Bản án số 335A/2025/DS-PT ngày 05/09/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 335A/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 335A/2025/DS-PT ngày 05/09/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 335A/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 106, Điều 111 Luật Đất đai năm 2003; Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2005; Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Đình 10 N – Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 335A/2025/DS-PT
Ngày: 05 - 9 - 2025
V/v Yêu cầu công nhận biên bản đổi đất,
Công nhận quyền sử dụng đất và đòi đất
lấn chiếm
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn;
Bà Lưu Thị Thu Hường.
- Thư ký phiên toà: Phạm Thị Thu Thùy - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Trần Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số: 215/2025/TLPT-DS ngày
04/6/2025, về việc: “Yêu cầu công nhận biên bản đổi đất, công nhận quyền sử
dụng đất đòi đất lấn chiếm”. Do Bản án dân sự thẩm số: 13/2025/DS-ST,
ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện M’gar, tỉnh Đắk Lắk (nay Toà
án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 328/2025/QĐ-PT ngày 04/8/2025 và
Quyết định hoãn phiên toà số 302/2025/QĐ-PT ngày 20/8/2025 giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phan Đình N, sinh năm 1971 (có mặt);
Địa chỉ: Thôn A, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay Thôn A, E, tỉnh
Đắk Lắk).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Luật Văn Đức M, Văn phòng
Luật sư X Chi nhánh Đắk Lắk; địa chỉ: Đường N, xã Q, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần V, sinh năm 1964 (có mặt);
Địa chỉ: Thôn A, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay Thôn A, E, tỉnh
Đắk Lắk).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ban Tự quản thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn A, xã E,
tỉnh Đắk Lắk);
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đậu Xuân H Chức vụ: Trưởng Thôn,
2
vắng mặt.
3.2. Công ty Trách nhiệm hữu hạn B;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T Chức vụ: Giám đốc,
vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn A, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay Thôn A, E, tỉnh
Đắk Lắk).
3.3. Ông Nguyễn Văn P (có mặt);
Địa chỉ: Thôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn E, xã E, tỉnh Đắk
Lắk).
3.4. Ông Phan Văn T1 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn G, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay Thôn G, E, tỉnh
Đắk Lắk).
3.5. Ông Nguyễn Đình B (có mặt);
Địa chỉ: Thôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn E, xã E, tỉnh Đắk
Lắk).
3.6. Ông Trần Văn A, sinh năm 1976 (có mặt);
Địa chỉ: Thôn A, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay Thôn A, E, tỉnh
Đắk Lắk).
3.7. Bà Phạm Thị T2 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn A, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay Thôn A, E, tỉnh
Đắk Lắk).
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Phan Đình T3 (vắng mặt),
4.2. Ông Nguyễn Duy T4 (có mặt),
4.3. Ông Đào Trọng N1 (có mặt),
4.4. Ông Lê Văn T5 (vắng mặt),
4.5. Ông Phan Văn T6 (vắng mặt),
4.6. Ông Nguyễn Đình H1 (vắng mặt),
4.7. Bà Trần Thị H2 (vắng mặt),
4.8. Ông Lê Văn N2 (vắng mặt),
4.9. Ông Phạm Tiến G (vắng mặt),
4.10. Ông Nguyễn Thành L (vắng mặt),
4.11. Ông Dương Hữu Q (vắng mặt),
4.12. Bà Vũ Thị N3 (X) (vắng mặt),
4.13. Ông Lê Văn T7 (có mặt),
4.14. Bà Nguyễn Thị H4 (vắng mặt),
4.15. Ông Hà Văn G1 (vắng mặt),
4.16. Bà Phạm Thị C (vắng mặt),
4.17. Bà Lê Thị Thu H3 (vắng mặt),
3
4.18. Ông Nguyễn Quang L1 (vắng mặt),
4.19. Bà Lê Thị L2 (có mặt),
4.20. Bà Nguyễn Thị Lan H4 (vắng mặt),
4.21. Ông Lê Văn N4 (vắng mặt),
4.22. Ông Phạm Hồng Đ (vắng mặt),
4.23. Ông Văn V1 (vắng mặt),
4.24. Bà Nguyễn Thị K (có mặt),
4.25. Ông Hoàng D (vắng mặt),
4.26. Bà Phan Thị H5 (vắng mặt),
4.27. Ông Lê Đ1 (vắng mặt),
4.28. Ông Phan Mạnh T8 (vắng mặt),
4.29. Ông Nguyễn Xuân H6 (vắng mặt),
4.30. Ông Lê Văn K1 (vắng mặt),
4.31. Ông Nguyễn Đình H7 (vắng mặt),
4.32. Ông Văn V2 (vắng mặt),
Đều trú tại: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn A, E, tỉnh
Đắk Lắk).
5. Người kháng cáo: Ông Phan Đình N Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông
Phan Đình N trình bày có nội dung như sau:
Ngày 01/12/2010, đại diện nghiệp Trồng rừng và Cây công nghiệp thuộc
Công ty B (Nay Công ty TNHH B) đã bàn giao cho đại diện Ban tự quản thôn
A, E, huyện C 01 thửa đất để thôn A xây dựng hội trường làm việc của thôn.
Phần diện tích đất được bàn giao cho thôn A thông tin cụ thể như sau (Gọi tắt là
thửa đất A): Diện tích: 1500 m
2
; Chiều dài 50m; Chiều rộng 30m; Địa chỉ: Thôn A,
E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Phía Đông giáp Trường Tiểu học P1; Phía Tây giáp
đất phê quốc doanh nghiệp Trồng rừng Cây công nghiệp quản lý; Phía
Nam giáp rẫy phê của ông Trần Văn A; Phía Bắc giáp đường đi Buôn H. Hiện
trạng: Đất trồng cà phê đã được phát dọn.
Ngày 26/12/2010, căn cứ biên bản bàn giao ngày 01/12/2010 nêu trên, Ủy ban
nhân dân xã E đã tổ chức họp dân và lập biên bản họp dân về việc đổi đất xây dựng
hội trường thôn với thửa đất của gia đình ông, trong đó nội dung Biên bản nêu rõ:
Diện tích đất của thôn là 1.500 m
2
, đổi lấy 1000 m
2
, chiều dài 34 m, chiều rộng
29.5 m của gia đình ông Phan Đình N tại thôn A, xã E (Gọi tắt là thửa đất B). Vị trí
thửa đất của gia đình ông như sau: Phía Đông giáp đường đi thôn I dài 34 m; Phía
Tây giáp đất nhà ông N dài 34 m; Phía Nam giáp đất dự án đắp đập thôn A dài
29,5 m; Phía Bắc giáp đất ông N dài 29.5m.
Bên hộ gia đình ông sau khi chuyển đổi được quyền sử dụng số diện tích trên
vào mục đích như “Bán, cho, đổi, tặng”, Bên nghiệp, Uỷ ban nhân dân, cấp ủy
4
chi bộ, Ban tự quản thôn A có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho gia đình
khi xảy ra tranh chấp hoặc chuyển đổi mục khác trong sử dụng.
Ngày 01/12/2010, Xí nghiệp trồng rừng và cây ng nghiệp đã giao và thôn A
đã nhận thửa đất của ông để làm hội trường thôn A.
Ngay tại thời điểm lập biên bản đổi đất: Ông đã giao thôn A cũng đã nhận
thửa đất B để xây dựng hội trường thôn từ ngày 26/12/2010 đến nay. Thôn A,
nghiệp trồng rừng cây công nghiệp đã giao gia đình ông đã nhận thửa đất A
để quản lý, canh tác, sử dụng từ ngày 26/12/2010 đến nay. Ông đã trồng cà phê, gỗ
tếch từ năm 2010. Trong quá trình ông quản lý, sử dụng thửa đất A từ năm 2010
đến nay (hơn 13 năm) chính quyền thôn, xí nghiệp và Ủy ban nhân dân xã E không
bất kỳ ý kiến gì. Ngoài ra, cũng không có bất kỳ cá nhân nào tranh chấp về việc
gia đình ông canh tác thửa đất A này. Tuy nhiên, từ đầu năm 2022 đến nay, ông
Trần V nhiều lần tự ý đến tranh chấp với gia đình ông về việc sử dụng thửa đất
này. Đỉnh điểm vào ngày 15/02/2024 ngày 15/6/2024, ông V nhiều đối
tượng khác lại tự ý đến hủy hoại cây trồng, rào đất, dựng nhà trên thửa đất A của
gia đình ông. Đối với nội dung này ông đã gửi đơn tố cáo lên Cơ quan Công an
Cơ quan Công an đang xác minh, điều tra.
Do đó, ông không thể khai, đề nghị quan thẩm quyền cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này sự cản trở, tranh chấp
ông Trần V. Vì vậy, ông đề nghị Toà án giải quyết những vấn đề sau:
- Công nhận Biên bản họp dân về việc đổi đất xây dựng hội trường thôn A
E ngày 26/12/2010 giữa thôn A và ông.
- ng nhận ông được toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt đối với toàn bộ
thửa đất diện tích 1500m
2
gia đình ông đã đổi với thôn A ngày 26/12/2010
theo Biên bản họp dân về việc đổi đất xây dựng hội trường thôn A xã E. Thửa đất
tứ cận như sau: Phía Đông giáp: Trường Tiểu học P1 50m; Phía Tây giáp: Đất
phê quốc doanh nghiệp Trồng rừng Cây Công nghiệp quản 50; Phía
Nam giáp: Rẫy pcủa ông Trần Văn A 30; Phía Bắc giáp: Đường đi Buôn H
30m. Buộc ông Trần V phải trả lại phần diện tích đất 1500m
2
đã chiếm dụng trên
cho gia đình ông.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần V trình bày nội dung như
sau:
Năm 2005, theo chủ trương nhà được xây trường học mới, cấp một tại
thôn A, tọa lạc tại đất nghiệp trồng rừng cây công nghiệp, thuộc Công ty
TNHH B quản lý, trong khi bàn giao diện tích đất bị thiếu nên Xí nghiệp đã thống
nhất lấy 0,15ha phê của gia đình ông. Hai bên đã thống nhất đền quy đổi
sang diện tích đất ngoài đường 01 sào. Ngày 07/4/2006, Xí nghiệp đã làm việc
bàn giao đất theo thỏa thuận (Có biên bản đồ). Năm 2007, ông sang lại
cho ông Trần Văn A 2,2m ngang để làm đường đi. Năm 2008, ông sang lại cho
ông Phan Văn T1 05m để làm nhà. Năm 2010, ông sang lại cho ông Nguyễn Đình
B 13m đlàm nhà để trừ nợ. Diện tích còn lại 12m ông sang lại cho ông P vào
năm 2007. Năm 2011, ông Phan Đình N đã bỏ móng xây nhà, khi ấy ông kiến
nghị lên nghiệp trồng rừng cây công nghiệp thì nghiệp đã cho lực lượng
5
xuống đình chỉ hành vi sai trái của ông N. Sau khi làm việc thì ông biết Xí nghiệp
cho thôn A diện tích đất 0,15ha phía sau đất ông. Nhưng trong quá trình bàn
giao thì bộ phận văn thư đánh sai vị trí đất nên Xí nghiệp đã có văn bản chỉnh sửa,
do đó ông sdụng đất đúng pháp luật quyền sang nhượng theo Luật Đất
đai. Đối với việc ông N kiện ông là không có căn cứ. Nếu Xí nghiệp sai thì ông N
quyền khởi kiện nghiệp để đổi lại quyền lợi cho bản thân, đề nghị Tòa án
xem xét bảo vệ quyền lợi cho gia đình ông.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Phan Văn T1 trình bày: Vào ngày 20/12/2008, tại nhà ông V, ông nhận sang
nhượng đất với ông V, diện tích chiều rộng 05m chiều dài 30m, phía Đông
giáp đất ông V; Phía Tây giáp đất ông P; Phía Nam giáp đất của nghiệp đang
quản lý; Phía Bắc giáp đường đi Buôn H. Giá sang nhượng 30.000.000 đồng
(Ba mươi triệu đồng). Tại thời điểm sang nhượng ông đã giao đủ số tiền trên
nhận đất canh tác cho đến nay. Đối với ý kiến của ông N cho rằng đổi đất làm hội
trường thôn tại vị trí giáp đường quốc lộ 29 là không đúng vì đất ông mua của ông
V từ năm 2008, do đó ông N đổi đất tại vị trí sau lô đất của ông. Ông đề nghị Tòa
án không chấp nhận yêu khởi kiện của ông N từ khi ông mua đất phát dọn
sinh sống trên đất cho đến nay thì ông N không có ý kiến gì.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Trần Văn A trình bày: Vào ngày 30/12/2010, ông nhận sang nhượng đất của ông
Trần V diện tích đất chiều rộng mặt đường quốc lộ 29 2,2m, còn chiều dài kéo
dài sát tường rào Trường học L3 đến nhà ông, với giá 10.000.000 đồng. Khi mua
các bên lập giấy sang nhượng đất làm đường đi xác nhận của nghiệp
trồng rừng và cây công nghiệp thuộc Công ty B chữ ký ông Nguyễn
Thượng H8. Vì đất này thuộc nghiệp trồng rừng Cây công nghiệp thuộc
Công ty B quản nên con dấu của họ, họ đồng ý cho ông nhận sang nhượng
đất từ ông V. Còn ông Nguyễn Thượng H8 Hiệu trưởng Tờng P2 đó, làm
chứng ranh giới giữa Trường học đất của ông mua. Từ khi nhận sang nhượng,
ông làm rẫy đó, sau khi mua đất từ ông V để làm đường thì khoảng năm
2011 ông xây nhà tại thửa đất phía cuối con đường sinh sống trên đất cho đến
nay không ai ý kiến gì. Đối với vị trí đổi đất của thôn A cho ông N, ông xác định
vị trí cách mặt đường quốc lộ (Phía Bắc) khoảng 30m chứ không phải diện
tích đất giáp mặt đường, nên khi Ban tự quản thôn đổi đất với ông N thì ông N
nhận vị trí đất này chứ không thể nhận vị trí đất giáp mặt đường. Nay ông Phan
Đình N khởi kiện yêu cầu ông V trả lại diện tích đất 1.500m
2
, trong đó 2,2m
ngang mặt đường mà ông nhận sang nhượng từ ông V, ông đề nghị Tòa án không
chấp nhận đơn khởi kiện của ông N.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Đình B trình y: Ngày 25/3/2010, ông nhận sang nhượng của ông V
một thửa đất tại thôn A, E, chiều ngang 13m chiều dài 30m với giá
49.000.000 đồng, có tứ cận: Phía Đông giáp đất ông A; Phía Tây giáp đất ông T1;
Phía Nam giáp đất nghiệp; Phía Bắc giáp đường đi Buôn H. Việc ông nhận
sang nhượng và sử dụng đất đến nay không ai ý kiến gì. Ông N khởi kiện là vô lý,
6
ông N đổi đất với Ban tự quản thôn phần đất phía sau chứ không phải phần
đất mặt đường. Ông N lợi dụng việc nghiệp đánh nhầm vị trí đất để khởi kiện
là không có cơ sở. Ông đề nghị Tòa án không chấp nhận đơn khởi kiện của ông N.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Văn P trình bày: Ngày 21/5/2007, ông có mua một thửa đất của ông V tại
thôn A, xã E, với diện tích 324m
2
, có ông Phạm Ngọc T9 cán bộ Xí nghiệp làm
chứng. Đất tứ cận như sau: Phía Đông dài 27m giáp đất ông A; Phía Tây dài
27m giáp đất ông N; Phía Nam dài 12m giáp đất sân bóng thôn A; Phía Bắc 12m
giáp đường đi Buôn H. Số tiền sang nhượng 80.000.000 đồng. Nguồn gốc đất
này của Công ty TNHH B chuyển đổi từ diện tích đất thu hồi của ông Trần V
để giao cho UBND E xây dựng phân hiệu của trường học B1 Trường L3
(Theo anh V viết trong giấy sang nhượng). Ông V cam kết chịu trách nhiệm trước
pháp luật khi sang nhượng, kèm theo giấy sang nhượng giấy biên nhận tiền do
ông V người làm chứng tên. Đến năm 2011 thì sự tranh chấp phần đất
của ông V và đất ông N với phần đất ông mua của ông V. Ông có gửi đơn lên Ủy
ban nhân dân E giải quyết để bảo vệ quyền lợi cho ông, ngày 21/9/2011
mời các bên lên hòa giải nhưng ông N lúc đó bỏ về không vào biên bản.
Ông đề nghị Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền lợi cho ông vì ông đã mua đất từ
ông V.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng ông Nguyễn Thành L trình
bày: Trước năm 2010, nghiệp giao cho thôn A diện tích đất 1.500m
2
để làm
hội trường sân vui chơi. Thôn thấy xa trung tâm, nên họp định bán để đưa về
trung tâm thôn cho thuận tiện. Sau khi họp thôn, gia đình anh Phan Đình N ý
định đổi lấy 1.500m
2
đất của nghiệp lấy 1000m
2
của anh N để làm hội trường
thôn, sau đó con nhất trí đóng tiền để xây hội trường. Trong khi đang xây
thì giấy của nghiệp báo về là thửa đất nghiệp giao cho thôn A cách
mặt đường quốc lộ 29 là 30m. Sau đó, ông có họp dân và mời ông N đến để thống
nhất thửa đất 1.500m
2
đổi cho ông N, nhưng không thành. Ông N ý kiến nếu đất
đổi không phải đất mặt đường thì đổi lại cho gia đình ông N, dân không nhất trí
đổi lại vì trên thửa đất 1000m
2
đã xây dựng hội trường thôn. Nay ông N khởi kiện
đòi 1.500m
2
đất mặt đường thì ông đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Tại Bản án dân s thẩm số: 13/2025/DS-ST, ngày 04/4/2025 của Tòa án
nhân dân huyện M’gar, tỉnh Đắk Lắk (nay Toà án nhân dân khu vc 3
Đắk Lắk) đã quyết định: Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm
c khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Điều 273
Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 165, Điều 166 Bộ luật Dân sự; Áp dụng
Điều 106, Điều 111 Luật Đất đai năm 2003; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Áp
dụng khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/10/2016
của y ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan
Đình N về việc yêu cầu Tòa án công nhận biên bản họp dân về việc đổi đất xây
7
dựng Hội trường thôn A E ngày 26/12/2010 giữa thôn A ông Phan Đình N
công nhận quyền sử dụng đất; Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Phan Đình N vviệc buộc ông Trần V phải trả lại phần diện tích đất 1.500m
2
tại
thôn A, xã E, đất có tứ cạnh:
Phía Đông giáp: Trường Tiểu học P1 50m
Phía Tây giáp đất trống 50m
Phía Nam giáp: Rẫy cà phê của ông N 30m;
Phía Bắc giáp: Đường đi Buôn H 30m
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phan Đình N phải chịu chi xem xét thẩm định
tại chỗ định giá tài sản số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Số tiền này
ông Phan Đình N đã chi phí xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Đình N phải nộp 300.000đ án phí dân
sự thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ ông Phan
Đình N đã nộp theo Biên lai số AA/2023/0007749, ngày 08/7/2024 tại Chi cục
Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi
hành án cho đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 09/4/2025, nguyên đơn ông Phan Đình N
đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Phan Đình N giữ nguyên yêu cầu
khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, những người làm chứng ông Đào Trọng N1, ông Lê
Văn T7, Thị L2, Nguyễn Thị K trình bày có nội dung: Các ông được
ông Phan Đình N thuê làm phê trên thửa đất giáp đường đi Buôn Hồ vào
khoảng năm 2011.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày ý
kiến xác định: Về ttụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng
như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư các đương sự đã tuân thủ đúng các
quy định của pháp luật tố tụng dân sự; vnội dung: Căn cứ vào toàn bộ tài liệu,
chứng cứ kết quả xác minh thì việc Tòa án cấp thẩm xác định phần đất đổi
cho ông Phan Đình N chỉ thể diện tích phía trong, cách quốc lộ B khoảng
30m, đồng thời, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Đình N
căn cứ, nên kháng cáo của ông Phan Đình N là không sở để chấp nhận. Do
đó, đề nghị Hội đồng xét xcăn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Đình N, giữ nguyên quyết định của
Bản án sơ thẩm..
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu,
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng
xét xử nhận định như sau:
8
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Đình N được nộp
trong thời hạn luật định đóng tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ. vậy,
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Vào ngày 07/4/2006, nghiệp trồng rừng cây công nghiệp thuộc Công
ty B (Nay Công ty TNHH B) lập Biên bản làm việc (v/v đổi diện tích đất),
trong đó có nội dung: Ông Trần V và vợ là bà Dương Thị T10 giao cho Xí nghiệp
0,15ha để cho Xí nghiệp giao cho Trường L3 xây trường học. Còn Xí nghiệp nhất
trí giao lại cho vợ chồng ông Trần V và bà Dương Thị T10 0,1ha đất khác có vị trí
phía Tây bắc khu quy hoạch, có tứ cận: Phía Đông giáp trường học 33m; Phía Bắc
giáp đường đi Buôn H 33m; Phía Tây giáp rẫy phê quốc doanh ông N; Phía
Nam cách phê ông A 50m: chiều dài 33m. Ngày 21/5/2007, ông Trần V
chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn P 12m ngang mặt đường (Phía Bắc). Ngày
21/12/2008, ông Trần V chuyển nhượng cho ông Phan Văn T1 05m ngang mặt
đường phía Bắc. Ngày 20/3/2010, ông V chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đình B
13m ngang mặt đường. Ngày 30/12/2010, ông V chuyển nhượng cho ông Trần
Văn A 2,2m ngang mặt đường phía bắc để làm đường đi, xác nhận của
nghiệp trồng rừng và cây công nghiệp ngày 19/01/2011.
Ngày 01/12/2010, Xí nghiệp trồng rừng và cây công nghiệp thuộc Công ty B
đã lập Biên bản bàn giao cho đại diện Ban tự quản thôn A, xã E thửa đất diện tích
1500 m
2
với chiều dài 50m chiều rộng 30m; có tứ cận: Phía Đông giáp Trường
tiểu học P1; Phía Tây giáp đất phê Quốc D1; Phía Bắc giáp đường đi Buôn H;
Phía Nam giáp rẫy phê ông Trần Văn A, để thôn A xây dựng Hội trường làm
việc của thôn. Ngày 26/12/2010, đại diện Ủy ban nhân dân E Đại diện Ban
tự quản thôn A căn cứ vào Biên bản ngày 01/12/2010, lập biên bản thống nhất đổi
diện tích đất 1.500m
2
trên lấy 1.000m
2
đất của gia đình ông Phan Đình N giáp
đường đi thôn I giáp đất dự án đắp đập để xây dựng Hội trường thôn. Khi ông
N đến nhận đất thì có xảy ra tranh chấp với ông Trần V.
Ngày 07/4/2011, nghiệp trồng rừng cây công nghiệp gửi Công văn số
15/CV-XN, về việc Hủy bỏ biên bản bàn giao đất ngày 01/12/2010 và lập lại Biên
bản bàn giao đất vào ngày 08/4/2011, xác định lại vị trí giao đất cho Ban tự quản
thôn A, Phía Bắc giáp đất ông V cách đường đi Buôn Hồ 30m. Tuy nhiên,
ông Phan Đình N không đồng ý và khởi kiện ông V ra Toà án.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Đình N, xét thấy:
[3.1] Về nguồn gốc đất: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự, đại diện
Ủy ban nhân dân E, huyện C đều khẳng định phần diện tích đất 1.500m
2
tại
thôn A, E, tỉnh Đắk Lắk đang tranh chấp diện tích đất Ủy ban nhân dân
tỉnh Đ giao cho Công ty B (nay Công ty TNHH B) thuê, chưa bị Nhà nước thu
hồi.
[3.2] Căn cứ theo quy định tại Điều 106, Điều 111 Luật Đất đai năm 2003 thì
Công ty B không được quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê
quyền sử dụng đất thuê trên.
9
[3.3] Tại văn bản trả lời Tòa án của Công ty TNHH B ngày 04/4/2023 thể
hiện nội dung: “Xí nghiệp cà phê là đơn vị trc thuộc Công ty TNHH B, Xí nghiệp
có chức năng quản lý cà phê quốc doanh của Công ty. Về diện tích đất tranh chấp
giữa ông N ông V nằm trong 400ha phê giao khoán của Công ty TNHH B.
Việc xí nghiệp ra văn bản đổi diện tích đất từ vị trí này sang vị trí kia khi chưa
ý kiến của Công ty là chưa có giá trị pháp lý”.
[3.4] Như vậy, ngày 01/12/2010, nghiệp Trồng rừng cây công nghiệp
thuộc Công ty B đã bàn giao diện tích đất 1.500m
2
tại thôn A, E cho đại diện
Ban tự quản thôn A, E để thôn A xây dựng Hội trường làm việc của thôn
việc Ban tự quản Thôn đổi diện tích đất này với ông Phan Đình N không đúng
thẩm quyền, không đúng quy định tại Điều 106, Điều 111 Luật Đất đai năm 2003.
Do đó, giao dịch của các bên bị hiệu theo quy định tại Điều 127 Bộ luật Dân
sự năm 2005.
[3.5] Mặt khác, ngày 07/4/2006, Xí nghiệp Trồng rừng cây ng nghiệp
thuộc Công ty B giao cho vợ chồng ông Trần V thửa đất đang tranh chấp (Phía
Bắc giáp đường đi Buôn H).
Tại Biên bản họp thôn ngày 06/4/2011 (mặt sau) thể hiện do diện tích đất của
thôn cách đường khoảng 30m, không lối ra nên Ban mặt trận thôn quyết định
đổi cho ông N để lấy diện tích khác xây Hội trường. Ngày 07/4/2011, nghiệp
trồng rừng và cây công nghiệp thuộc Công ty B gửi ng văn số 15/CV-XN, về
việc Hủy bỏ biên bản bàn giao đất ngày 01/12/2010 lập lại Biên bản bàn giao
đất vào ngày 08/4/2011, xác định lại vị tgiao đất cho Ban tự quản thôn A,
Phía Bắc giáp đất ông V và cách đường đi Buôn Hồ 30m.
[3.6] Do đó, việc ông Phan Đình N khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận Biên
bản họp dân về việc đổi đất xây dựng hội trường thôn A E ngày 26/12/2010
giữa thôn A ông; công nhận quyền sử dụng đất của ông đối với diện tích đất
1.500m
2
tại thôn A, E và buộc ông Trần V trả lại đất này không sở để
chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không căn cứ chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn ông Phan Đình N, cần giữ nguyên quyết định của bản án
sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên
nguyên đơn ông Phan Đình N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn lại
tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 106, Điều 111 Luật Đất đai năm 2003; Điều 127 Bộ luật Dân sự
năm 2005;
Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Đình
10
N Giữ nguyên quyết định của Bản án dân s thẩm số: 13/2025/DS-ST, ngày
04/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện M’gar, tỉnh Đắk Lắk (nay Toà án
nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk).
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan
Đình N về việc yêu cầu Tòa án công nhận biên bản họp dân về việc đổi đất xây
dựng Hội trường thôn A E ngày 26/12/2010 giữa thôn A ông Phan Đình N;
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Đình N về việc công nhận
quyền sử dụng đất buộc ông Trần V phải trả lại phần diện tích đất 1.500m
2
tại
thôn A, xã E, đất có tứ cận:
Phía Đông giáp: Trường Tiểu học P1i 50m;
Phía Tây giáp đất trống dài 50m;
Phía Nam giáp: Rẫy cà phê của ông N dài 30m;
Phía Bắc giáp: Đường đi Buôn Hi 30m.
2. Vchi phí tố tụng: Buộc ông Phan Đình N phải chịu chi xem xét thẩm
định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Số tiền
này ông Phan Đình N đã chi phí xong.
3. Về án phí dân sự:
3.1. Án phí dân sthẩm: Ông Phan Đình N phải chịu 300.000 đồng (ba
trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai số AA/2023/0007749
ngày 08/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay
Phòng Thi hành án dân sự khu vực X, tỉnh Đắk Lắk).
2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Đình N phải chịu 300.000 đồng (ba
trăm ngàn đồng) án phí dân sphúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng
(ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0004783 ngày
09/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân s huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay Phòng
Thi hành án dân sự khu vực X, tỉnh Đắk Lắk).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Toà PT TANDTC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 3 – Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 3 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực X, tỉnh
Đắk Lắk;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Y Phi Kbuôr
Tải về
Bản án số 335A/2025/DS-PT Bản án số 335A/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 335A/2025/DS-PT Bản án số 335A/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất