Bản án số 37/2023/DS-ST ngày 05-09-2023 của TAND TX. Đức Phổ (TAND tỉnh Quảng Ngãi) về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
37-2023-DS-ST-DUC-PHO-QUANG-NGAI
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
37-2023-DS-ST-DUC-PHO-QUANG-NGAI
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 37/2023/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 37/2023/DS-ST ngày 05-09-2023 của TAND TX. Đức Phổ (TAND tỉnh Quảng Ngãi) về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Đức Phổ (TAND tỉnh Quảng Ngãi) |
| Số hiệu: | 37/2023/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/09/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Phạm Ngọc G và Phạm Thị C tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ ĐỨC PHỔ Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 37/2023/DS - ST
Ngày: 05/9/2023
“V/v tranh chấp về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỖ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Huỳnh Quang Toàn;
2/ Bà Huỳnh Thị Thùy Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Văn Dương là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã
Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐứcPhổ, tỉnh Quảng Ngãi tham
gia phiên tòa: Bà Lý Tường Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 05/9/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng
Ngãi tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2023/TLST- DS,
ngày 16 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng do tài sản bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
803/2023/QĐXXST- DS, ngày 04/8/2023 và Quyết định Hoãn phiên tòa số
907/2023/QĐST – DS, ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ,
tỉnh Quảng Ngãi; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc G, sinh năm 1952; địa chỉ: Xóm 32, thôn Q,
xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị C, sinh năm 1975 và bà Hồ Thị N, sinh năm 1978;
cùng địa chỉ: Xóm 32, thôn Q, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1963
Địa chỉ: Tổ 15, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh B.
Nguyên đơn ông Phạm Ngọc G có mặt; bị đơn bà Hồ Thị N, Phạm Thị C;
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị X vắng mặt tại phiên tòa
lần thứ hai không có lý do.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/12/2022 và đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung đề
ngày 12/01/2023; các lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm Ngọc G
trình bày:
Thửa đất số 130, tờ bản đồ số 4, diện tích 2.769m
2
xã P, thị xã Đ thuộc
quyền sở hữu, sử dụng của cụ Trần Thị N (cụ N là mẹ của bà Phạm Thị X); năm
2010 cụ Niệm vào tỉnh B sống với con gái là bà X; cụ N cho ông canh tác trồng
hoa màu trên thửa đất đó (việc cho canh tác hoa màu trên thửa đất chỉ nói miệng
với nhau) nên từ năm 2011 ông là người trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất trên
đề trồng hoa màu như bắp, đậu, cỏ voi… không ai tranh chấp gì. Tháng 5/2021
cụ N chết, bà X là tiếp tục cho ông được canh tác, sản xuất … Tháng 7/2021 bà
N và bà C đến thửa đất trên tự ý đập phá đường ống dẫn nước để tưới tiêu canh
tác do ông lắp đặt nhằm mục đích lấy lại đất của ông bà (bà N, bà C nói đất này
bà X cho họ canh tác); qua sự việc ông có báo cáo chính quyền địa phương.
Việc bà N, bà C tự ý đập phá tài sản của ông làm thiệt hại về tài sản, kinh
tế của ông nên ông yêu cầu Tòa án buộc bà Phạm Thị C và bà Hồ Thị N phải bồi
thường thiệt hại về tài sản cho ông với tổng giá trị là 31.409.000đồng (Ba mươi mốt
triệu, bốn trăm lẻ chín nghìn đồng); trong đó: Công cụ tăng gia sản xuất là
8.909.000đồng bao gồm: Đường ống nước tưới tiêu, một môtơ máy nước DK 20 và
ngày công lắp đặt đường ống nước và do đường ống nước bị tháo dỡ dẫn đến cây
trồng (đám cỏ voi) trên diện tích 250m
2
bị hư hại gây thiệt hại tới thu nhập hằng
tháng của ông cụ thể: 1.500.000đ/30 ngày x 15 tháng (tình từ tháng 8/2021) =
22.500.000đ.
Bị đơn bà Hồ Thị N trình bày: Năm 2019 cụ N (mẹ bà X) nói miệng cho bà
canh tác trên thửa đất 130 tờ bản đồ số 4, diện tích 2.769m
2
xã P, thị xã Đ; năm
2021 cụ N chết, bà X (con cụ N) cũng nói cho bà canh tác trồng hoa màu (nói
miệng). Từ khi bà X cho bà quyền canh tác năm 2019 bà đã nhiều lần nói ông G
giao đất cho bà làm nhưng ông G không chịu giao đất nên tháng 7/2021 bà và bà C
có hành vi tháo dỡ toàn bộ đường ống nước ông G bắt dùng để tưới tiêu trên thửa
đất nhưng bà không có hành vi đập phá tài sản như ông G trình bày, bà chỉ dỡ dọn
chất thành đống, không hư hỏng gì, việc này công an xã P đã lập biên bản sự việc
xảy ra. Nay, ông G yêu cầu bà bồi thường số tiền như trên, bà không đồng ý vì bà
không có lỗi nhưng bà tự nguyện hỗ trợ cho ông G 400.000đ tiền công lắp đặt ống
dẫn nước.
Bị đơn bà Phạm Thị C: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tống
đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà C nhưng bà C không đến Tòa, không trình
bày ý kiến
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị X: Quá trình thụ lý, giải
quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà X nhưng bà X
không đến Tòa, không trình bày ý kiến
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng
dân sự:
3
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ
án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp
luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của
mình theo đúng quy định của pháp luật; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan không thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn về việc yêu cầu bà N, bà C bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị
xâm phạm, đề nghị HĐXX buộc bà N, bà C phải có nghĩa vụ bồi thường cho
ông G số tiền là 2.500.000đ sau khi trừ đi số tiền ông G đã thanh lý tài sản được
975.000đ, theo đó bà N, C còn phải bồi thường cho ông G số tiền 1.525.000đ;
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông G về việc yêu cầu bà N, C bồi
thường liên quan đến việc mất thu nhập hàng tháng số tiền 22.500.000đ. Đương
sự phải chịu chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên. Hội
đồng xét xử (HĐXX) xét thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn là ông Phạm Ngọc G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc bà Hồ Thị N, bà Phạm Thị C bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm
phạm. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm” và giải quyết là đúng thẩm quyền
theo quy định tại khoản 6 Điều 26, các Điều 34, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn là bà Hồ
Thị N, Phạm Thị C các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án;
Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và
hòa giải; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự,
thủ tục quy định tại Điều 175 Bộ luật tố tụng dân sự. Mặc dù, bà N, bà C biết
Tòa án đang giải quyết vụ án dân sự tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng do tài sản bị xâm phạm mà mình là bị đơn nhưng vắng mặt và không thực
hiện nghĩa vụ chứng minh. Bà N và bà C phải chịu hậu quả của việc không
chứng minh được để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định
tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Hồ Thị N, bà Phạm Thị C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Phạm Thị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng
mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án
vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.1] Xét về lỗi gây ra thiệt hại: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất 130 tờ bản đồ số 4,
diện tích 2.769m
2
xã P, thị xã Đ thuộc quyền sở hữu, sử dụng của cụ N; từ năm

4
2010 cụ N cho ông Phạm Ngọc G được quyền sử dụng thửa đất trên để canh tác
hoa màu; quá trình ông G sử dụng, không ai phát sinh tranh chấp; bà N cho
rằng: Năm 2019 cụ N nói miệng cho bà sử dụng thửa đất trên; năm 2021 cụ N
chết, bà X là con gái duy nhất của cụ N cũng nói miệng cho bà canh tác hoa màu
trên thửa đất ông G đang làm nên bà N đã nhiều lần yêu cầu ông G giao đất cho
bà làm nhưng ông G không giao; ông G cho rằng, từ năm 2011 cụ N cho ông
canh tác trên thửa đất, đến nay cụ N hay bà X đều không yêu cầu ông trả đất.
Như vậy, cụ N cho ông G canh tác trồng hoa màu trên thửa đất 130 là đúng
thực tế mặc dù không có giấy tờ gì chứng minh nhưng các bên đương sự đều
thừa nhận; tháng 7/2021 bà N và bà C đến thửa đất trên tự ý tháo dỡ toàn bộ
đường ống nước dùng để tưới tiêu canh tác do ông G lắp đặt trên thửa đất là
hành vi trái pháp luật; mặc dù, bà N và bà C không có hành vi đập phá tài sản
trên nên hành vi của bà N, bà C không bị xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp
Công văn số 166/CAX về việc trả lời đơn của ông Phạm Ngọc G, ngày
14/6/2022 của Công an xã P; ông G cũng thừa nhận sau khi nhận Công văn 166
ông không khiếu nại gì; tuy nhiên, hành vi của bà N, bà C đã xâm phạm đến tài
sản của ông G cụ thể: Toàn bộ đường ống nước dùng để tưới tiêu canh tác hoa
màu ông G đang sử dụng bình thường thì bà N, bà C tự ý tháo dỡ dẫn đến tài sản
không còn sử dụng được nữa là do lỗi của bà N, bà C. Tài sản bị thiệt hại là các
đường ống nước và các thiết bị có liên quan, theo kết quả định giá ngày
23/6/2023 kết luận: Các tài sản trên không còn giá trị sử dụng nên ông G đã bán
số tài sản trên được 975.000đ (bán giá phế liệu). Tài sản bị thiệt hại là đường
ống nước được ông G lắp đặt và sử dụng từ năm 2018, hơn nữa với tư cách là
chủ sở hữu tài sản, lẽ ra sau khi cơ quan chức năng tiến hành làm việc xong ông
phải có trách nhiệm bảo quản tài sản của mình nhưng ông không thực hiện nên
ông G cũng có một phần lỗi trong việc để cho tài sản bị mất mát, giảm giá trị sử
dụng.
Từ những phân tích nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận: Yêu cầu khởi kiện
của ông Phạm Ngọc G về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài
sản bị xâm phạm đối với bà Phạm Thị C, bà Hồ Thị N là có căn cứ.
[2.2] Xét về năng lực chịu trách nhiệm dân sự: Bà N, C là người có đầy đủ
năng lực hành vi nên phải tự chịu trách nhiệm dân sự do hành vi của mình gây ra
đối với tài sản của ông G.
[2.3] Xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của bà N, bà C có hành vi tự ý
tháo dọn đường ống nước tưới tiêu của ông G dẫn đến làm thiệt hại tài sản (giảm
sút giá trị sử dụng) là đúng thực tế nên buộc bà N, bà C phải chịu trách nhiệm
dân sự đối với hành vi do mình gây ra và phải bồi thường thiệt hại cho ông G
theo quy định tại Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số
03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
[2.4] Xét về hậu quả bị thiệt hại:
- Đối với phần yêu cầu về: Công cụ tăng gia sản xuất là 8.909.000đồng, bao
gồm: Một môtơ máy nước DK 20; đường ống nước cùng phụ kiện kèm theo và
5
ngày công lắp đặt đường ống nước: Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và sự thừa
nhận của ông G thì bà N, bà C không có hành vi tháo dỡ mô tơ chạy nước DK 20
nên việc mô tơ bị hư hỏng không phải do hành vi trái pháp luật của bà N, bà C gây
ra nên không chấp nhận yêu cầu bồi thường đối với mô tơ chạy nước DK 20; về
đường ống nước (ống nhựa) cùng phụ kiện kèm theo (co, bec) hiện nay không còn
giá trị sử dụng, ông G đã bán thanh lý tài sản được 975.000đ. Vì vậy, xét về lỗi của
các bên và giá trị hao mòn tài sản trên là có căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều
275 Bộ luật dân sự và Điều 589 Bộ luật tố tụng dân sự nên HĐXX chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của ông G; buộc bà N, bà C liên đới bồi thường tổng thiệt
hại cho ông G số tiền 2.500.000đ bao gồm cả ngày công lắp đặt đường ống nước,
đều này bà N cũng thừa nhận hành vi của mình và có ý kiến tự nguyện hỗ trợ tiền
công lắp đặt đường ống nước cho ông G số tiền 400.000đ; sau trừ đi số tiền
975.000đ ông G bán tài sản bị thiệt hại thu được; thì bà N, bà C còn phải cùng bồi
thường cho ông G số tiền 1.525.000đ.
- Đối với phần yêu cầu về: Cây trồng trên đất (đám cỏ voi) trên diện tích
250m
2
bị hư hại gây thiệt hại tới thu nhập hằng tháng của ông cụ thể: 1.500.000đ/30
ngày x 15 tháng (tình từ tháng 8/2021) = 22.500.000đ. Theo tài liệu có trong hồ sơ
vụ án thì tại thời điểm bà N, bà C tháo dỡ đường ống nước trên đất chỉ có một số
gốc cỏ voi đã được thu hoạch nhiều lần, cằn cổi … ông G yêu cầu nhưng không có
tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu của ông là có căn cứ nên HĐXX
không chấp nhận đối với phần yêu cầu này.
[2.5] Về chi phí định giá tài sản số tiền 1.100.000đ. Trong vụ án này, yêu
cầu của nguyên đơn là ông Phạm Ngọc G được Tòa án chấp nhận nên bị đơn bà
Phạm Thị C, bà Hồ Thị N phải chịu chi phí định giá tài sản theo quy định tại
khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự; ông G đã nộp và chi phí xong nên bà
N, bà C cùng có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông G số tiền 1.100.000đ (Một triệu
một trăm nghìn đồng)
[3] Về án phí: Căn cứ các Điều 6, Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14. Bà N, bà C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án
phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của ông G đối với bà N, bà C
được Tòa chấp nhận. Ông Phạm Ngọc G thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm
ứng án phí, án phí Tòa án theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên
chấp nhận.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, các Điều 35, 39, 165, 235, 266, 271 và Điều
273 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật
dân sự 2015; Điều 147 BLTTDS, Điều 6, Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết
6
số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc G. Buộc bà
Hồ Thị N, bà Phạm Thị C phải cùng bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
cho Phạm Ngọc G với số tiền 1.525.000đ (Một triệu năm trăm hai mươi lăm
nghìn đồng);
Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc G đối với
khoản bồi thường thiệt hại yêu cầu về cây trồng trên đất (đám cỏ voi) trên diện
tích 250m
2
bị hư hại gây thiệt hại tới thu nhập hằng tháng của ông với số tiền
22.500.000đ (Hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).
2. Về chi phí định giá tài sản số tiền 1.100.000đ. Ông Phạm Ngọc G đã
nộp và chi phí xong nên bà Phạm Thị C, bà Hồ Thị N cùng có nghĩa vụ hoàn trả
lại cho ông Phạm Ngọc G số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật dân sự.
3. Về án phí: Bà Phạm Thị C, bà Hồ Thị N cùng phải chịu 300.000đ (Ba
trăm nghìn đồng) án phí dân sự. Ông Phạm Ngọc G thuộc trường hợp miễn nộp
tiền tạm ứng án phí, án phí Tòa án theo quy định của pháp luật.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (05/9/2023); bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND Tx Đ;
- Chi cục THADS Tx Đ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Bích Vân
7
Thành viên Hội đồng xét xử: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Nguyễn Thị Bích Vân
8
9
10
Thành viên Hội đồng xét xử: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

11
Điều 6. Về xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 589
của Bộ luật Dân sự
1. Việc bồi thường thiệt hại do tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng quy
định tại khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự căn cứ vào thỏa thuận của các
bên, trường hợp không thỏa thuận được thì xác định thiệt hại như sau:
a) Trường hợp tài sản là vật thì xác định thiệt hại đối với tài sản bị mất, bị hủy
hoại căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản cùng tính năng,
tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản bị mất, bị hủy hoại
tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Đối với tài sản là tiền thì thiệt hại được xác định là số tiền bị mất, bị hư hỏng.
Đối với giấy tờ có giá bị mất, bị hư hỏng mà không thể khôi phục được thì thiệt
hại được xác định là giá trị của các giấy tờ bị mất, bị hư hỏng tại thời điểm giải

12
quyết bồi thường. Trường hợp giấy tờ có giá bị mất, bị hư hỏng mà có thể khôi
phục được thì thiệt hại được xác định là các chi phí cần thiết để khôi phục các
giấy tờ đó.
b) Đối với tài sản bị hư hỏng, thiệt hại là chi phí để sửa chữa, khôi phục lại tình
trạng tài sản trước khi bị hư hỏng theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi
thường để xác định thiệt hại; nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi
phục thì thiệt hại được xác định theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều này.
2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút quy
định tại khoản 2 Điều 589 của Bộ luật Dân sự là hoa lợi, lợi tức mà người bị
thiệt hại đang hoặc sẽ thu được nếu tài sản không bị mất, bị hư hỏng.
Hoa lợi, lợi tức được tính theo giá thực tế đang thu, nếu chưa thu thì theo giá
thị trường cùng loại hoặc mức giá thuê trung bình 01 tháng của tài sản cùng loại
hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại
thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiệt hại; đối với những tài sản trên thị
trường không có cho thuê, hoa lợi, lợi tức được xác định trên cơ sở thu nhập
trung bình của 03 tháng liền kề do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện
bình thường trước thời điểm thiệt hại xảy ra.
3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại quy định
tại khoản 3 Điều 589 của Bộ luật Dân sự là những chi phí thực tế, cần thiết tại
thời điểm chi trong điều kiện bình thường cho việc áp dụng các biện pháp cần
thiết làm cho thiệt hại không phát sinh thêm; sửa chữa, khôi phục lại tình trạng
ban đầu của tài sản bị xâm phạm.
Ví dụ: T đã có hành vi làm cháy nhà của H. Chi phí dập tắt đám cháy là X đồng;
chi phí sửa chữa, khôi phục lại nhà như tình trạng ban đầu là Y đồng. Trường
hợp này, X đồng là chi phí để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại. Y đồng là chi phí
khắc phục thiệt hại.
Thành viên Hội đồng xét xử: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Nguyễn Thị Bích Vân
13
14
15
16
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lê Xuân Minh Trầng Thị Bích Thuỷ Phạm Minh Vương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm