Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 31/2024/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Lộc Bình (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
Số hiệu: | 31/2024/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 28/06/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | 1. Về quan hệ hôn nhân |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28-6-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Phẩm
Bà Hoàng Thị Giang
-Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhưỡng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên toà: Ông Hoàng Chí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh
Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số:
67/2024/TLST - HNGĐ, ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
27/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa
số 17/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị H, địa chỉ: Thôn H, xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn,
vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phan Văn T, địa chỉ: Thôn H, xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn;
có mặt.
- Người làm chứng: Ông Ngô Văn H, sinh năm 1965, có đơn xin xét xử
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 14/5/2024, các lời khai sau đó, nguyên
đơn chị Ngô Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T có thời gian tìm hiểu, hai
bên tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện L ngày 29 tháng 8 năm 2016. Sau
kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên
nhân những năm gần đây vợ chồng chị thường xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, luôn bất đồng
2
quan điểm không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng chị sống cùng gia đình nhà chồng, chị
và mẹ chồng không tìm được tiếng nói chung luôn xảy mâu thuẫn cãi nhau, từ năm 2022 chị
đã về bên ngoại sinh sống ở nhà bố đẻ tại thôn G, xã T, huyện L, từ khi chị về ở với bố mẹ
đẻ chị và anh Phan Văn T không quan tâm, không hỏi thăm gì nhau khác người khác sống
cuộc sống riêng và ly thân từ đó, chị xác định không thể chung sống với nhau được nữa. Chị
yêu cầu Tòa án giải quyết chị được ly hôn với anh Phan Văn T.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 người con chung là Phan Thị Kiều T, sinh ngày
05/01/2017 và Phan Minh T, sinh ngày 25/5/2019, khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phan Thị Kiều T đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi, anh
Phan Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phan Minh T đến khi trưởng
thành đủ 18 tuổi, chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T không cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện
nay chị ở nhà bố đẻ có công việc làm ổn định đi khai thác nhựa thông và làm phiên dịch trên
mạng xã hội, lương tháng bình quân khoảng 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng vẫn
đảm bảo cho con phát triển đầy đủ, toàn diện đến khi con đủ 18 tuổi.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa bị đơn anh Phan Văn T
trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Ngô Thị H trước khi kết hôn có thời gian tìm
hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn ngày 29
tháng 8 năm 2016, sau kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian vài năm
gần đây anh và chị Ngô Thị H luôn bất đồng quan điểm thường xuyên mâu thuẫn cãi
nhau, vợ chồng anh không tìm được tiếng nói chung, chị Ngô Thị H đã về nhà bố đẻ
trú tại thôn G, xã T, huyện L ở, vợ chồng anh sống ly thân từ đó không ai quan tâm
hỏi thăm nhau. Anh xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa, chị Ngô
Thị H yêu cầu ly hôn anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Ngô Thị H có hai người con chung, khi ly hôn anh
yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai người con chung là Phan Thị Kiều T,
sinh ngày 05/01/2017 và Phan Minh T, sinh ngày 25/5/2019 đến khi con đủ 18 tuổi, không
yêu cầu chị Ngô Thị H cấp dưỡng nuôi con vì anh đủ khả năng nuôi hai con đến khi
trưởng thành đủ 18 tuổi. Hiện nay anh làm ruộng và làm thêm nghề cơ khí bình quân
thu nhập từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng/tháng anh có nhà ở ổn định có bố
mẹ anh hỗ trợ việc chăm sóc các con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai ngày 24/5/2024 cháu Phan Thị Kiều T, sinh ngày 05/01/2017
trình bày: Cháu biết bố mẹ cháu ly hôn không ở với nhau nữa, nếu bố mẹ ly hôn cháu
có nguyện vọng được ở cùng mẹ vì bố Phan Văn T không thương cháu và thường hay
đánh cháu bố thương em trai nhiều hơn.
Người làm chứng ông Ngô Văn H vắng mặt tại phiên toà, lời khai có trong hồ
sơ thể hiện: Ông là bố đẻ của chị Ngô Thị H, năm 2016 chị Ngô Thị H và anh Phan
Văn T đăng ký kết hôn do hai bên bên gia đình mai mối không có thời gian tìm
hiểu, sau kết hôn vợ chồng chị Ngô Thị H ở cùng gia đình chồng, vợ chồng chung
sống bình thường, vợ chồng chị Ngô Thị H phát sinh mâu thuẫn từ khi sinh người
3
con thứ hai, do khó khăn về kinh tế nên thường hay cãi nhau, mẹ chồng con dâu
không hòa hợp phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh Phan Văn T cũng không quan tâm,
chia sẻ cùng vợ nên vợ chồng mâu thuẫn cãi nhau thậm trí anh Phan Văn T còn
đánh chị Ngô Thị H, đã có lần anh Phan Văn T đánh chị Ngô Thị H bỏ về nhà
ngoại ở, ông cũng khuyên bảo chị Ngô Thị H đoàn tụ vợ chồng, khi đó chị Ngô
Thị H không có tiền trang trải chi tiêu lo cho con cái, ông thương phải hỗ trợ tiền
chi tiêu sinh hoạt cho chị H. Chị Ngô Thị H về bên ngoại ở cùng gia đình ông từ
năm 2022, cháu Phan Thị Kiều T nghỉ hè năm học vừa rồi về ở cùng mẹ và rất sợ
bố. Gia đình ông có đồi thông cho chị Ngô Thị H đi trích nhựa thông bán, làm
ruộng và trồng hoa màu cùng vợ chồng ông ngoài ra ông thấy chị Ngô Thị H còn
làm phiên dịch trên mạng xã hội thu nhập bình quân tháng của chị Ngô Thị H
khoảng 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Việc chị Ngô Thị H và anh Phan
Văn T ly hôn hay không là do vợ chồng quyết định, tuy nhiên ông thấy chị Ngô
Thị H sống cùng anh Phan Văn T cũng không hạnh phúc.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ
án, tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đúng
các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định
tại các Điều 70, Điều 71, 72 và Điều 78 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T kết hôn tự nguyện đăng
ký kết hôn theo quy định của pháp luật, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu
thuẫn, chị Ngô Thị H về nhà bố đẻ ở từ năm 2022 vợ chồng ly thân từ đó không ai quan
tâm nhau. Tại biên bản hòa giải ngày 06/6/2024 chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T
đồng ý ly hôn. Căn cứ Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị
công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T. Về con
chung chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T có 02 người con chung: Cháu Phan Thị
Kiều T, sinh ngày 19/01/2017 và cháu Phan Minh T, sinh ngày 25/5/2019, tại bản
khai và biên bản hòa giải cháu Phan Thị Kiều T có nguyện vọng ở cùng chị Ngô
Thị H. Tại phiên tòa hôm nay anh Phan Văn T đồng ý chị Ngô Thị H chăm sóc
nuôi dưỡng, giáo dục con Phan Thị Kiều T, sinh ngày 19/01/2017, anh chăm sóc
nuôi dưỡng, giáo dục con Phan Minh T, sinh ngày 25/5/2019, không bên nào phải
cấp dưỡng nuôi con, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định. Chị Ngô Thị H
và anh Phan Văn T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét.
Về án phí: Chị Ngô Thị H, anh Phan Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo
quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Ngô Thị H, ông Ngô Văn H có đơn
xin xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228, 229 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Ngô Thị H, ông
Ngô Văn H theo quy định của pháp luật.
4
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu
cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị
đơn cùng cư trú tại xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều
39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lộc
Bình, tỉnh Lạng Sơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T kết hôn trên cơ sở
tự nguyện, có thời gian tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện
L, tỉnh Lạng Sơn ngày 29 tháng 8 năm 2016. Như vậy, quan hệ hôn nhân của chị Ngô
Thị H và anh Phan Văn T là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu
thuẫn do bất đồng quan điểm, không hòa hợp, mẹ chồng con dâu không tìm được
tiếng nói chung thường xảy ra mâu thuẫn. Từ năm 2022 chị Ngô Thị H đã về nhà bố
đẻ trú tại thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn ở và ly thân từ đó đến nay, từ khi về
nhà bố đẻ vợ chồng chị không quan tâm, không hỏi thăm nhau. Tại biên bản hòa giải
ngày 06/6/2024 chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T đã thuận tình ly hôn. Tại phiên
tòa anh Phan Văn T khẳng định không còn tình cảm vợ chồng anh đồng ý ly hôn
với chị Ngô Thị H. Căn cứ Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, công
nhận thuận tình ly hôn của chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T.
[4] Về con chung: Chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T có 02 con chung là cháu
Phan Thị Kiều T, sinh ngày 19/01/2017 và cháu Phan Minh T, sinh ngày 25/5/2019,
cháu Phan Thị Kiều T hiện đang sồng cùng mẹ, cháu Phan Minh T hiện đang sống cùng
bố. Khi ly hôn chị Ngô Thị H yêu cầu được nuôi con Phan Thị Kiều T đến khi con đủ
18 tuổi, tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai cháu Phan Thị Kiều T có nguyện vọng
ở cùng mẹ. Biên bản hòa giải ngày 06/6/2024 chị Ngô Thị H yêu cầu được nuôi con
Phan Thị Kiều T nhưng anh Phan Văn T không đồng ý, anh yêu cầu được nuôi hai
người con. Tại phiên tòa anh Phan Văn T đồng ý giao người con Phan Thị Kiều T
cho chị Ngô Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Phan Văn T chăm sóc nuôi
dưỡng người con Phan Minh T. Việc anh Phan Văn T đồng ý cho chị Ngô Thị H trực
tiếp nuôi con Phan Thị Kiều T là tự nguyện và cũng theo nguyện vọng của cháu Phan
Thị Kiều T và phù hợp với quy định của pháp luật Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị Ngô
Thị H và anh Phan Văn T có quyền đi lại thăm non con chung không được phép ngăn
cảm. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T xác
định trong thời gian chung sống không có tài sản chung, không nợ ai nên Hội đồng
xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T phải chịu án
phí ly hôn sơ thẩm, tuy nhiên chị Ngô Thị H tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn
theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
Căn cứ các Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản
1 Điều 228, khoản 2 Điều 229, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá
14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị
H và anh Phan Văn T (Giấy chứng nhận kết hôn số 33, đăng ký ngày 28/9/2016 tại
Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn).
2. Về trông non, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi ly hôn
Chị Ngô Thị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Phan
Thị Kiều T, sinh ngày 19/01/2017 đến khi con đủ 18 tuổi.
Anh Phan Văn T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Phan
Minh T, sinh ngày 25/5/2019 đến khi con đủ 18 tuổi.
Chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai
được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T không
ai phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về án phí: Chị Ngô Thị H và anh Phan Văn T mỗi người phải chịu 75.000
đồng (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chị Ngô Thị H tự nguyện nộp
toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 150.000 đồng để nộp sung ngân sách Nhà nước.
Xác định chị Ngô Thị H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án
phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002292 ngày 21 tháng 3 năm
2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn được khấu trừ vào số tiền
đã nộp, hoàn trả lại cho cho Ngô Thị H số tiền còn lại 150.000 đống (một trăm năm
mươi nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án
được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
- CCTHADS huyện L, tỉnh Lạng Sơn;
- UBND xã X, huyện L, t.Lạng Sơn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(đã ký)
Hoàng Thị Ngọc
6
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm