Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương về tranh chấp hợp đồng thuê nhà

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương về tranh chấp hợp đồng thuê nhà
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Dương (TAND tỉnh Hải Dương)
Số hiệu: 33/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/06/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Xét thấy, việc phân tách quyền, nghĩa vụ thanh toán khoản tiền đặt cọc cho Công ty Y thuộc về Công ty TNHH thép H nay là Công ty cổ phần thép H thể hiện tại Biên bản cuộc họp Đại hội cổ đông Công ty cổ phần H và Quyết định của đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần H ngày 31/12/2022 không có sự tham gia thỏa thuận của Công ty Y. Tuy nhiên, tại Đơn yêu cầu về việc đòi trả nợ ngày 23/5/2024 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định đến nay nhất trí với việc phân tách nghĩa vụ thanh toán số tiền đặt cọc thuộc về Công ty TNHH thép H nay là Công ty cổ phần thép H, đề nghị Tòa án buộc Công ty cổ phần thép H có nghĩa vụ trả cho Công ty Y số tiền đặt cọc 66.250.000 đồng. Như vậy, sự thỏa thuận về nghĩa vụ thanh toán khoản tiền đặt cọc cho Công ty Y tại Biên bản cuộc họp Đại hội cổ đông Công ty cổ phần H và Quyết định của đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần H ngày 31/12/2022 đã có sự đồng thuận của Công ty Y. Do đó, xác định yêu cầu của Công ty Y đối với Công ty cổ phần thép H phải thanh toán trả số tiền đặt cọc này là có căn cứ, đúng quy định tại khoản 4 Điều 199 Luật Doanh nghiệp.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 33/2024/DS-ST
Ngày: 28-6-2024
V/v Tranh chp hp đng thuê căn h
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Diệu Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thúy, ông Nguyễn Văn Quyết
- Thư phiên tòa: Nông Thị Đào - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải
Dương tham gia phiên tòa: Đỗ Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải
Dương, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ số
175/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng
thuê căn hộ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số 40/2024/XXST-DS
ngày 06 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/QĐST-DS
ngày 22 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2024/QĐST-DS
ngày 13 tháng 6 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH Y Việt Nam.
Địa chỉ lô CN15, CN16 phân khu phía Đ, khu công nghiệp P, xã K, huyện
K1, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông K2 - Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyển của ông K2: Ông Lê Thanh T - Trợ lý giám
đốc (có mặt tại phiên tòa).
- Bị đơn: Công ty cổ phần thép H.
Địa chỉ s 360 Nguyễn Lương B, phường T1, thành phố H1, tỉnh Hải
ơng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Mạnh T2 - Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Mạnh T2: Ông Phạm Văn H2,
sinh năm 1968.
Địa chỉ làm việc: Văn phòng luật sư K3 Cộng sự. Số 50 đường L, quận
Đ1, thành phố Hà Nội.
2
Địa chỉ liên lạc: Khu dân H2, thôn P1, C, huyện C1, tỉnh Hải
Dương (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần H.
Địa chỉ: Số 360 Nguyễn Lương B, phường T1, thành phố H1, tỉnh Hải
Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Trọng T2 - Giám đốc.
Địa chỉ s 360 Nguyễn Lương B, phường T1, thành phố H1, tỉnh Hải
Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Trọng T2: Ông Công D,
sinh năm 1968.
Địa chỉ: Văn phòng luật B1. S41, A8, ngõ 120 H2, pờng N, quận
C2, thành ph Nội (có mặt tại phn tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khi kiện và các i liu trong h vụ án, ngưi đại diện ca
nguyên đơn trình bày:
Ngày 22/12/2021, Công ty TNHH Y Việt Nam (viết tắt: Công ty Y) và
Công ty TNHH H (nay đã được tách thành Công ty cổ phần H Công ty cổ
phần thép H) thiết lập hợp đồng thuê căn hvới thời hạn thuê 01 năm từ ngày
01/01/2022 đến ngày 31/12/2022. Theo hợp đồng đã ký Công ty Y đã thuê 5 căn
hộ số 205, 305, 306, 406, 505 đặt cọc stiền 66.250.000 đồng. Sau khi kết
thúc thời hạn hợp đồng thuê căn hộ, Công ty Y đã thanh toán đầy đcác khoản
tiền thuê cùng các chi phí khác theo đúng hợp đồng kết nhưng Công ty cổ
phần H không trả lại số tiền đặt cọc cho Công ty Y. Trong các ngày 09/5/2023,
07/6/2023, 17/7/2023, Công ty Y gửi công văn tới Công ty cổ phần H yêu cầu
hoàn trả số tiền đặt cọc nhưng không nhận được phản hồi.
Công ty Y không nhận được thông báo chính thức từ người đại diện theo
pháp luật của Công ty cổ phần H về việc Công ty TNHH H tách thành 02 công
ty Công ty TNHH thép H nay Công ty cồ phần thép H Công ty cổ phần
H. Giữa Công ty Y, Công ty cồ phần thép H và Công ty cổ phần H không sự
thỏa thuận nào về khoản tiền đặt cọc mà đây chỉ là sự phân chia riêng giữa Công
ty cổ phần H và Công ty cổ phần thép H.
Về yêu cầu khởi kiện: Tại đơn khởi kiện, Công ty Y đề nghị Tòa án buộc
Công ty cổ phần H phải trả cho Công ty Y số tiền đặt cọc 66.250.000 đồng
trả khoản lãi phát sinh tính từ tháng 01/2023 đến nay (09 tháng) theo lãi suất quá
hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định 6.000.000 đồng. Sau đó, Công ty Y có
Đơn đề nghị ngày 02/01/2024 thay đổi bị đơn, khởi kiện đối với Công ty cổ
phần thép H có nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu nêu trên.
3
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải ngày 25/4/2024, Công ty Y đề nghị Tòa án như sau:
Trường hợp, Tòa án xác định Công ty cổ phần H trong quá trình tách công
ty có sự phân tách quyền và nghĩa vụ mà khoản công nợ đối với Công ty Y được
chuyển giao cho công ty được tách Công ty cổ phần thép H phù hợp quy
định của pháp luật thì đề nghTòa án buộc ng ty cổ phần thép H trả lại cho
Công ty Y khoản tiền đặt cọc 66.250.000 đồng, không yêu cầu phải trả lãi đối
với số tiền 66.250.000 đồng.
Trường hợp, Tòa án xác định việc phân tách, chuyển giao khoản công nợ
đối với Công ty Y giữa Công ty cồ phần H Công ty cổ phần thép H không
đúng quy định pháp luật thì đề nghị Công ty cồ phần H và Công ty cổ phần thép
H phải nghĩa vụ liên đới về nghĩa vụ thanh toán khoản tiền đặt cọc
66.250.000đ cho Công ty Y, không yêu cầu phải trả lãi đối với số tiền
66.250.000 đồng.
Tại Đơn yêu cầu về việc đòi trả nợ ngày 23/5/2024, Công ty Y yêu cầu
Công ty cổ phần thép H thực hiện nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền đặt cọc
66.250.000 đồng cho Công ty Y.
Theo n bản trình bày ý kiến các tài liệu trong hồ vụ án, người
đại diện của bđơn trình bày:
Do tư duy về chiến lược kinh doanh sự khác biệt nên Công ty cổ phần
H đã thống nhất chia tách thành 02 gồm Công ty cổ phần thép H Công ty cổ
phần H từ tháng 01/2023. Mặc dù trong các Biên bản họp Hội đồng quản trị và
Biên bản bàn giao đã thể hiện rất quyền nghĩa vụ của từng pháp nhân
nhưng đến nay Công ty cổ phần H vẫn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình
đối với Công ty cổ phần thép H. Dẫn đến Biên bản cuộc họp đại hội cổ đông
ngày 31/12/2022 chưa được thực hiện toàn bộ trên thực tế. vậy, ng ty c
phần thép H cho rằng khoản công nợ đối với Công ty Y vẫn phải thuộc về trách
nhiệm, nghĩa vụ của ng ty cổ phần H. Trong quá trình tách công ty, giữa
Công ty TNHH Y Việt Nam, Công ty cồ phần thép H Công ty cổ phần H
không sự thỏa thuận nào về khoản tiền đặt cọc 66.250.000 đồng theo Hợp
đồng thuê căn hộ ngày 22/12/2021 giữa Công ty TNHH Y Việt Nam và Công ty
TNHH H (nay đã được tách thành Công ty cổ phần H Công ty cổ phần thép
H). Đây sự phân chia riêng giữa Công ty cổ phần H Công ty cổ phần thép
H, giữa ba bên không sthỏa thuận nào khác nên đề nghị Tòa án giải quyết
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định pháp luật.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, người đại diện của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Công ty cổ phần H đã tách thành 02 Công ty
riêng biệt kể từ ngày 01/01/2023. Công ty cổ phần H giữ nguyên, Công ty
4
TNHH thép H nay là Công ty cổ phần thép H. Công ty cổ phần H đã tách doanh
nghiệp theo đúng quy trình, quy định của pháp luật. Trong Biên bản Hội đồng
quản trị, Biên bản bàn giao i sản nguồn vốn ngày 03/01/2023 các cổ đông
đã ký nhận, phân rõ quyền kế thừa, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp được phân chia
về tài sản công nợ, các khoản nợ chưa thanh toán bao gồm cả khoản phải trả
cho Công ty TNHH Y Việt Nam. Theo đó theo khoản 4 Điều 199 Luật
Doanh nghiệp năm 2020 Các công ty được tách đương nhiên kế thừa toàn bộ
quyền, nghĩa vụ lợi ích hợp pháp được phân chia theo nghị quyết, quyết định
tách công ty”. Do đó, Công ty cổ phần thép H thừa hưởng thực hiện các
nghĩa vụ, trách nhiệm trả nợ đối với Công ty Y. Công ty cổ phần H đã làm đúng
quy trình thông báo trước và sau khi tách, xác nhận bằng thư xác nhận của Công
ty Y chuyển sang ngày 28/01/2023, bằng văn bản qua ứng dụng Zalo cho
Công ty Y về việc tách công ty, số phải trả cho Công ty Y thuộc trách nhiệm
của Công ty cổ phần thép H. vậy, Công ty cổ phần H không còn trách nhiệm
một khoản tiền nào đối với Công ty Y.
Sở Kế hoạch đầu tỉnh Hải Dương cung cấp các tài liệu liên quan
đến quá trình tách công ty gồm : Biên bản cuộc họp Đại hội cổ đông Công ty
cổ phần H (V/v: tách công ty) số 412/202/BB-ĐHĐCĐ ngày 31/12/2022; Quyết
định của đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần H số 414/2022/QĐ-ĐHĐCĐ
ngày 31/12/2022; Thông báo thay đổi nội dung đăng doanh nghiệp ngày
10/01/2023 của Công ty cổ phần H, Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp ngày
03/01/2023 của Công ty TNHH thép H và Điều lệ công ty; Giấy đề nghị đăng ký
doanh nghiệp ngày 16/01/2023, Điều lệ ng ty, Biên bản cuộc họp hội đồng
thành viên, Quyết định v/v thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp của Công ty
ngày 16/01/2023 của Công ty cổ phần thép H.
Tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn giữ nguyên quan điểm đã trình bày
tại Đơn yêu cầu về việc đòi trả nợ ngày 23/5/2024. Đại diện bị đơn, người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên quan điểm trình bày nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương có quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm
phán, Hội đồng xét xử Thư phiên tòa đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng.
Các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 117, 119, 357, khoản 2
Điều 328, 398, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 121 Luật Nhà ở; khoản
4 Điều 199 Luật Doanh nghiệp; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm
a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Ttụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công ty cổ phần thép H
nghĩa vụ trả Công ty TNHH Y Việt Nam số tiền đặt cọc theo Hợp đồng thuê căn
5
hộ số 450/2021/HDHX-YR ngày 22/12/2021 là 66.250.000 đồng. Về án phí:
Công ty cổ phần thép H phải chịu án phí dân sự thẩm theo quy định pháp
luật, hoàn trả Công ty TNHH Y Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe ý kiến trình bày
của đương sự, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục ttụng: Nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bị
đơn thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền đặt cọc theo Hợp đồng thuê căn hộ ngày
22/12/2021. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Ttụng dân sự, đây
vụ án “tranh chấp về hợp đồng thuê căn hộ thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án. B đơn có trụ sở tại số 360 Nguyễn Lương B, phường T1, thành phố H1,
tỉnh Hải Dương. Do vậy, ván thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải ơng theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Vyêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghTòa án buộc Công ty
cổ phần thép H nghĩa vụ hoàn trả số tiền đặt cọc 66.250.000 đồng cho Công
ty TNHH Y Việt Nam:
Tại Hợp đồng thuê căn hộ số 450/2021/HDHX-YR ngày 22/12/2021 thể
hiện: Bên cho thuê ng ty TNHH H (bên A) và bên thuê Công ty TNHH
Y Việt Nam (bên B). Nội dung hợp đồng, bên A và bên B thống nhất bên A cho
bên B thuê 05 căn hộ VIP 45m
2
tại tòa nhà 05 tầng của Công ty TNHH H để làm
việc sinh hoạt, thời gian thuê từ 01/01/2022 đến 31/12/2022. Điều 2 của Hợp
đồng thể hiện ngay sau khi ký hợp đồng, bên B đặt cọc cho bên A là 66.250.000
đồng, tiền đặt cọc này để đảm bảo cho hợp đồng, đến khi hết hợp đồng mọi
nghĩa vụ thanh toán giữa hai bên hoàn tất thì bên A sẽ trả lại cho bên B. Các bên
tham gia ký kết hợp đồng những người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH
H Công ty TNHH Y Việt Nam, đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, sự
thỏa thuận trong hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, nội dung thỏa thuận không vi
phạm điều cấm của luật không trái đạo đức hội; nội dung hình thức
phù hợp với quy định tại Điều 121 của Luật Nhà Điều 119, Điều 398 của
Bộ luật Dân sự nên có hiệu lực đối với các bên tham gia ký kết.
Tại Chứng từ giao dịch (liên 2: giao người mua) thể hiện vào ngày
30/12/2021, Công ty TNHH Y Việt Nam đã chuyển khoản số tiền 66.250.000
đồng vào số tài khoản 0341006877739 tại Ngân hàng Vietcombank Chi nhánh
Hải Dương, chủ tài khoản là Công ty TNHH H.
Ngày 31/12/2021, Công ty TNHH H chuyển đổi thành Công ty cổ phần H
theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đăng ký thay đổi lần thứ 18.
6
Xét Biên bản cuộc họp Đại hội cổ đông Công ty cổ phần H (V/v: tách
công ty) số 412/202/BB-ĐHĐCĐ ngày 31/12/2022 nội dung: Tách Công ty
cổ phần H ra một pháp nhân mới theo đó công ty bị tách Công ty cổ phần H
công ty được tách Công ty TNHH thép H; Tại mục 2.1.5 thể hiện công ty
được tách theo phương thức tách một phần tài sản của công ty hiện ra để
thành lập doanh nghiệp mới trong đó ghi nhận khoản giá trquỹ, cược
STT 4. Công ty TNHH Y Việt Nam - quỹ ngắn hạn (VNĐ) số tiền
66.250.000”; Tại mục 2.1.8 thể hiện các quyền và nghĩa vụ được chuyển từ
Công ty bị tách sang Công ty được tách như sau: Sau khi tách, Công ty được
tách quyền sở hữu tất ccác tài sản ghi tại mục 2.1.5 trên đây, được kế thừa
toàn bộ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp được phân chia về tài sản, công nợ,
các khoản nợ chưa thanh toán đã được tách ra khỏi Công ty cổ phần H. Sau khi
thực hiện tách doanh nghiệp, Công ty cổ phần H Công ty cổ phần TNHH
thép H đã được Sở Kế hoạch đầu tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp.
Tại các văn bản trình bày ý kiến, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án,
người đại diện của Công ty cổ phần thép H người đại diện của Công ty cổ
phần H đều xác định: Trong các Biên bản cuộc họp Đại hội cổ đông ngày
31/12/2022, Quyết định của Đại hội cổ đông Công ty cổ phần H ngày
31/12/2022, Biên bản bàn giao tài sản, nguồn vốn ngày 03/01/2023 đã thể hiện
rất rõ quyền và nghĩa vụ của từng pháp nhân khi tách công ty, trong đó có khoản
nợ ca thanh toán phải trcho Công ty Y số tiền đặt cọc 66.250.000 đồng.
Về ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày trong quá
trình tách công ty, Công ty cổ phần H n có những nghĩa vụ chưa thực hiện với
Công ty cổ phần thép H nên khoản công nợ đối với Công ty Y vẫn phải thuộc về
trách nhiệm, nghĩa vụ của Công ty cổ phần H. Xét thấy, các tranh chấp giữa
công ty với người quản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên
Hội đồng quản trị, giám đốc,….liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể,
sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình
thức tổ chức của công ty thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo
khoản 4 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, bị đơn
có quyền khởi kiện một vụ án độc lập.
Tại Biên bản cuộc họp hội đồng thành viên, Quyết định vviệc thay đổi
nội dung đăng doanh nghiệp của Công ty ngày 16/01/2023, Công ty TNHH
thép H đã chuyển đổi sang loại hình công ty cổ phần tên Công ty cổ phần
thép H, kế thừa toàn bộ các quyền, nghĩa vụ lợi ích hợp pháp, chịu trách
nhiệm về các khoản nợ gồm cả nợ thuế, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ khác
của công ty trước khi chuyển đổi. Đồng thời, Sở Kế hoạch đầu tỉnh Hải
7
Dương đã cấp Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp công ty cổ phần đối với
Công ty cổ phần thép H.
Xét thấy, việc phân tách quyền, nghĩa vụ thanh toán khoản tiền đặt cọc
cho Công ty Y thuộc về Công ty TNHH thép H nay Công ty cổ phần thép H
thể hiện tại Biên bản cuộc họp Đại hội cổ đông Công ty cổ phần H Quyết
định của đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần H ngày 31/12/2022 không có sự
tham gia thỏa thuận của Công ty Y. Tuy nhiên, tại Đơn yêu cầu về việc đòi trả
nợ ngày 23/5/2024 tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn xác định đến nay nhất t với việc phân tách nghĩa vụ thanh toán số tiền đặt
cọc thuộc về Công ty TNHH thép H nay là Công ty cổ phần thép H, đề nghị Tòa
án buộc Công ty cổ phần thép H nghĩa vtrả cho Công ty Y số tiền đặt cọc
66.250.000 đồng. Nvậy, sự thỏa thuận về nghĩa vụ thanh toán khoản tiền đặt
cọc cho Công ty Y tại Biên bản cuộc họp Đại hội cổ đông Công ty cổ phần H và
Quyết định của đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần H ngày 31/12/2022 đã
sự đồng thuận của Công ty Y. Do đó, xác định yêu cầu của Công ty Y đối với
Công ty cổ phần thép H phải thanh toán trả số tiền đặt cọc này căn cứ,
đúng quy định tại khoản 4 Điều 199 Luật Doanh nghiệp.
[2.2]. Về lãi: Người đại diện của nguyên đơn thay đổi yêu cầu không tính
lãi đối với số tiền đặt cọc 66.250.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem
xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Nguyên đơn được hoàn trlại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 117, 119, 357, khoản 2 Điều 328, 398, 357, 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015; Điều 121 Luật Nhà ở; khoản 4 Điều 199 Luật Doanh nghiệp;
khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147,
Điều 271, Điều 273 Bộ luật Ttụng dân sự; Luật phí lệ phí số 97/2015/QH
13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Y Việt Nam. Buộc
Công ty cổ phần thép H phải có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH Y Việt Nam
số tiền đặt cọc theo Hợp đồng thuê căn hộ số 450/2021/HDHX-YR ngày
22/12/2021 là 66.250.000đ (Sáu mươi sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
8
K t khi bn án hiu lực pp luật, người được thi hành án có đơn yêu cu
thi hành án mà người phải thi hành chưa thi hành thì phi trlãi đi vi s tiền chm
trả ơng ng vi thi gian chm tr. Lãi suất phát sinh do chm tr tin đưc xác
định theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bluật dân s năm 2015.
[2]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty cổ phần thép H phải chịu
3.312.500đ (Ba triệu ba trăm mười hai nghìn năm trăm đồng) án phí dân s
thẩm (chưa nộp). Hoàn trả lại ng ty TNHH Y Việt Nam (do ông Cao Hoàng
Long nộp) số tiền 1.806.000đ (Một triệu tám trăm linh sáu nghìn đồng) tạm ứng
án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002793 ngày 01/12/2023 tại Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Hải Dương.
[3]. Về quyền kháng cáo: Đương sự quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Dương;
- Chi cục THADS TP Hải Dương;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Diệu Linh
Tải về
Bản án số 33/2024/DS-ST Bản án số 33/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 33/2024/DS-ST Bản án số 33/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất