Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 34/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lộc Bình (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 34/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/07/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST
Ngày 22-7-2024
V/v Ly n, tranh chấp về nuôi con
khi ly n
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thuỳ Linh và ông Hoàng Văn Trạch.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hạnh Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên toà: Ông Hoàng Chí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 m 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Lạng
Sơn t xử thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ số:
56/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 03 năm 2024; về việc "Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
31/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 7 m 2024, giữa c đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh m 1995; địa chỉ: Thôn X, C,
huyện H, tỉnh Bắc Giang; có mặt.
- B đơn: Anh Dương Văn H, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn P, xã X, huyện
L, tỉnh Lạng Sơn; mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp của bị đơn: Phạm Thị T, Luật sư,
thực hiện trợ giúp pháp của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng
Sơn; vắng mặt.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách hội
huyện L. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Triệu Việt Q Phó Giám đốc
Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách hội huyện L; địa chỉ: Khu B, thị trấn
L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. (Quyết định uỷ quyền số 123/QĐ-NHCS, ngày
19/10/2021 của Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách hội huyện
L về việc uỷ quyền tham gia tố tụng và thi hành án); vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 01/5/2024, các lời khai sau đó quá
trình tiến hành tố tụng, nguyên đơn chNgô Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị anh Dương Văn H được tự do tìm hiểu, tự
nguyện kết hôn, đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã X, huyện L,
tỉnh Lạng n theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06, quyển số 01, ngày
15/4/2013. Sau khi chung sống vợ chồng thì thường xuyên cãi chửi nhau
đánh nhau, nguyên nhân do anh Dương Văn H thường xuyên uống rượu
không tu tlàm ăn, đánh đuổi chị ra khỏi nhà, chị đã cố gắng chịu đựng các
con từ năm 2013 đến tháng 4/2023 thì anh Dương Văn H đánh chị và không cho
chị về nhà nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại Thôn X, C, huyện H, tỉnh Bắc
Giang để sinh sống cho đến nay. Sau khi chị bỏ về thì anh Dương Văn H không
hỏi thăm, không liên lạc với nhau. Nay chị không còn tình cảm với anh
Dương Văn H, mục đích hôn nhân không đạt được do vậy chị yêu cầu được ly
hôn với anh Dương Văn H.
Về con chung: 03 con chung Dương Yến N, sinh ngày 27/9/2013;
Dương Thị Mỹ C, sinh ngày 07/3/2017; Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020;
cả 03 con hiện nay đang sống cùng với chị từ tháng 4/2023 cho đến nay. Tại đơn
khởi kiện, bản khai chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con cho đến khi
các con đ 18 tuổi, không yêu cầu anh Dương Văn H cấp dưỡng nuôi con
chung. Hiện nay chị đang làm ng ty thu thập khoảng 12.000.000 đồng/tháng,
ngoài ra bố mđẻ của chị hỗ trợ chị nuôi dưỡng các con chỗ ổn định
những lúc chị bận công việc. Tuy nhiên tại phiên tòa chị thay đổi ý kiến về con
chung như sau: Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung cháu tên cháu
Dương Yến N, sinh ngày 27/9/2013; cháu Dương Thị Mỹ C, sinh ngày
07/3/2017 đến khi đủ 18 tuổi và yêu cầu anh Dương Văn H trực tiếp nuôi 01 con
chung cháu Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020 đến khi đủ 18 tuổi, chị
chưa yêu cầu anh Dương Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Thị T không yêu cầu giải quyết.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Dương Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh chị Ngô Thị T được tự do tìm hiểu, tự
nguyện kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức cưới cho theo phong tục địa
phương đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân X, huyện L, tỉnh Lạng
Sơn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06, quyển số 01, ngày 15/4/2013. Sau khi
chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn về tài chính, do hai vchồng không
việc làm ổn định dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Đến tháng
12/2023 chị Ngô Thị T bvề Bắc Giang sinh sống cho đến nay. Từ khi chị Ngô
Thị T b về Bắc Giang sinh sống thì anh cũng không đến đón chị Ngô Thị T lần
nào, do chị Ngô Thị T không nhất trí. Nay chị Ngô Thị T yêu cầu ly hôn thì anh
cũng nhất trí ly hôn với chị Ngô Thị T vì không còn tình cảm vợ chồng.
3
Về con chung: 03 con chung Dương Yến N, sinh ngày 27/9/2013;
Dương Thị Mỹ C, sinh ngày 07/3/2017; Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020;
cả 03 con chung đều sinh sống cùng chị Ngô Thị T từ tháng 12/2023 cho đến
nay. Quá trình tiến hành tố tụng anh yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung
cháu Dương Yến N, sinh ngày 27/9/2013 cháu Dương Minh T, sinh ngày
13/10/2020 đến khi con đủ 18 tuổi; yêu cầu chị Ngô Thị T nuôi dưỡng cháu
Dương Thị Mỹ C, sinh ngày 07/3/2017 đến khi con đủ 18 tuổi, không yêu cầu
chị Ngô Thị T cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay đang làm gỗ nhựa thông
thu nhập không ổn định. Từ khi các con chung sống chung với chị Ngô Thị T thì
anh không đi thăm con lần nào chỉ gọi điện thoại hỏi thăm các con. Theo
như anh được biết thông qua việc gọi điện cho các con thì các con của anh vẫn
được chị Ngô Thị T mchị Ngô Thị T chăm sóc tốt đảm bảo, được đi học
bình thường. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay chị Ngô Thị T yêu cầu được trực
tiếp nuôi 02 con chung cháu tên cháu Dương Yến N, sinh ngày 27/9/2013;
cháu Dương ThMỹ C, sinh ngày 07/3/2017 đến khi đủ 18 tuổi và yêu cầu anh
trực tiếp nuôi 01 con chung cháu Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020 đến
khi đủ 18 tuổi, chị chưa yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con chung thì anh cũng
nhất trí; anh cũng chưa yêu cầu chị Ngô Thị T phải cấp dưỡng nuôi con chung
cho anh.
Về tài sản chung: Anh Dương Văn H chưa yêu cầu xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Anh Dương Văn H xác định nợ chung là 120.000.000 đồng
tại Ngân hàng Chính sách hội chi nhánh Lộc Bình, tuy nhiên số tiền vẫn
trong hạn vay, anh đề nghị khi Ngân hàng yêu cầu trả nợ thì anh và chị Ngô Thị
T mỗi người phải chịu trách nhiệm trả ½ số tiền nợ cả gốc lãi theo quy định
của Ngân hàng.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt tại phiên
tòa nhưng Luận cứ đề nghị như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T anh Dương Văn H kết hôn tn
cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, là hôn nhân được pháp luật
công nhận. Quá trình chung sống, phát sinh mâu thuẫn vợ chồng hay cãi nhau,
tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, không thể hàn gắn tình cảm,
mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được,
nếu tiếp tục sống chung sẽ không hạnh phúc, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý
môi trường sống, môi trường chăm c, giáo dục của các con nên anh Dương
Văn H đồng ý ly hôn với chị Ngô Thị T. Nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
giải quyết cho chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Dương Văn H.
Về con chung: Xem xét điều kiện hoàn cảnh thực tế, quyền, nghĩa vụ của
cha, mđối với con cái, nguyện vọng của các con; giao cho chị Ngô Thị T trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con; giao cho anh H được trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng 01 con chung.
Anh H là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng điều kiện kinh tế, xã
hội đặc biệt khó khăn đối tượng được miễn án phí, đơn xin được miễn án
4
phí, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí cho bị đơn.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách hội
huyện L. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Triệu Việt Q Phó Giám đốc
Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách hội huyện L trình bày: Ngân hàng
chính sách xã hội (NHCSXH) huyện L. Người đại diện theo uỷ quyền ông Triệu
Việt Q Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách hội huyện L
trình bày v nợ NHCSXH: Ngày 25/9/2020 hộ gia đình ông Dương Văn H
được Phòng giao dịch NHCSXH huyện duyệt cho vay số tiền 20.000.000 đồng
để xây dựng công trình nước sạch công trình vệ sinh chương trình cho vay
nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn với lãi xuất trong hạn 9%/năm (lãi
xuất quá hạn 11,7%/năm), hạn trả nợ cuối cùng ngày 14/9/2025. Đến ngày
14/3/2021 hộ gia đình ông Dương Văn H tiếp tục được Phòng giao dịch
NHCSXH huyện duyệt cho vay số tiền 100.000.000 đồng để trồng 04 ha rừng
thông trương trình cho vay hộ nghèo với lãi suất trong hạn là 6.6%/năm (lãi suất
quá hạn 8,58/năm), hạn tr nợ cuối cùng ngày 14/3/2031. Tính đến ngày
26/6/2024 hai khoản vay nêu trên đang đứng tên người vay vốn ông Dương
Văn H với dư nợ gốc là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng chẵn).
Nay Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) huyện L chưa có yêu cầu xem xét
giải quyết các khoản vay trên vì chưa đến hạn trả nợ.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/6/2024 và đơn trình bày các cháu Dương
Yến N, sinh ngày 27/9/2013; cháu Dương Thị Mỹ C, sinh ngày 07/3/2017 đều
có nguyện vọng được sống với chị Ngô Thị T.
Tại biên bản xác minh ngày 16/6/2024 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh
Bắc Giang thể hiện: Hiện nay chị Ngô Thị T 03 cháu Dương Yến N, sinh
ngày 27/9/2013, cháu Dương Thị Mỹ C, sinh năm 07/3/2017, cháu Dương Minh
T, sinh năm 13/10/2020 đang sinh sống tại địa phương cùng nhà với mẹ đẻ (ở
cùng nhưng ăn riêng) và em traianh Ngô Văn Ư, sinh hoạt, ăn uống riêng nên
chỗ tương đối ổn định. Các con của chị Ngô Thị T từ khi về địa phương sinh
sống thì vẫn được chị Ngô Thị T cho các cháu đi học đầy đủ. Hiện nay chị Ngô
Thị T đang đi làm công ty, thu nhập bình quân bao nhiêu thì địa phương không
nắm được, khi chị Ngô Thị T đi làm tmcủa chị Ngô Thị T hỗ trợ chăm sóc
các con nhà. Chị Ngô Thị T vẫn đủ thời gian kinh tế đchăm sóc các
con đầy đủ.
Tại đơn trình bày của ông Ngô Quang Đ là bố đẻ của chị Ngô Thị T: Hiện
chị T và các cháu sống ng ông tại Thôn X, C. Chị T đi làm công nhân,
thu nhập 12 triệu/tháng đảm bảo cho cuộc sống của 4 mẹ con. Khi chị Ngô Thị
T đi vắng thì ông vẫn hỗ trợ chị Ngô Thị T đưa đón các cháu đi học, chăm
sóc các cháu. Các cháu đã sống ổn định với ông bà từ tháng 4/2023 đến nay.
Ý kiến của ông Dương Văn T bà Hứa Thị T (là bố m đẻ của anh
Dương Văn H) ngày 03/6/2024 biên bản làm việc ngày 07/6/2024. Ông
nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng của anh Dương Văn H chị Ngô Thị T không
5
thể hàn gắn được. Anh Dương Văn H chị Ngô Thị T 03 con chung hiện
đang sống H, Bắc Giang. Ông đã cho anh Dương Văn H đất để (thửa số
122, tờ bản đồ 38) trên đất nhà cấp 4 hỗ trợ anh Dương Văn H chăm sóc
các con, hiện chị Ngô Thị T không có nhà, phải ở nhờ bên ngoại.
Tại Công văn số 298/CV-BTV ngày 26/6/2024 của Hội Liên hiệp phụ nữ
huyện L để Tòa án tham khảo nội dung trả lời như sau: Theo Hội liên hiệp
phụ nữ huyện L thì nên giao các con là cháu Dương Yến N, sinh ngày 27/9/2013,
cháu Dương Thị M C, sinh ngày 7/03/2017 cho chị Ngô Thị T được trực tiếp nuôi
dưỡng, chăm c, giáo dục các cháu theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014 quy định nếu con từ đ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét
nguyện vọng của con”. Mặt khác cháu Dương Yến Ncháu Dương Thị Mỹ C
gái sống với mẹ đchia sẻ, chăm sóc gần gũi cho quá trình phát triển tâm
sinh lý trong suốt quá trình trưởng thành.
Đối với cháu Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020 tính đến ngày
26/6/2024 được 03 tuổi, 08 tháng 13 ngày. Cháu còn nhỏ, lại đang sống cùng chị
T, được chămc đầy đủ, có chỗ ở tương đối ổn định; mẹ chị T hỗ trợ chăm sóc
các cháu ở nhà. Như vậy để bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường
sống, giáo dục của con; cháu cũng đang sống cùng 02 chị gái Dương Yến N,
sinh ngày 27/9/2013; cháu Dương Thị Mỹ C, sinh ngày 07/3/2017 để bảo đảm
ổn định tâm tình cảm của con; mặt khác các cháu N C trình bày anh
H say rượu, hay đánh chị T làm các cháu sợ không muốn sống cùng anh H. Do
vậy cần giao cháu Dương Minh T cho chị Ngô Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm
sóc giáo dục phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm
2014 quy định “trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao
con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mi mặt của con”.
Ý kiến của đại diện Viện kiểmt nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn:
Về tố tụng: Thẩm phán đãc định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm
quyền giải quyết, ch tham gia tố tụng; thực hiện đúng việc thu thập i liệu
chứng cứ, việc tống đạt n bản tố tụng được thực hiện hợp lệ, trình tự thụ lý, thời
hạn chuẩn bị xét xử và nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm pn trong giai đoạn chuẩn
bị xét xử theo Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 93 đến Điều 97, Điều 175,
Điều 177, Điều 203 Bộ luật Ttụng n s. Hội đồng t xử tuân theo đúng quy
định của Bộ luật Tố tụngn sự vviệc xét x sơ thẩm ván.
T đã thực hiện đúng, đầy đủ về thtục chuẩn bị khai mạc phn tòa,
ghi chép diễn biến phn tòa cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo
quy định tại Điều 51, Điều 237 của Bộ luật Ttụng n sự.
Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các
Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp của bị đơn đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định tại
Điều 75, Điều 76 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
người đại diện của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng
quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
6
Về việc giải quyết vụ án: Chị Ngô Thị T và anh Dương Văn H được tự do
tìm hiểu và gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn
tại Ủy ban nhân dân xã X, tỉnh Lạng Sơn ngày 15/4/2013. Trong qúa trình chung
sống xảy ra mâu thuẫn, chị Ngô Thị T và anh Dương Văn H đã ly thân, không ai
quan tâm đến ai, nay chNgô Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên
yêu cầu được ly hôn với anh Dương Văn H. Anh Dương Văn H cũng đồng ý với
yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị T, do đó căn cứ Điều 51, Điều 55 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly
hôn giữa chị Ngô Thị T và anh Dương Văn H.
Về con chung: Tại phiên tòa chị Ngô Thị T anh Dương Văn H thống
nhất chị Ngô Thị T người trực tiếp đưc chăm sóc, nuôi ỡng, giáo dục 02
con chung cháu Dương Yến N, sinh ngày 27/9/2013 cháu Dương Thị Mỹ
C, sinh ngày 07/3/2017; anh Dương Văn H người trực tiếp đưc chăm c,
nuôiỡng, giáo dục 01 con chung là cháu Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020
đến khi con chung đủ 18 tuổi. Do vậy đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận về việc nuôi
con giữa chị Ngô ThT anh ơng Văn H. Do chN ThT đang trc tiếp
chăm sóc, nuôi ỡng, giáo dục con chung cháu Dương Minh T, sinh ngày
13/10/2020 n buộc chNgô Thị T phải nghĩa vụ giao cu Dương Minh T,
sinh ngày 13/10/2020 cho anh Dương n H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc giáo dục theo quy định. Về cấp ỡng nuôi con chung, do chị Ngô Thị T
và anh Dương Văn H ca yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị N Thị T anh Dương Văn H ca yêu cầu Tòa án
giải quyết nên đề nghkng xem xét. Về nợ chung: c định ngày 25/9/2020 hộ
gia đình anh Dương Văn H được Phòng giao dịch NHCSXH huyện duyệt cho vay
số tiền 20.000.000 đồng để y dựng ng trình ớc sạch ng trình vệ sinh
chương trình cho vay ớc sạch vệ sinh i trường nông thôn với i suất trong
hạn là 9%/năm (lãi suất quá hạn 11,7%/năm), hạn trả nợ cuối cùng ny
14/9/2025. Đến ngày 14/3/2021 hộ gia đình anh Dương Văn H tiếp tục được Phòng
giao dịch NHCSXH huyện duyệt cho vay số tiền 100.000.000 đồng để trồng 04 ha
rừng thông chương tnh cho vay hộ ngo với i suất trong hạn 6,6%/năm (lãi
suất quá hạn 8,58%/năm), hạn trả nợ cuối ng ngày 14/3/2031. nh đến ngày
26/6/2024 hai món vayu tn đang đng tên nời vay vốn là anhơngn H
với dư nợ gốc 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng chẵn), tuy nhiên
chị Ngô Thị T không yêu cầu giải quyết, anh Dương Văn H ý kiến nếu Ngân
hàng Chính sách yêu cầu thì đề nghị mỗi người trả 1/2 nhưng không thực
hiện thủ tục làm đơn yêu cầu thanh toán nợ chung Ngân hàng Chính sách
hội không yêu cầu giải quyết, không yêu cầu độc lập về trách nhiệm thanh
toán nợ chung. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Trường hợp chị Ngô Thị T, anh Dương Văn H và Ngân hàng Chính sách hội
có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng mt vụ án khác. Nguyên đơn chị Ngô Thị
T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
7
[1] Về thủ tục tố tụng: Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng
Chính sách xã hội người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của bị đơn đã
được Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn triệu tập hợp lđến phiên toà
nhưng không mặt đã đơn xin giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại
khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét
xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu ly hôn, giải quyết tranh chấp nuôi con khi ly hôn, bị đơn có ý kiến trình
bày về nợ chung nếu Ngân hàng chính sách hội yêu cầu thì đnghị mỗi
người trách nhiệm trả một nửa, tuy nhiên bị đơn không thực hiện thủ tục làm
đơn yêu cầu thanh toán nợ chung đ Tòa án thụ theo quy định, người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Chính sách hội không yêu cầu
độc lập vviệc thanh toán nợ chung vì vậy xác định quan hệ pháp luật là "Ly
hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Bị đơnanh Dương Văn H, trú tại Thôn P, xã X, huyện L, tỉnh
Lạng Sơn. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện
L, tỉnh Lạng Sơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T anh Dương Văn H đăng
kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Giấy chứng
nhận kết hôn s06, quyển số 01, ngày 15/4/2013, đây là hôn nhân hợp pháp
được pháp luật công nhận bảo vệ. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh
u thuẫn do bất đồng quan điểm, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, kng n quan
m, u thương nhau đã sống ly thân. ChNgô Thị T xin ly n anh ơng
Văn H ng nhất trí. Xét thấy nh cảm vchồng giữa chị Ngô Thị T anh
Dương Văn H đã không còn, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã trở lên trầm trọng,
đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Một
gia đình không s yêu thương, tôn trọng, sự thấu hiểu và cảm thông giữa vợ
chồng kthể một gia đình hạnh phúc, yên ấm. Tại phiên tòa hôm nay
chị Ngô Thị T và anh Dương Văn H đều nhất trí thuận tình ly hôn. Hội đồng xét
xử xét thấy việc thuận tình ly hôn của các đương sự là hoàn toàn tnguyện,
không trái với đạo đức xã hội nên cần công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị
Ngô Thị T và anh Dương Văn H.
[4] Vcon chung: Chị Ngô Thị T anh Dương Văn H 03 con chung
cháu Dương Yến N, sinh ngày 27/9/2013; cháu Dương Thị Mỹ C, sinh ngày
07/3/2017; cháu Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020, hiện đang ở với chị Ngô
Thị T. Tại phiên tòa, chị Ngô Thị T anh Dương Văn H tnguyện thỏa thuận
được về con chung như sau: Chị Ngô Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi ỡng, giáo dục 02 con chung cháu Dương Yến N, sinh ngày 27/9/2013;
cháu Dương Thị Mỹ C, sinh ngày 07/3/2017 cho cho đến khi đ18 tuổi anh
Dương n H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi ỡng, giáo dục 01 con
chung là cu Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020 cho đến khi đủ 18 tuổi.
Chưa bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Xét vđiều kiện để trực
8
tiếp nuôi con, Hội đồng xét xử thấy: Về mức thu nhập: Theo lời khai chứng
cứ đương sự cung cấp, hiện nay chị Ngô Thị T đang làm công ty thu thập
khoảng 12.000.000 đồng/tháng, ngoài ra bố mẹ đẻ của chị hỗ trợ chị nuôi dưỡng
các con chỗ ổn định và những lúc chị bận công việc, hơn nữa các cháu
Dương Yến N, sinh ngày 27/9/2013; cháu Dương Thị Mỹ C, sinh ngày
07/3/2017 đã đủ 07 tuổi đều nguyện vọng chung sống với mẹ chị Ngô Thị
T. Anh Dương Văn H m nhựa gỗ thông thu nhập không ổn định nhưng anh
bố mđẻ hỗ trợ chỗ ở ổn định và hỗ trợ nuôi con. Qua xem xét các điều kiện
về kinh tế, điều kiện công việc, điều kiện sinh hoạt và các điều kiện khác nhằm
đảm bảo về quyền lợi mọi mặt của các con chung. Việc thỏa thuận của các
đương sự phù hợp vậy Hội đồng xét xử ghi nhận việc thỏa thuận giữa các
đương sự về việc chị Ngô Thị T được trực tiếp trông nom, chăm c, nuôi ỡng,
giáo dục 02 con chung cháu Dương Yến N, sinh ngày 27/9/2013; cháu Dương
Thị Mỹ C, sinh ngày 07/3/2017 cho cho đến khi đủ 18 tuổi và anh Dươngn H
được trực tiếp trông nom, cm c, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con chung cu
Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020 cho đến khi đủ 18 tuổi; chưa bên nào phải
cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Do chị Ngô Thị T đang trực tiếp chămc, nuôi
ỡng, giáo dục con chung là cháu Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020 nên ch
N Thị T phải nghĩa vụ giao cháu Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020 cho
anh Dương n H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục theo quy
định.
[5] Về tài sản chung : Chị Ngô Thị T anh Dương Văn H chưa yêu cầu
Tòa án giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về nợ chung: c định ny 25/9/2020 hộ gia đình anh ơng n H
được Phòng giao dịch NHCSXH huyện duyệt cho vay số tiền 20.000.000 đồng đ
y dựng ng trình ớc sạch công trình vệ sinh chương trình cho vay ớc
sạch vệ sinh môi trường nông thôn với i suất trong hạn 9%/m (lãi suất quá
hn là 11,7%/năm), hạn trnợ cuối cùng ny 14/9/2025. Đến ngày 14/3/2021 hộ
gia đình anh Dương n H tiếp tục được Phòng giao dịch NHCSXH huyện duyệt
cho vay số tiền 100.000.000 đồng để trồng 04 ha rừng thông chương trình cho vay
hộ nghèo với lãi suất trong hạn 6,6%/m (lãi suất q hạn 8,58%/năm), hạn
trnợ cuối ng ngày 14/3/2031. nh đến ngày 26/6/2024 hai món vay nêu trên
đang đứng tên người vay vốn là anh ơng Văn H với dư ngốc 120.000.000
đồng (một trăm haiơi triệu đồng chẵn). Tuy nhiên chị NThị T không yêu cầu
giải quyết, anh ơng Văn H có ý kiến nếu Nn ng chính ch hội yêu cầu
thì đề nghị mỗi người trả ½ nợ chung nhưng kng thực hiện thủ tục làm đơn yêu
cầu thanh toán nợ chung Ngânng Cnh sách hội cũng bản khai đối với
ý kiến của anh Dương Văn H nhưng không u cầu giải quyết, không thực hiện
m đơn yêu cầu độc lập. Do vậy Hội đồng xét xử không xem t giải quyết.
9
Tờng hợp chị N Thị T, anh Dương Văn H Ngân hàng Cnhch hội
yêu cầu thì sđược giải quyết bằng một vụ án khác.
[7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[8] Xét thấy Luận cứ của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị
đơn phần nào có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử thì được
chấp nhận, phần nào không căn cứ không phù hợp với nhận định của Hội
đồng xét xử thì không được chấp nhận
[9] Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa căn cứ,
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo bản án theo
Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều
83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271,
khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự .
Căn cứ vào khoản 8 Điều 26; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa
chị Ngô Thị T anh Dương Văn H. (Giấy chứng nhận kết hôn số 06, quyến sổ
01, đăng ký ngày 15/4/2013 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn).
2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Ngô Thị T và anh
Dương Văn H như sau:
Chị Ngô Thị T được trực tiếp trông nom, chăm c, nuôi ỡng, giáo dục
02 con chung cu Dương Yến N, sinh ngày 27/9/2013; cháu Dương Thị Mỹ
C, sinh ngày 07/3/2017 cho cho đến khi đủ 18 tuổi.
Anh ơng n H được trực tiếp trông nom, chăm c, nuôi ỡng, giáo
dục 01 con chung cháu Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020 cho đến khi đ
18 tuổi.
Chưa bên nào phải cấp ỡng nuôi con chung cho n o do c n chưa
yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung,
không ai được cản trở.
3. Do chị Ngô ThT đang trực tiếp chăm c, nuôi ỡng, giáo dục con
chung cháu Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020 n chNgô Thị T phải
10
nghĩa vụ giao cháu Dương Minh T, sinh ngày 13/10/2020 cho anh ơng n H
được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục theo quy định.
4. Ván phí: Nguyên đơn chNgô Thị T phải chu tiền án phí ly n
thẩm là 300.000đồng (ba tm nghìn đồng), được khấu trvào số tiền 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án p chNgô Thị T đã nộp theo biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ p Tòa án số: 0002314 ngày 10/5/2024 ti Chi cục Thi hành án
n s huyện L, tỉnh Lạng n. Xác nhận nguyên đơn chị Ngô Thị T đã nộp đủ
án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định của
Bluật Tố tụng n sự. Ngưi có quyn lợi nga v liên quan Nn ng Chính
sách xã hội vng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định ca
Blut Ttụng n sự
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
- UBND xã X , huyện Lộc Bình;
- Các đương sự;
- Người BVQLI HP;
- Lưu: Hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Tải về
Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất