P được quyền lưu cư tại nhà và đất nói trên trong thời hạn 06 (sáu) tháng kể
từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà X tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ và định giá tài sản.
- Bị đơn ông P và bà D vắng mặt nên không có lời trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực ... – Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
là đúng qui định. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy
định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy
định của pháp luật. Phát biểu ý kiến về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 91
Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 158, 164, 166 Bộ luật dân sự và Điều 26 Luật đất đai năm
2024 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà X, buộc bị đơn ông P và bà D phải
trả nhà và đất thuộc thửa đất số 110, tờ bản đồ số D4-III-C-b, diện tích 105,6m2 tọa lạc
tại D L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số: BĐ 810502, Số vào sổ cấp GCN: CH 00783 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh
Phú Yên (nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đắk Lắk) cấp ngày 10/8/2012 cho bà
Trình Thị X. Nguyên đơn bà X phải trả cho bị đơn ông P và bà D số tiền 396.799.040
đồng về công sức tôn tạo, sửa chữa. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của
nguyên đơn bà X về việc chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Đối
với yêu cầu phản tố của bị đơn bà D, ngày 15/8/2025 bà D có đơn rút yêu cầu phản tố
nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự,
đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu,
chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu
cầu bị đơn trả lại tài sản là nhà và đất tọa lạc tại D L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú
Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk), đây là tranh chấp đòi lại tài sản là nhà và đất cho
ở nhờ. Bị đơn có nơi cư trú và bất động sản tại phường T, tỉnh Đắk Lắk nên vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực ... – Đắk Lắk theo quy định tại
khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân
sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn bà Đoàn Thị Mỹ D vắng mặt và có
đơn xin xét xử vắng mặt; ông Trần Thanh P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng
vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228
Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đoàn Thị Mỹ D yêu cầu nguyên đơn bà
Trình Thị X trả số tiền 8.000.000.000 đồng (tám tỷ đồng). Tuy nhiên, ngày 15/8/2025 bị
đơn bà D đã có đơn rút yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn bà X nên Hội đồng xét xử
căn cứ vào Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận việc thay đổi yêu cầu, rút một
phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà D, đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bị đơn đối với yêu
cầu nguyên đơn trả số tiền 8.000.000.000 đồng (tám tỷ đồng).
[4] Về yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn bà X khởi kiện yêu cầu bị đơn ông P và bà
D trả lại nhà và đất tọa lạc tại D L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường
T, tỉnh Đắk Lắk).
Xét thấy: Tài sản là ngôi nhà cấp III, 2 tầng và quyền sử dụng đất tại thửa đất số
110, tờ bản đồ số D4-III-C-b, diện tích 105,6m
2
tọa lạc tại D L, phường B, thành phố T,
tỉnh Phú Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) đã được Ủy ban nhân dân thành phố T,
tỉnh Phú Yên (nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đắk Lắk) cấp cho bà Trình Thị X
vào ngày 10/8/2012 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số: BĐ 810502, Số vào sổ cấp GCN: CH 00783 nên đây là tài
sản hợp pháp của bà Trình Thị X. Quá trình sử dụng, nguyên đơn bà X có cho bị đơn
ông P và bà D ở nhờ nhà và đất nêu trên, việc cho ở nhờ chỉ nói bằng miệng không lập
văn bản. Theo bị đơn bà D trình bày: Trong năm 2000, bà D nhiều lần gửi tiền về cho bà
X tổng cộng 02 (hai) tỷ đồng để mua nhà, ngoài ra bà D cũng cung cấp sổ theo dõi cá
nhân không có chữ ký bà X tại bút lục 82, 81 (bản pho to) và những người làm chứng
như ông người Nhật, anh H, Dì Út N cũng như khoản tiền nợ cấn trừ của các anh chị em
của bà gồm H1, P1, T1. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã yêu cầu bị
đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ theo các Quyết định số 70/2024/QĐ-CCTLCC ngày
18/11/2024, Quyết định số 08/2025/QĐ-CCTLCC ngày 27/03/2025 và Quyết định số
21/2025/QĐ-CCTLCC ngày 09/6/2025 nhưng bà D không cung cấp được tài liệu, chứng
cứ chứng minh việc gửi tiền nêu trên. Đồng thời nguyên đơn bà X cũng không thừa nhận
có việc gửi tiền giữa bà X và bà D. Như vậy, có cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
5
Về công sức quản lý, tôn tạo, sửa chữa: Theo bị đơn bà D trình bày, trong quá trình
sử dụng nhà và đất tại D L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường T, tỉnh
Đắk Lắk) bị đơn ông P và bà D có sửa chữa và xây dựng thêm tầng 3 như bản vẽ mặt
bằng hiện trạng nhà và đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ đo vẽ ngày 16/12/2024
với tổng chi phí 450.000.000 đồng. Nguyên đơn bà X thừa nhận bị đơn ông P và bà D có
sửa chữa và xây dựng thêm tầng 3 nhưng do bị đơn ông P, bà D tự ý sửa chữa và xây
dựng, không hỏi ý kiến của bà X nên bà X không đồng ý trả chi phí sửa chữa và xây
dựng 450.000.000 đồng cho bị đơn, nguyên đơn đồng ý trả chi phí sửa chữa và xây dựng
thêm tầng 3 là 396.799.040 đồng theo biên bản định giá mà Hội đồng định giá đã định
vào ngày 26/12/2024.
Xét thấy, theo biên bản định giá tài sản đề ngày 26/12/2024, tổng giá trị vật kiến
trúc tầng 3 là 396.799.040 đồng. Mặc dù, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông P
và bà D không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh về chi phí sữa chữa và xây
dựng nhưng việc bị đơn ông P và bà D có sửa chữa và xây dựng thêm tầng 3 là có thật
nên cần buộc nguyên đơn bà X phải trả cho bị đơn ông P và bà D số tiền chi phí sữa
chữa và xây dựng là 396.799.040 đồng.
Về quyền lưu cư: Theo Công văn số 189/CNTUH-DLTT ngày 15/8/2025 của Văn
phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh K cung cấp có thể hiện, ông P và bà D nhà và
đất tại F B, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 442379 được Ủy ban nhân dân thành phố T,
tỉnh Phú Yên (nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đắk Lắk) cấp ngày 04/7/2016.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà D cũng xác định gia đình có nhà tại F B,
phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Do đó, việc bị đơn ông P, bà D trả lại tài sản là
nhà và đất cho bà X vẫn đảm bảo việc ông P, bà D có chỗ ở ổn định khác. Ngoài ra, tại
phiên tòa nguyên đơn bà X tự nguyện cho bị đơn ông P và bà D được quyền lưu cư tại
nhà và đất nói trên trong thời hạn 06 (sáu) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau thời gian 06 (sáu) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bị đơn ông P và bà
D phải di dời toàn bộ đồ dùng sinh hoạt cá nhân đi nơi khác để giao trả lại toàn bộ tài
sản là nhà và đất nêu trên cho bà X là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi
nhận.
Về chi phí tố tụng khác: Số tiền chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại
chỗ là 3.600.000 đồng. Nguyên đơn bà X đã nộp tạm ứng số tiền chi phí định giá tài sản
và xem xét thẩm định tại chỗ là 3.600.000 đồng, bà X tự nguyện chịu số tiền 3.600.000
đồng chi phí tố tụng nêu trên (đã nộp xong).
Ngoài ra, bị đơn bà D trình bày bà X còn giữ của bà 01 chiếc xe MazDa do chồng
bà là ông Trần Thanh P đứng tên sở hữu. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết bà D
không có yêu cầu gì liên quan đến chiếc xe MazDa nên HĐXX không xem xét giải
quyết trong vụ án này, khi cần thiết ông P, bà D khởi kiện bằng vụ án khác.
Từ những căn cứ nêu trên nên chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại
phiên tòa.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
227, 228, 244 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 158, 164, 166 Bộ luật dân sự; Điều 26 luật đất đai năm 2024;
Điều 10 Luật nhà ở 2023.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trình Thị X. Buộc bị
đơn ông Trần Thanh P và bà Đoàn Thị Mỹ D phải giao trả lại toàn bộ tài sản là nhà và
đất tại thửa đất số 110, tờ bản đồ số D4-III-C-b, diện tích 105,6m
2
tọa lạc tại D L,
phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) cho nguyên đơn
bà Trình Thị X theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số: BĐ 810502, Số vào sổ cấp GCN: CH 00783 do Ủy ban nhân
dân thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đắk Lắk) cấp
ngày 10/8/2012 cho bà Trình Thị X.
Nguyên đơn bà Trình Thị X phải thanh toán cho bị đơn ông Trần Thanh P và bà
Đoàn Thị Mỹ D tổng số tiền 396.799.040 đồng (ba trăm chín mươi sáu triệu bảy trăm
chín mươi chín nghìn không trăm bốn mươi đồng) về chi phí sửa chữa và xây dựng nhà.
Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đoàn Thị Mỹ D về việc yêu cầu nguyên
đơn bà Trình Thị X trả số tiền 8.000.000.000 đồng (tám tỷ đồng).
Về quyền lưu cư: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Trình Thị X cho bị
đơn ông Trần Thanh P và bà Đoàn Thị Mỹ D được quyền lưu cư tại nhà và đất tọa lạc tại
D L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) trong thời
hạn 06 (sáu) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Sau thời gian 06 (sáu) tháng
kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bị đơn ông Trần Thanh P và bà Đoàn Thị Mỹ D
phải di dời toàn bộ đồ dùng sinh hoạt cá nhân đi nơi khác để giao trả lại toàn bộ tài sản
là nhà và đất nêu trên cho bà Trình Thị X.
Về chi phí tố tụng khác: Số tiền chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại
chỗ là 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng). Nguyên đơn bà Trình Thị X đã
nộp tạm ứng số tiền chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ là 3.600.000
đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng), bà X tự nguyện chịu số tiền 3.600.000 đồng (ba
triệu sáu trăm nghìn đồng) chi phí tố tụng nêu trên (đã nộp xong).
Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Điều
26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn bà Trình Thị X là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự sơ
thẩm.
Bị đơn ông Trần Thanh P và bà Đoàn Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
58.000.000 đồng (năm mươi tám triệu đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0005903 ngày 21/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy
Hòa, tỉnh Phú Yên (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực ... – Đắk Lắk) nên ông P
và bà D được hoàn lại số tiền 57.700.000 đồng (năm mươi bảy triệu bảy trăm nghìn
đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luậtthi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dânsự có quyền thoả

7
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hànhán hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thihành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND Khu vực ... – Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Lưu hồ sơ, án văn. Huỳnh Thị Tân Sang
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng