Bản án số 350/2024/DS-PT ngày 02/07/2024 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng hợp tác

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 350/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 350/2024/DS-PT ngày 02/07/2024 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng hợp tác
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 350/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: NĐ Nguyễn Thị L BĐ Nguyễn Văn S
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG THÁP Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 350/2024/DS-PT
Ngày: 02 - 7 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng hùn vốn,
đòi lại tài sản và bối thường thiệt hại về tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Danh Đạt.
- Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Võ Trinh;
Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
- Thư phiên tòa: Trần Ngọc Ánh Nguyệt Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Ngọc Quý – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2024/TLPT- DS ngày 31 tháng
01 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng hùn vốn; Đòi lại tài sản và bồi thường thiệt hại
về tài sản;
Do Bản án dân sự thẩm số 208/2023/DS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 331/2024/QĐ-PT ngày
06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Nguyễn Thị L, sinh năm 1959;
Địa chỉ: Số nhà E, ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Long An.
2. Nguyễn Thị N, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Số nhà I, đường N, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng
2
Tháp.
3. Nguyễn Văn T, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
4. Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Số nhà A, chung B, phường A, thành phố T, Thành Phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của L, chị Đ, anh T : Chị Nguyễn Thị N,
sinh năm 1979. Địa chỉ: Số nhà I, đường N, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh
Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 02/01/2024).
- Bị đơn: Nguyễn Văn S, sinh năm 1968;
Địa chỉ: Số nhà A, đường N, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông S : Ngô Thị T1, sinh năm 1961.
Địa chỉ: Số nhà A, đường T, Khóm C, thtrấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Theo
văn bản ủy quyền ngày 18/5/2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Trần Kim Đ1, sinh năm 1970;
2. Nguyễn Kiều N1, sinh năm 2003;
Cùng địa chỉ: Snhà A, đường N, phường M, thành phố C, tình Đ (Thành
viên hộ ông S).
Người đại diện theo ủy quyền của Đ1 chị T2 : Ngô Thị T1, sinh
năm 1961. Địa chỉ: Số nhà A, đường T, Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng
Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 18/5/2024).
3. Nguyễn Chí T3, sinh năm 1960 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: Số nhà A, N, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
4. Trần Văn T4, sinh năm 1959 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: Số nhà A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
5. Lê Thị Thanh T5, sinh năm 1958 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: Số nhà I, Nguyễn Tất T6, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh
Đồng Tháp (Vợ ông T6).
3
6. Bùi Văn D (Chết);
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông D:
6.1 Trần Kim N2, sinh năm 1954 (Xin vắng mặt);
6.2 Bùi Thị Phương T7, sinh năm 1977 (Xin vắng mặt);
6.3 Bùi Tấn T8, sinh năm 1981(Xin vắng mặt);
Địa chỉ: Số A, đường H, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
7. Phạm Ngọc A, sinh năm 1955 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
8. Trương Bình D1, sinh năm 1966 (Xin vắng mặt chiều 02/7/2024);
9. Nguyễn Kim C, sinh năm 1970;
10. Trương Thị Huỳnh N3, sinh năm 1990;
11. Trương Bình Quốc E, sinh năm 1994;
12. Trương Bình A1, sinh năm 2001 (Xin vắng mặt chiều ngày 02/7/2024);
13. Trương Tiến P (Thành P1), sinh năm 1992;
14. Nguyễn Thị Gia Q, sinh năm 1993;
15. Nguyễn Thị H, sinh năm 1950 (Xin vắng mặt chiều ngày 02/7/2024);
Cùng địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của C, chị N3, anh Quốc E1, anh P1, chị
Gia Q1 : Ông Trương Bình D1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp F, T, huyện T,
tỉnh Đồng Tháp.
16. Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Số nhà B, Tổ H, ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
17. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
Đại diện theo pháp luật là: Ông Hồ Thanh P2 Giám đốc;
Đại diện theo ủy quyền : Ông Nguyễn Hoàng H1 Phó trưởng Phòng
Thẩm tra Xác minh đơn Văn phòng Đăng đất đai tỉnh Đ (Theo văn bản y
quyền ngày 15/02/2024, xin vắng mặt);
4
Địa chỉ: Số C, Quốc lộ C, xã A, huyện C, Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn
T, chNguyễn Thị Đ nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ú người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn T
chị Nguyễn Thị Đ trình bày:
Ông Nguyễn Phước T9 (Chết 2018) vợ Nguyễn Thị L, các con
Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn TNguyễn Thị Đ.
Năm 1998, ông T9 mua 10.505,5m
2
đất của ông Trương Bình D1 thuộc
thửa 764, 768, 769, 770, 1508. Mua của ông Phạm Văn T10 Nguyễn Thị B
6.000m
2
đất của ông Văn L1 570m
2
đất thuộc thửa 1509, 1462 tại T,
huyện T và nhờ ông Nguyễn Văn S đứng tên dùm.
Khi ông T9 còn sống, ông T9 nhiều lần yêu cầu ông S trả đất để ông T9
đứng tên QSD đất, nhưng ông S không thực hiện.
Sau khi ông T9 chết, ông S không trả lại đất cho vợ con ông T9 mà lấy phần
đất này chuyển nhượng hết cho ông Phạm Ngọc A.
vậy, các Nguyên đơn yêu cầu hộ ông S trả lại toàn bộ diện tích đất
ông T9 chuyển nhượng năm 1998 gồm c thửa 1509, 1462, 764, 768, 769, 770,
1508 cho những người thừa kế của ông T9 bà L, chị N, anh T và chị Đ đứng tên
QSD đất (Nay là thửa 56, diện tích 5.512,3m
2
, TBĐ số 22; thửa 107, diện tích
675m
2
; thửa 40, diện tích 5.088,9m
2
; thửa 36, diện tích 1.786,8m
2
thửa 15 diện
tích 1.602,8m
2
cùng TBĐ số 44, đất tại xã T).
L, chị N, anh T, chị Đ không khởi kiện ông Ngọc A, ông Bình D1
không có yêu cầu khởi kiện khác.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:
Năm 1998, ông cùng với các ông Nguyễn Chí T3, Trần Văn T4, Bùi Văn D
Nguyễn Phước T9 hùn mua đất của ông Trương Bình D1 diện tích 10.000m
2
mua của ông Phạm Văn T10, ông Văn L1 diện tích 6.000m
2
, tại T, huyện T
và thống nhất giao cho ông S đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
5
Việc hùn mua các ông chỉ thỏa thuận miệng, không làm giấy tờ. Tổng giá trị
các thửa đất khi mua là 209.510.000 đồng (Chia làm 05 phần).
Năm 2009, ông T9 thỏa thuận với các ông cho ông T9 mượn phần đất
chuyển nhượng của ông Bình D1 để thế chấp Ngân hàng lấy tiền làm ăn nên các
ông đồng ý.
Năm 2016, do ông T9 vay Ngân hàng không có khả năng thanh toán nên các
ông bàn bạc thống nhất bán phần đất nhận chuyển nhượng của ông Bình D1 (Đối
diện trường C1) cho ông Phạm Ngọc A với giá 2.303.000.000 đồng (Lúc này ông
T9 vẫn còn sống).
Số tiền 2.303.000.000 đồng chia làm 05 phần, mỗi người nhận 460.600.000
đồng. Do ông Ngọc A cho ông T9 ứng trước số tiền 1.000.000.000 đồng (Ứng lần
thứ nhất 300.000.000 đồng để ông T9 đi trả Ngân hàng, nhưng không đủ nên ứng
lần thứ hai 700.000.000 đồng để trả Ngân hàng). Như vậy, đối với phần đất này
ông T9 đã nhận nhiều hơn phần của mình số tiền 539.400.000 đồng (Giấy tờ ông
T9 nhận đặt cọc bán đất ông Ngọc A còn giữ).
Năm 2018 ông T9 chết, đến năm 2021 các ông bàn bạc chuyển nhượng thửa
56 (Phần đất chuyển nhượng của ông Bảy T11 ông L1) cho ông Phạm Ngọc A
với với giá 12.000.000.000 đồng (Ông T4 người điện thoại trực tiếp cho L
thông báo, nhưng L không ý kiến gì). Số tiền 12 tỷ đồng chia thành 05 phần
hùn, mỗi phần 2.400.000.000 đồng (Tại nhà ông T3, ông Ngọc A giao đủ
12.000.000.000 đồng).
Ông S, ông T4, ông T3, N2 (Vợ ông D) đã nhận đ mỗi người
2.400.000.000 đồng. Còn phần ông T9 số tiền 2.400.000.000 đồng trừ đi
539.400.000 đồng ông T9 nhận nhiều hơn trước đây, còn lại 1.860.600.000
đồng (Ông T4 không giao cho L ông T4 lấy số tiền này giao cho T5 để
trừ nợ của ông T9). Bởi vì, căn cứ quyết định thi hành án của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện n Hưng, thì ông T9, L nghĩa vụ phải trả cho Thị
Thanh T5 (Vợ ông T4) số tiền 2.500.800.000 đồng.
Ngày 15/3/2022, Chi cục Thi hành án huyện Tân Hưng lập biên bản về việc
giải quyết thi hành án, cụ thể ông T9, L phải thi hành cho T5 số tiền
2.172.308.000 đồng khấu trừ số tiền 1.860.600.000 đồng. Như vậy, ông T9,
L còn nợ bà T5 số tiền 312.309.000 đồng.
6
Do đó, ông S không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của bà L, chN, chị Đ
anh T.
Đối với thửa đất số 15, diện tích 1.602,8m
2
cùng TBĐ số 44, ông S trả lại
cho ông Bình D1. ông S các ông T3, T4, D, T9 không chuyển nhượng phần
đất này.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Văn T4, ông Nguyễn Chí T3 trình bày:
Thống nhất theo lời trình bày của ông Nguyễn Văn S.
Đối với thửa đất số 15, diện tích 1.602,8m
2
cùng TBĐ số 44, ông T4, ông
T3 khẳng định không chuyển nhượng phần đất này của ông Bình D1.
Việc ông S được đứng tên QSD đất thửa 15, TBĐ số 44 do quan
chuyên môn nhầm lẫn trong việc cấp giấy chứng nhận.
+ Ông Phạm Ngọc A trình bày:
Ngày 15/5/2022, ông ký hợp đồng bơm t vi công ty TNHH H2, bơm
10.000m
3
cát với đơn giá 125.000 đồng/m
3
cát.
Ngày 21/5/2022, ông và C2 tiến hành lắp đưng ống bơm t ti tha 56, t
bản đồ s 22, thì b bà Nguyễn Thị Ú ngăn cản nên đưc Ủy ban nhân dân T
lp biên bn tm ngng việc bơm cát.
Đến ngày 01/6/2022, Ủy ban nhân dân T có Công văn s 224/UBND
ngày 01/6/2022 cho phép ông được quyn tiếp tục bơm t trên phần đất do ông
đứng tên.
Khi ông tiếp tc yêu cu C2 bơm cát thì C2 cho rng giá cát tăng nên không
thc hin hợp đồng.
Ngày 15/6/2022, ông ký hợp đồng bơm t vi anh Nguyễn Hữu Q2 đ bơm
cát lên tha 56 vi tng khối lượng đã bơm 5.430m
3
x giá 170.000 đồng. Ngày
20/6/2022, ông ký hợp đồng bơm t vi anh Từ Chánh V đbơm t lên thửa 56
vi tng khối lượng đã bơm là 2.436m
3
x giá 170.000 đồng.
Do bị ngăn cản không bơm cát được, dẫn đến giá cát tăng bị thiệt hại thực tế
về số tiền bơm cát 495.000.000 đồng nên ông yêu cầu L, chị N, anh T, chị Đ
và bà Ú bồi thường thiệt hại số tiền là 495.000.000 đồng.
7
Tại phiên tòa thẩm, ông tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ
yêu cầu L, chị N Ú liên đới bồi thường thiệt hại tiền bơm cát cho ông
353.970.000 đồng.
+ Bà Nguyễn Thị Ú trình bày:
Bà không đồng ý theo yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Ngọc A.
yêu cầu hộ ông S trả lại cho các Nguyên đơn các thửa đất theo bản đồ
chính quy hiện nay là thửa 56, diện tích 5.512,3m
2
, TBĐ số 22; thửa 107, diện tích
675m
2
; thửa 40, diện ch 5.088,9m
2
, thửa 36, diện tích 1.786,8m
2
thửa 15 diện
tích 1.602,8m
2
ng TBĐ số 44, đất tọa lạc tại T năm 1998 ông T9 đã mua
nhờ ông S đứng tên dùm.
+ Ông Trương Bình D1 trình bày:
Thửa đất số 15, diện tích 1.602,8m
2
cùng TBĐ số 44, đất tại T, huyện T
do gia đình ông quản lý, sử dụng từ xưa đến nay. Không chuyển nhượng cho
ông S. Nhưng việc ông S đứng tên quyền sử dụng đất do nhầm lẫn của quan
chuyên môn trong việc cấp giấy. Vụ việc này, ông S hộ gia đình ông tự thỏa
thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Bà Trần Kim Đ1, chị Nguyễn Kiều N1, Thị Thanh T5, Trần Kim
N2, chị Bùi Thị Phương T7 và anh Bùi Tấn T8 không có ý kiến, yêu cầu gì.
+ Anh Trương Tiến P, chị Nguyễn Thị Gia Q, Nguyễn Thị H không
yêu cầu, ý kiến gì.
+ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ không có ý kiến.
Tại bản án dân sự thẩm số 108/2023/DS-ST ngày 16/10/2023 của Tòa án
nhân dân huyện Tháp Mười đã xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị L, chị Nguyễn
Thị N, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu hộ ông Nguyễn n S
(Nguyễn n S, Trần Kim Đ1, Nguyễn Kiều N1) trả lại thửa đất 15, diện tích
1.602,8m
2
thuộc thửa số 44, đất tọa lạc tại xã T do hộ ông Nguyễn Văn S đứng tên
giấy chứng nhận QSD đất;
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị L, chị Nguyễn
Thị N, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu hộ ông Nguyễn n S
(Nguyễn n S, Trần Kim Đ1, Nguyễn Kiều N1) trả lại thửa đất 36, diện tích
8
1.786,8m
2
; thửa 40, diện tích 5.088,9m
2
; thửa đất 107, diện tích 675m
2
, cùng t
bản đồ số 44 và thửa đất số 56, diện tích 5.512,3m
2
, tờ bản đồ số 22, đất tọa lạc tại
xã T.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc A yêu cầu bồi
thường thiệt hại về tài sản số tiền 141.030.000 đồng đình chỉ yêu cầu anh
Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ liên đới bồi thường thiệt hại về tài sản.
4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc A.
Buộc Nguyễn Thị L, chNguyễn Thị N Nguyễn Thị Ú bồi thường
thiệt hại về tài sản (tiền bơm cát) số tiền 353.970.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền và thời
hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ thời hiệu thi hành án của các đương sự theo
quy định của pháp luật.
Sau khi xét xthẩm, ngày 25/10/2023 Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị
N, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ bà Nguyễn Thị Ú m đơn kháng cáo
bản án thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án thẩm theo hướng chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của các Nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu bồi
thường thiệt hại của ông Phạm Ngọc A.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và
kháng cáo của mình, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến Viện
kiểm sát về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử, Thư
các đương sự mặt tại phiên tòa đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật
Tố tụng Dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà
Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ
Nguyễn Thị Ú, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ ván được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
9
[1] Xét việc các Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Văn S trlại các thửa đất
15, thửa 36, thửa 107, thửa 40 thửa 56. Vì c thửa đất này ông Nguyễn Phước
T9 (Là chồng, cha của các Nguyên đơn) nhận chuyển nhượng của ông Trương
Bình D1, ông Phạm Văn T10, ông Văn L1 và nhờ ông Nguyễn Văn S đứng tên
dùm giấy chứng nhận QSD đất là không phù hợp. Bởi vì:
Căn cứ Đơn khởi kiện ngày 09/6/2022 (BL 02) và Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ
sung ngày 08/7/2022 (BL 15 16) do bà L, chị N, anh T, chị Đ ký tên đều thể hiện
nội dung:
“Năm 1998, khi ông T9 còn sống cùng ông S, ông T4, ông T3, ông D
hùn mua các phần đất, cụ thể như sau:
- Mua của ông Trương Bình D1 diện tích 10.000m
2
;
- Mua của ông Phạm Văn T10 và bà Nguyễn Thị B với diện tích 6.000m
2
.
Tháng 9 năm 1998, ông T9, ông S, ông T4, ông T3, ông D thỏa thuận thống
nhất cử ông S đại diện đứng tên các phần đất nêu trên”…
Căn cứ Biên bản hòa giải ngày 20/4/2022 tại Ủy ban nhân dân T (BL 03
04) bà Ú đại diện cho bà L, chị N, anh T, chị Đ trình bày:
“Tôi yêu cầu ông S, ông T3, ông T4, ông D trả lại phần đất mà ông T9 hùng
mua với các ông: gồm phần đất của ông Trương Bình D1 ông Phạm Văn T10.
Gồm các thửa đất 769, 770, 768, 764, 1508, 1509,1462”…
Căn cứ giấy xác nhận ngày 02/12/2021 do ông Nguyễn Văn S xác nhận
nội dung: Năm 2000, ông S cùng với ông T4, ông T3, ông D ông T9 hùn mua
đất của ông Bình D1 và ông Bảy T11.
Căn cứ xác nhận của ông Phạm Thành P3 (Con ông T11) ngày 16/8/2023
(BL 56) Biên bản lấy lời khai của ông P3 ngày 15/9/2023, ông P3 xác định:
Giấy xác nhận ngày 16/8/2023 do ông P3 xác nhận theo yêu cầu của bà
Nguyễn Thị Út . Ông P3 xác nhận năm 1998 ông Phạm Văn T10 (Cha ông P3)
bán đất cho ông S ông T9 (có việc hùn mua đất, nhưng ông S, ông T9 hùn với
ai thì ông P3 không biết….).
Còn ông Trương Bình D1 thì trình bày: Ngày 26/4/1999, ông chuyển
nhượng đất cho ông S, ông T9, ông T4, ông T3, ông D. Ông đã nhận đủ tiền đã
10
giao đất. Nhưng ai là người đứng tên quyền sử dụng đất thì ông không biết. Riêng
thửa đất số 15, ông không có chuyển nhượng.
Ngoài ra, L, chị N, anh T, chị Đ không cung cấp chứng cứ chứng minh
việc ông T9 có nhờ ông S đứng tên dùm các thửa đất 15, 36, 107, 40, 56. vậy,
L, chị N, anh T, chị Đ yêu cầu ông S trả lại các thửa đất 15, 36, 107, 40, 56 với
lý do ông T9 nhờ đứng tên dùm là không có căn cứ.
[2] Xét việc ông Nguyễn n S cho rằng vào năm 1998, ông cùng với ông
T9, ông T4, ông T3, ông D hùn mua các thửa đất 764, 768, 769, 770, 1508, 1509,
1462. Tổng gtrcác thửa đất khi mua 209.510.000 đồng (Chia làm 05 phần)
các ông thống nhất giao cho ông Nguyễn Văn S đứng tên QSD đấtc thửa đất
trên.
Năm 2016, các ông bán thửa đất chuyển nhượng của ông Trương Bình D1
cho ông Phạm Ngọc A với giá 2.303.000.000 đồng.
Năm 2021, các ông bán luôn phần đất còn lại cho ông Phạm Ngọc A được
tổng số tiền 12.000.000.000 đồng.
Số tiền nêu trên đã được chia đều làm 5 phần cho các ông gồm: Ông
Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Phước T9, ông Trần Văn T4, ông Nguyễn Chí T3
ông Bùi Văn D xong.
[3] Đối với thửa đất số 15, diện tích 1.602,8m
2
, thuộc TBĐ số 44, ông S
khẳng định năm 1999, ông, ông T9, ông T4, ông T3 ông D không mua
thửa đất này. Việc ông S được đứng tên thửa đất số 15 do quan chuyên môn
nhầm lẫn trong khâu cấp giấy. Còn ông Bình D1 xác định thửa đất số 15 của hộ
gia đình ông quản lý, sử dụng từ trước đến nay, không việc chuyển nhượng.
Trên đất còn căn ncủa anh Trương Tiến P Nguyễn Thị H (Là người
thân của ông D1). Các nội dung trên được ông T4, ông T3, N2 (Vợ ông D) đều
thừa nhận.
Do đó, ông S không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của các Nguyên đơn
có căn cứ.
[4] Xét việc ông Ngọc A yêu cầu L, chị N Ú bồi thường thiệt hại
cho ông số tiền bơm cát 353.970.000 đồng cho thấy:
Tại tòa án cấp thẩm bà Ú thừa nhận ngày 21/5/2022, trực tiếp ngăn
11
cản ông Ngọc A bơm cát lên thửa đất 56, tờ bản đồ số 22, tại xã T. Việc bà Ú ngăn
cản do L, chị N, anh T, chị Đ yêu cầu Ú thực hiện. Còn chị N thừa nhận
do chị xa nên khi nghe Ú thông tin ông Ngọc A tiến hành bơm t lên thửa
đất 56, chị đã điện thoại trực tiếp cho bà Ú để yêu cầu bà Ú ngăn cản ông Ngọc A
bơm cát. Tại Biên bản lấy lời khai Nguyễn Thị L ngày 19/4/2023 (BL 247
248) L khai ủy quyền miệng cho Ú để yêu cầu Ú ngăn cản ông
Ngọc A bơm cát. Do hành vi ngăn cản nêu trên làm cho ông Ngọc A không thể
bơm t được, khi bơm cát được thì gt tăng đã làm thiệt hại cho ông Ngọc A
nên ông yêu cầu bồi thường thiệt hại là có căn cứ.
Căn cứ vào 03 hợp đồng bơm cát do ông Ngọc A cung cấp cho Tòa án thể
hiện như sau:
+ Ngày 15/5/2022, ông Ngọc A ký hợp đồng bơm t vi Công ty TNHH
H2, bơm 10.000m
3
cát với đơn giá 125.000 đồng/m
3
cát.
+ Ngày 15/6/2022, ông Ngọc A ký hợp đồng bơm t vi anh Nguyễn Hữu
Q2 để bơm t lên tha 56 vi tng khối lượng đã bơm 5.430m
3
x giá 170.000
đồng;
+ Ngày 20/6/2022, ông Ngọc A ký hợp đồng bơm t vi anh Từ Chánh V
ti v trí cp l 844 cách kho V1 khong 400m v ng H (Bơm cát lên thửa 56)
vi tng khối lượng đã bơm là 2.436m
3
x giá 170.000 đồng.
Ngày 21/5/2022, ông Ngọc A và Công ty H2 tiến hành lp đưng ống bơm
cát ti tha 56, t bản đồ s 22, thì b bà Nguyễn Thị Ú ngăn cản. Ủy ban nhân
dân T lp biên bn tm ngng việc bơm t. Đến ngày 01/6/2022, Ủy ban T
có công văn số 224/UBND ngày 01/6/2022 cho phép ông Ngọc A đưc quyn tiếp
tục bơm t. Khi ông Ngọc A tiếp tc yêu cu Công ty H2 bơm cát thì Công ty H2
cho rng giá cát tăng nên không thực hin hợp đng. Nên ông Ngọc A hợp
đồng bơm cát với anh Nguyễn Hữu Q2 Từ Chánh V giá trị chênh lệch
45.000đ/01m
3
.
Xét thấy, việc L, ch N, bà Ú thực hiện hành vi ngăn cản bơm cát
không có căn cứ và làm phát sinh thiệt hại thực tế chênh lệch mỗi m
3
t là 45.000
đồng. Do đó, ông Phạm Ngọc A yêu cầu L, chị N Ú trách nhiệm bồi
thường thiệt hại (5.430m
3
+ 2.436m
3
) x 45.000đ = 353.970.000đ cho ông Ngọc A
là có căn cứ.
12
Tại Tòa án cấp phúc thẩm L, chị N, anh T, chị Đ Ú cũng không
cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh cho kháng cáo của mình nên
không chấp nhận.
[5] Xét ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề
nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L, chị
Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ Nguyễn Thị Ú, giữ
nguyên Bản án thẩm căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên chấp
nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ bà
Nguyễn Thị Ú, giữ nguyên Bản án thẩm. Để thuận tiện cho việc thi hành án,
Hội đồng xét xử điều chỉnh lại cách tuyên án.
Do giữ nguyên Bản án sơ thẩm nên các đương sự kháng cáo phải chịu án phí
án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần của bản án thẩm không bkháng cáo, kháng nghị hiệu lực pháp
luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 147, Điều 148, Điều 91, Điều 157, Điều
165, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 167, Điều 203 Luật đất đai,
Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị N,
anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ và bà Nguyễn Thị Út .
2. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 208/2023/DS-ST ngày 16/10/2023
của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị L, chị Nguyễn
Thị N, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu hộ ông Nguyễn n S
13
(Nguyễn n S, Trần Kim Đ1, Nguyễn Kiều N1) trả lại thửa đất số 15, diện tích
1.602,8m
2
, tờ bản đsố 44, đất tại T, huyện T do hộ ông Nguyễn Văn S đứng
tên giấy chứng nhận QSD đất.
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị L, chị Nguyễn
Thị N, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu hộ ông Nguyễn n S
(Nguyễn n S, Trần Kim Đ1, Nguyễn Kiều N1) trả lại thửa đất số 36, diện tích
1.786,8m
2
; thửa đất số 40, diện tích 5.088,9m
2
; thửa đất 107, diện tích 675m
2
,
cùng tờ bản đồ số 44 và thửa đất số 56, diện tích 5.512,3m
2
, tờ bản đồ số 22, đất
tại xã T, huyện T.
5. Đình chỉ một phần yêu cầu của ông Phạm Ngọc A đối với yêu cầu bồi
thường thiệt hại về tài sản số tiền 141.030.000 đồng đình chỉ yêu cầu anh
Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ liên đới bồi thường thiệt hại về tài sản.
6. Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Ngọc A.
7. Buộc Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị N Nguyễn Thị Ú phải liên
đới bồi thường thiệt hại cho ông Phạm Ngọc A (Tiền bơm cát) số tiền 353.970.000
đồng (Ba trăm năm mươi ba triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Điều 468 Bộ luật
dân sự năm 2015.
8. Về án phí:
- Nguyễn Thị L được miễn án phí dân sự, do là người cao tuổi.
- ChNguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ phải liên đới
chịu 88.926.000 đồng án phí dân sự thẩm và mỗi người phải chịu 300.000 đồng
án phí dân sự phúc thẩm. Tiền án phí được trừ vào 17.455.000 đồng tiền tạm ng
án phí dân sự thẩm đã nộp theo lai số 0007964, ngày 15/7/2022 900.000
đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0001654, số 0001657,
số 0001658 cùng ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tháp
Mười. Chị N, anh T và chị Đ phải nộp tiếp số tiền 71.471.000 đồng.
- ChNguyễn ThN, Nguyễn Thị Ú phải liên đới chịu 11.799.000 đồng
án phí dân sự sơ thẩm (Bồi thường thiệt hại tài sản) và 300.000 đồng án phí dân sự
14
phúc thẩm. Tiền án phí được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ng án phí dân sự
phúc thẩm theo biên lai số 0001659, ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án
Dân sự huyện Tháp Mười. Chị N và bà Ú phải nộp tiếp số tiền 11.799.000 đồng.
- Ông Phạm Ngọc A được miễn án phí dân sự, do là người cao tuổi.
9. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Đ
phải chịu (Đã nộp và chi xong).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị ỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi Nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND huyện Tháp Mười;
- CCTHADS huyện Tháp Mười;
- Phòng KTNV-THA TAND tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, VT (N).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Sỹ Danh Đạt
Tải về
Bản án số 350/2024/DS-PT Bản án số 350/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 350/2024/DS-PT Bản án số 350/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất