Bản án số 37/2023/DS-ST ngày 12/05/2023 của TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 37/2023/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 37/2023/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 37/2023/DS-ST ngày 12/05/2023 của TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Hòa Thành (TAND tỉnh Tây Ninh) |
| Số hiệu: | 37/2023/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/05/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp họp đồng góp hụi giữa Ng-Th-T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ HÒA THÀNH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 37/2023/DS-ST
Ngày: 12-5-2023
V/v Tranh chấp đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Đào.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Quan Lộc;
2. Ông Đặng Thanh Quang.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hiên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa
Thành, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Du - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành xét xử
sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 285/2022/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2022 về
việc tranh chấp “đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
32/2023/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ O, ấp K, xã C,
huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Bị đơn: 1/ Ông Nguyễn Quốc Th, sinh năm: 1977 (có đơn xin xét xử vắng
mặt).
2/ Bà Lê Thị T, sinh năm 1975 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số S khu phố T, phường L, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Thanh PH, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh
Long An (có mặt).
2/ Bà Võ Thu L (Út L1), sinh năm 1976; Địa chỉ: X , khu phố H, phường T,
thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/12/2022, các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên tòa - nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà N tham gia 04 phần trong dây hụi mệnh giá 10.000.000 đồng mở ngày
25/11/2020 dương lịch của chủ thảo Võ Thu L (tên thường gọi: Út Li). Trong đó có
01 phần hụi bà N thỏa thuận tham gia giùm ông Nguyễn Quốc Th, bà Lê Thị T.
Đến kỳ hụi thứ 6 (25/4/2021), ông Th gọi cho bà N nhờ kêu 2.400.000 đồng để hốt
hụi, bà N L1 hệ bà Út L1 để bỏ thăm và được hốt hụi. Đến ngày 29/4/2021, bà Út
L1 nhờ chồng là ông Nguyễn Hoàng Tx mang tiền đăng hụi đến quán café của bà
N để giao tiền, vợ chồng ông Th, bà T kiểm đếm và cùng ký tên vào mục “người
hốt” dưới giấy đăng hụi số tiền 212.200.000 đồng, bà N có chứng kiến và ký tên
vào mục “người hốt dùm” bên dưới giấy đăng hụi. Sau đó, ông Th, bà T chỉ đóng
hụi chết đến ngày 25/8/2022 thì ngưng cho đến khi hụi mãn 25/4/2023, bà N phải
đóng hụi thay tổng cộng 09 lần hụi chết với số tiền = 09 lần × 10.000.000 đồng =
90.000.000 đồng.
Nay bà N yêu cầu vợ chồng ông Th có nghĩa vụ trả số tiền 90.000.000 đồng.
Không đồng ý việc ông Th, bà T chuyển giao nghĩa vụ đóng hụi chết lại cho ông
Nguyễn Thanh PH vì ông PH không phải là người nhận tiền hốt hụi, chỉ là người
trung gian hay đưa tiền đóng hụi giùm ông Th, bà T.
- Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án - bị đơn ông Nguyễn
Quốc Th, bà Lê Thị T thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông bà không đồng ý trả tiền cho bà N vì ông bà chỉ nhận tiền đăng
hụi thay cho ông Nguyễn Thanh PH, cư trú tại ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An,
xác định ông PH mới là người bà N tham gia hụi giùm. Ngày đăng hụi cuối tháng
4/2021 ông PH bận nên nhờ vợ chồng ông Th, bà T qua nhà bà N ký nhận tiền
thay, sau khi nhận đủ số tiền 212.200.000 đồng, ông bà giao đầy đủ cho ông PH.
Quá trình đóng hụi ông PH có nhờ bà T chuyển tiền giùm cho bà Út L1 02 lần,
chưa từng có lần nào hai vợ chồng trực tiếp đưa tiền hụi cho bà Út L1 hay bà N.
Nay ông PH thừa nhận lời trình bày của vợ chồng ông bà và đồng ý đứng ra trả tiền
hụi chết cho bà N nên yêu cầu Tòa án xem xét chỉ buộc ông Nguyễn Thanh PH trả
cho bà N số tiền 90.000.000 đồng, ông Th, bà T không liên quan.
- Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án – người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh PH trình bày:
Ông PH xác định bản thân mới là người được bà N tham gia giùm đối với
3
phần hụi do bà Út L1 làm chủ thảo. Ông PH là người thông báo cho bà N biết việc
cần tiền hốt hụi ở kỳ hụi thứ 6 và nhờ bà N hốt hụi. Do ngày đăng hụi ông PH bận
công việc và ông biết bản thân không được bà N tin tưởng nên mới nhờ vợ chồng
ông Th, bà T đứng ra ký nhận tiền hốt hụi giùm ông. Tại ngày đăng hụi, phía chủ
hụi Út L1 giao tiền mặt chưa đủ nên còn chuyển khoản thêm cho tài khoản Lê Thị
T mà ông không biết chính xác bao nhiêu nhưng xác nhận sau đó vợ chồng ông Th,
bà T đã giao toàn bộ tổng số tiền 212.200.000 đồng cho ông PH sử dụng đúng với
số tiền ghi trong giấy đăng hụi. Hàng tháng, ông PH là người đưa tiền hụi trực tiếp
cho bà N, chỉ có 02 lần ông nhờ ông Th, bà T chuyển khoản đóng hụi chết cho bà
Út Liên. Nay ông PH tự nguyện một mình đứng ra trả số tiền hụi chết 90.000.000
đồng cho bà N, xin trả dần hàng tháng 5.000.000 đồng do đang gặp khó khăn.
- Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án – người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Võ Thu L (tên thường gọi: Út L1) trình bày:
Bà N là hụi viên chính thức có tên trong sổ theo dõi hụi do bà Út Liên làm
chủ thảo đối với phần hụi mệnh giá 10.000.000 đồng, khui ngày 25/11/2020, bà N
tham gia 04 phần đều là tham gia giùm người khác trong đó đối với phần hụi tham
gia giùm vợ chồng ông Th, bà T thì bà Út L1 ghi chú trong sổ hụi tên hụi viên của
mình là “N CV Th”. Hàng tháng bà Út Liên gom tiền hụi trực tiếp từ bà N. Đến kỳ
hụi thứ 6, bà Út Liên chuẩn bị sẵn nội dung đăng hụi nhờ chồng là ông Nguyễn
Hoàng Tx trực tiếp giao tiền cho vợ chồng ông Th, bà T tại quán cà phê của bà N
và cho cả ba người cùng ký tên người hốt bên dưới giấy đăng hụi. Thực tế mặc dù
ký tên số tiền đăng 212.200.000 đồng nhưng giao tiền mặt ngày 29/4/2021 chỉ
187.900.000 đồng, đến ngày 7/5/2021, bà Út L1 tiếp tục chuyển khoản cho bà T
24.300.000 đồng còn lại. Đa số các lần gom hụi là do bà N trực tiếp đưa tiền cho bà
Út L1, có 01 lần vợ chồng Th, T có đưa trực tiếp cho bà Út L1 01 kỳ hụi và nhận
02 lần tiền hụi do bà T chuyển khoản vào năm 2021, bà Út L1 chưa từng nghe nói
có việc bà N tham gia hụi giùm ông PH.
Đến ngày 25/4/2023 dây hụi trên đã mãn, bà N đã đóng đầy đủ tất cả các
phần hụi, không vi phạm gì. Bà Út L1 đề nghị giải quyết yêu cầu của bà N đúng
quy định của pháp luật, riêng bà không có yêu cầu gì trong vụ án.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự

4
kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật tố
tụng dân sự 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ
phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà
Nguyễn Thị N, buộc ông Nguyễn Quốc Th và bà Lê Thị T có nghĩa vụ trả cho bà N số
tiền 90.000.000 đồng. Xác định nghĩa vụ chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Nguyễn Thị N khởi kiện ông Nguyễn Quốc Th, bà Lê Thị T cư trú tại
phường L, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh yêu cầu trả lại số tiền 90.000.000 đồng do
bà N đóng hụi giùm, các bên không có quan hệ chủ thảo – hụi viên, căn cứ khoản 2
Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp là “đòi
tài sản”, Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý, giải quyết là đúng
theo quy định của pháp luật.
[1.2] Bị đơn ông Nguyễn Quốc Th và bà Lê Thị T vắng mặt nhưng đều có đơn
xin giải quyết, xét xử vắng mặt, Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét
xử vắng mặt các đương sự trên là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N thấy rằng:
[2.1] Bà N có tham gia 04 phần hụi của chủ thảo Võ Thu L (tên thường gọi: Út
Liên) đối với dây hụi 10.000.000 đồng, gồm 28 phần, mở ngày 25/11/2020 DL, bà N
trình bày có 01 phần hụi tham gia giùm ông Th, bà T nhưng ông Th, bà T phủ nhận,
cho rằng người bà N tham gia hụi giùm là ông PH. Sự thỏa thuận giữa các bên không
lập thành văn bản và các bên trình bày khác nhau nhưng qua xem xét chứng cứ là giấy
đăng hụi số tiền 212.200.000 đồng ngày 29/4/2021, phía dưới góc bên phải có ghi
“người hốt” ký tên, ghi họ tên Nguyễn Quốc Th, Lê Thị T; ngoài ra còn chứng từ
chuyển khoản số tiền hụi đăng còn thiếu là 24.300.000 đồng do chủ thảo hụi bà Võ
Thu L (Út Liên) chuyển vào số tài khoản riêng của bà Lê Thị T ngày 07/5/2021. Quá
trình làm việc, ông Th, bà T cũng thừa nhận có nhận tổng số tiền 212.200.000 đồng
bằng tiền mặt lẫn chuyển khoản đúng như nội dung giấy đăng hụi, thừa nhận có ký tên
trong giấy đăng hụi. Ngoài các chứng cứ trên còn có nội dung tin nhắn trao đổi giữa
bà L (Út L1 và bà T về việc thỏa thuận chuyển tiền hụi còn nợ và đóng hụi trong

5
khoản thời gian từ tháng 5/2021 đến tháng 12/2021, trong đó có 02 kỳ hụi bà T trực
tiếp chuyển khoản cho bà L (Út L1) sau khi đã hốt hụi. Do đó, có đủ căn cứ xác định
ông Th, bà T là người nhận tiền đăng hụi, bà N là người thực hiện việc đóng hụi thay
với tổng số tiền 90.000.000 đồng cho chủ hụi bà L (Út L1) từ 25/8/2022 cho đến khi
mãn hụi vào ngày 25/4/2023, yêu cầu khởi kiện của bà N đối với ông Th, bà T là có cơ
sở chấp nhận.
[2.2] Ông Th, bà T không đồng ý nghĩa vụ trả tiền mà yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc ông PH trả tiền hụi cho bà N, ông PH đến Tòa án xác định có nhận số tiền
212.200.000 đồng từ vợ chồng ông Th, bà T và sử dụng toàn bộ số tiền này, đồng ý
một mình đứng ra trả tiền cho bà N nhưng bà N không đồng ý nên không có cơ sở
xem xét, trong trường hợp giữa ông Th, bà T và ông PH có phát sinh tranh chấp với
nhau thì được giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N được chấp nhận nên ông Th, bà T phải
chịu án phí là 5% × 90.000.000 = 4.500.000 đồng.
Hoàn trả cho bà N số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 2.250.000 đồng theo
biên lai thu số 0021189 ngày 20/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa
Thành.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 166 BLDS năm 2015; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với ông
Nguyễn Quốc Th, bà Lê Thị T.
Buộc Nguyễn Quốc Th, bà Lê Thị T trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền
90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bà Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành
án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Nguyễn Quốc Th, bà Lê Thị T còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định
tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí sơ thẩm:

6
Ông Th, bà T phải chịu 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 2.250.000
đồng theo biên lai thu số 0021189 ngày 20/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự
thị xã Hòa Thành.
3. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng đương sự vắng mặt được
quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được tống đạt hợp lệ.
4. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND thị xã Hòa Thành;
- Chi cục THADS thị xã Hòa Thành;
- Các đương sự
- Lưu tập án (L).
Lê Thị Trúc Đào
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm