Bản án số 29/2025/DS-PT ngày 15/01/2025 của TAND cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 29/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 29/2025/DS-PT ngày 15/01/2025 của TAND cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Hà Nội
Số hiệu: 29/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/01/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa Nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
Bản án số: 29/2025/DS-PT
Ngày: 15/01/2025
“Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu
huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Vũ Thị Thu Hà;
Ông Bùi Xuân Trọng;
Ông Phạm Đình Khánh.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong, Thư ký viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên
tòa: Ông Bùi Minh Nghĩa, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại
Nội mở phiên tòa công khai xét xử vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số
433/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 vviệc Tranh chấp về thừa kế
tài sản và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, do kháng cáo
của nguyên đơn bị đơn đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 23/2024/DS-ST
ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14304/2024/QĐ-PT ngày 26
tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Đoàn N, sinh năm 1952; địa chỉ: P, nhà M, số I
đường N, phường L, quận Đ, Hà Nội;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn
Hùng C - Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư T12.
* Bị đơn: Ông Đoàn Văn X, sinh năm 1946; địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện
N, tỉnh Nam Định;
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Đoàn Thanh T, sinh năm 1977 và
chị Trần Thị Thanh H, sinh năm 1977; Cùng địa chỉ: Số nhà B, ngách E, ngõ E
đường L, phường L, quận H, Hà Nội.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đoàn Ngọc T1, sinh năm 1952; địa chỉ: Đ, N, huyện N, tỉnh
2
Nam Định;
2. Ông Đoàn Văn T2, sinh năm 1953; địa ch: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh
Nam Định;
3. Ông Đoàn Văn S, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn D, S, huyện C, tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu;
4. Ông Đoàn Văn D, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện N, tỉnh
Nam Định;
5. Ông Đoàn Văn C1, sinh năm 1965; địa ch: Đ, xóm T, huyện N, tỉnh
Nam Định;
6. Ông Đoàn Văn T3, sinh năm 1969; địa ch: Khu H, xã N, huyện N, tỉnh
Nam Định;
7. Ông Đoàn Văn G, sinh năm 1971 và Đoàn Thị D1, sinh năm 1957;
Cùng địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
8. Đoàn Thị N1, sinh năm 1949; địa chỉ: Đ, N, huyện N, tỉnh Nam
Định;
9. Bà Đoàn Thị N2, sinh năm 1962; địa ch Thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam
Định;
10. Anh Đoàn Văn Q, sinh năm 1976; địa ch: Xóm T, N, huyện N,
tỉnh Nam Định;
11. Anh Đoàn Việt H1, sinh năm 1997; địa chỉ: Xóm N, N, huyện N,
tỉnh Nam Định;
12. Đoàn Thị N3; sinh năm 1949 chị Đoàn Thị N4, sinh năm 1983;
Cùng địa chỉ: Số nhà G, tổ C, đường H, khu phố C, phường H, quận A, thành
phố Hồ Chí Minh;
13. Ch Đoàn Thị N5, sinh năm 1974 bà Trần Thị L, sinh năm 1947;
Cùng địa ch: Xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định;
Người đại diện theo ủy quyền của L: Anh Đoàn Thanh T chị Trần
Thị Thanh H.
14. Ch Đoàn Thị T4, sinh năm 1971; địa ch: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh
Nam Định;
15. Ch Đoàn Thị T5, sinh năm 1975; địa chỉ: Làng N, M, T, thành phố
Hà Nội;
16. Anh Đoàn Yên B sinh năm 1979; địa ch: Căn hộ F, Tòa nhà H L,
phường H, quận H, thành phố Hà Nội;
17. Anh Đoàn Thanh T, sinh năm 1977; địa ch: Số nhà B, ngách E ngõ E
đường L, phường L, quận H, Hà Nội;
3
18. Ủy ban nhân dân huyện N, tnh Nam Định.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1, ông S, ông D, ông C1, ông T3,
ông G, G, D1, N1, N2, anh Q, anh H1, chị N4: Ông Đoàn Văn T2,
sinh năm 1953; địa chỉ: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên a, luật Nguyễn Hùng C, anh Đoàn Thanh T, chị Trần Thị
Thanh H, chị Đoàn Thị T4, chị Đoàn Thị T5 và anh Đoàn Yên B có mặt còn các
đương sự khác đều vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên
đơn là ông Đoàn N trình bày:
Bố ông cụ Đoàn Văn R chết ngày 24/8/2001, bố ông hai vợ gồm
mẹ ông cụ Lại Thị N6 chết ngày 02/01/1989 cụ Trần Thị C2 chết ngày
31/01/2006 đều không để lại di chúc. Cụ N6 sinh được 03 người con gồm: Ông
Đoàn Văn X, ông Đoàn Văn C3 chết năm 1996 ông N. Cụ C2 sinh được 11
người con gồm: Ông Đoàn Ngọc T1, ông Đoàn Văn T2, ông Đoàn Văn S, ông
Đoàn Văn D, ông Đoàn Văn C1, ông Đoàn Văn H2 (ông H2 chết năm 2000),
ông Đoàn Văn T3, ông Đoàn Văn G, Đoàn Thị N1, Đoàn Thị D1
Đoàn Thị N2.
Trong thời kỳ cải cách ruộng đất, đại gia đình ông được chính quyền cách
mạng chia thêm cho một mảnh đất xóm N, N, huyện N, tỉnh Nam Định
theo bản đồ đo đạc năm 1982, lập bản đồ năm 1986 thuộc tờ số 02 thửa 552
diện tích 860m²
(nay thuộc thửa số 84, tờ bản đồ số 04 lập năm 2005 có diện tích
859m²) cách mảnh đất của bông khoảng 200m. Mẹ đẻ của ông cùng ba
anh em ông ông X, ông C3 ông N được bố đồng ý cho trên mảnh đất
được chia thêm, còn hai các con bà hai mảnh đất cũ. Tuy m ăn, nhà
riêng nhưng mọi hoạt động lớn nhỏ của gia đình ông đều chung không thay
đổi. Khi trưởng thành ông X ông C3 lấy vợ nhưng vẫn chung với bố mẹ
ông, còn ông đi học tập Liên tới cuối năm 1975 mới vViệt Nam. Năm
1976, bố mẹ anh em ông đã bàn bạc thống nhất: ông đi nước ngoài về
kinh tế nên ông chấp nhận lo toàn bộ kinh phí để gia đình làm một ngôi nhà mới
cung cấp kinh phí tìm đất để xây nhà cho ông C3 riêng tại xóm T, N,
huyện N, tỉnh Nam Định. Ông công tác xa nhưng vẫn thường xuyên đi về
mỗi lần về đều cùng với mvợ chồng ông X tại ngôi nhà trên. Từ khi cụ
N6 chết năm 1989 đến nay, ông X tạm thời quản toàn bộ ngôi nhà mảnh
đất nêu trên.
Khi bắt đầu quá trình làm thủ tục cấp sổ đỏ cho người sử dụng đất thì
năm 1984 ông X viết đơn xin cấp sổ đỏ cho toàn bộ mảnh đất này đứng đơn
Đoàn Thị X1 nhưng không có ý kiến của bố mẹ ông (lúc này bố mẹ ông vẫn còn
sống) anh chị em trong gia đình. Năm 2005, theo yêu cầu của chính quyền
địa phương ông X1 viết bổ sung thêm một đơn xin cấp sổ đỏ chữ của
4
ông X1, sau đó UBND huyện N cấp GCNQSD đất mang số AO 781214 ngày
20/10/2009 cho riêng vợ chồng ông X1.
Đến nay bố mẹ ông đều đã chết, ông cho rằng mảnh đất này do bố mẹ ông
để lại, ông X1 không bất k giấy tờ nào chứng minh quyền của riêng mình
đối với toàn bộ mảnh đất. Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản của bố
mẹ để lại bao gồm đất và tài sản gắn liền với đất, yêu cầu ông X1 trả lại cho ông
kỷ phần thừa kế trong di sản thừa kế bố mẹ ông để lại. Đồng thời yêu cầu Tòa án
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 781214 đã cấp cho hộ ông Đoàn
Văn X và bà Trần Thị L ngày 20/10/2009.
Tại phiên hoà giải ngày 15/6/2023, ông N trình bày ông vẫn giữ nguyên
yêu cầu khởi kiện, đề nghTòa án hủy GCNQSD đất do UBND huyện N cấp
cho vợ chồng ông X ngày 20/10/2009 và chia di sản thừa kế của cụ Đoàn Văn R
cụ Lại Thị N6. Đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của cụ Đoàn Văn R cụ
Lại Thị N6 cho ông hưởng hiện vật theo như Bản án phúc thẩm số 79/2020/DS-
PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Nội đã tuyên cho ông
được hưởng 283,5m². Nếu ông X đồng ý hòa giải thì không đề nghị Tòa án chia
nhà trên đất. Nếu ông X không đồng ý hòa giải thì đề nghị Tòa án chia di sản
một căn nhà cấp 4 ba gian trên đất.
* Tại bản tự khai quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Đoàn Văn
X trình bày:
Bố ông cụ Đoàn Văn R (chết ngày 24/8/2001), bông hai vợ
gồm mẹ ông cụ Lại Thị N6 (chết ngày 02/01/1989) cụ Trần Thị C2 (chết
ngày 31/01/2006). Cụ N6 sinh được 03 người con gồm: Ông X, ông Đoàn Văn
C3 (chết năm 1996) và ông Đoàn Năng .
Nhà và đất ông đang sử dụng do gia đình ông tạo lập đã sử dụng từ
năm 1969 cho đến nay. Bản thân ông gia đình đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
thuế đối với nhà nước. Ngày 21/8/1984, thực hiện Quyết định 201-CP ngày
01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng
cường công tác quản ruộng đất trong cả nước, vợ ông Trần Thị L đã
thay mặt hgia đình ông đứng lên làm đơn đăng quyền sử dụng đất theo
đúng quy định của pháp luật.
Việc đăng quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông được thực hiện năm
1984, khi đó bố mẹ ông vẫn còn sống bố mẹ ông không ý kiến đối với
việc này cho đến khi chết. Thực tế lúc gia đình ông khai đăng quyền sử
dụng đất, bố ông không ở cùng với mẹ con ông và cũng không đăng ký quyền sử
dụng đất đối với mảnh đất ông đang sử dụng, mà bố ông đăng ký quyển sử dụng
đất của mình cùng với hộ của mkế ông cụ Trần Thị C2 (cách mảnh đất ông
đang sử dụng khoảng 200-300m). m 2006 sau quá trình xác minh kiểm tra
việc thực tế quản lý, sử dụng đất tại địa phương, hộ gia đình ông đã được UBND
huyện N ra Quyết định số 860/QĐ-UBND ngày 22/11/2006 về việc cấp
5
GCNQSD đất khu dân (số thứ tự 114 trong danh sách kèm theo Quyết định)
gia đình ông đã được UBND huyện N cấp GCNQSD đất số AO781214 ngày
20/10/2009 theo tờ bản đồ s04 tại thửa 84 với tổng diện tích sử dụng 859m²,
trong đó có đất ONT là 383m² và đất LNK là 476m².
Nay ông N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với mảnh đất ông
đang sử dụng, ông không nhất trí. Ông đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông N đối với mảnh đất của gia đình ông đang quản sử
dụng đã được quan nhà nước thẩm quyền công nhận như ông đã trình
bày.
Trong quá trình tố tụng tại Tòa án anh Đoàn Thanh T người đại diện
theo ủy quyền của ông X người quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ
án trình bày: Giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong c bản tự khai của
ông Đoàn Văn X và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên hoà giải ngày 15/6/2023, anh Đoàn Văn T6, chị Trần Thị Thanh
H, anh Đoàn Yên B, chĐoàn Thị T4 đều trình bày: Nếu ông N đề nghị Tòa án
chia di sản thừa kế của cụ R cụ N6 cho ông N như Bản án phúc thẩm số
79/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Nội cho
ông N hưởng 283,5m² thì ông X không đồng ý, không nhất trí hòa giải. Ông X
giữ nguyên ý kiến trình bày tại giai đoạn tố tụng trước đây đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại bản tự khai qtrình tố tụng tại Tòa án, ông Đoàn Văn T2
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan người đại diện theo ủy quyền của
ông Đoàn Ngọc T1, ông Đoàn Văn S, ông Đoàn Văn D, ông Đoàn Văn C1, ông
Đoàn Văn T3, ông Đoàn Văn G, bà Đoàn Thị D1, bà Đoàn Thị N1, Đoàn Thị
N2, anh Đoàn Văn Q, anh Đoàn Việt H1 chị Đoàn Thị N4 trình bày: Nội
dung như nguyên đơn đã trình bày đúng. Ông nhất trí với yêu cầu khởi kiện
của ông N yêu cầu Tòa án chia di sản của bố mđlại hủy GCNQSD đất
mang số AO781214 đã cấp cho ông Đoàn Văn X ngày 20/10/2009. Nếu ông
anh em ông được hưởng kỷ phần thừa kế theo quyết định của Tòa án thì ông
anh em ông nhất trí tặng toàn bộ kỷ phần thừa kế của mình được hưởng cho ông
Đoàn Năng .
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện N trình bày: Về hồ
địa chính thì tại tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính lập năm 1986 thể hiện thửa
đất số 552 diện tích 860m² gồm đất 360m², đất vườn 110m², đất ao 390m² ghi
chủ sử dụng đất ông X. Tại tờ bản đồ số 4 bản đồ địa chính lập năm 2005 thể
hiện thửa đất số 84 diện tích 859m² gồm đất 383m², đất vườn 476m² ghi chủ
sử dụng đất ông X. Về thủ tục cấp GCNQSD đất đơn đăng quyền sử
dụng đất, hồ k thuật thửa đất danh sách các hộ gia đình, nhân đủ điều
kiện cấp GCNQSD đất. UBND huyện N đã ban hành Quyết định số 860/QĐ-
UBND ngày 22/11/2006 vviệc cấp GCNQSD đất cho 588 hộ, trong đó hộ
ông Đoàn Văn X. Ông Đoàn Văn X đã có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa
6
chính trước ngày 15/10/1993. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật
Đất đai năm 2013, hồ xin cấp GCNQSD đất dân của hộ ông Đoàn n X
hợp lệ. Việc cấp GCNQSD đất dân cho hộ ông Đoàn Văn X đúng theo
quy định của pháp luật.
* Trong quá trình tố tụng tại Tòa án, những người làm chứng gồm ông
Trần Văn B1, ông Nguyễn Phú T7, ông Hoàng Văn K, ông Ngô Gia T8, ông
Đinh n , ông Đoàn n T9, ông Đoàn Duy Đ, ông Trần Hùng V, ông Trần
Đức T10, ông Ngô Gia H3, ông Trần Văn B1 đều trình bày: Các ông đều không
có quan hệ gia đình và mâu thuẫn gì với ông N và ông X. Các ông đều sinh ra và
lớn lên tại N, huyện N, tỉnh Nam Định. Về nguồn gốc thửa đất ông X
đang ở hiện nay thì do vợ chồng cụ R được cấp vì gia đình đông con và cụ R
hai vợ. Sau đó cụ N6, ông X, ông C3 ông N ở trên mảnh đất đó. Sau khi ông
C3 và ông N lấy vợ đi chỗ khác ở, cụ N6 đã mất nên thửa đất đó do ông X
quản lý và sử dụng. Việc tách hộ khẩu, hộ tịch của cụ N6 và đứng ra kê khai cấp
GCNQSD đất đang tranh chấp cho hộ ông X thì các ông đều không biết.
* Ông Nguyễn Phú T7 nguyên chủ nhiệm HTX nông nghiệp N (giai
đoạn 1981 - 1990) cho biết: Thời điểm trên N định mức mỗi hộ được cấp
200m² đất thổ cư, việc quy đổi đất vườn, ao ra đất hai lúa đưa đất phần trăm
của cụ N6 ra đồng, đưa đất hai lúa của gia đình ông X đối trừ vào đất thổ canh
của hộ ông X do cán bộ địa chính và xã làm nên ông không được biết.
* Tại biên bản làm việc ngày 06/6/2023 và biên bản hội nghị ngày
11/7/2023 của Ủy ban nhân dân xã N cung cấp: Theo Quyết định 115 năm 1992
của UBND tỉnh H, tại sổ phương án giao ruộng năm 1994 của N, thời kỳ đó
hộ ông X 5 khẩu được chia ruộng, mỗi khẩu được chia 1,5 sào do hợp tác
xã giao khoán, tổng diện tích đất ruộng hộ ông X được giao là 7,5 sào + 1,25 sào
đất phần trăm của cả hộ ông X của cụ N6, riêng cụ N6 được giao 144m² đất
phần trăm. Tổng hộ ông X được giao khoán 8,75 sào. Năm 1994 thực hiện
Quyết định 115 khi đó mỗi hộ nông thôn xin cấp thổ mới vị trí trong xóm
được công nhận hạn mức 200m² đất ở, còn những hộ nông thôn xin cấp mới ở vị
trí mặt đường tỉnh lộ được công nhận hạn mức 100m² đất ở. Quy định về 200m²
được lấy làm mốc để cân đối đất ruộng sản xuất, chứ không phải công nhận mỗi
hộ nông thôn chỉ được 200m² đất ở, mặt đường thì chỉ 100m² đất ở. Khi hộ
ông X thực hiện cân đối theo Quyết định 115 thì theo bản đồ năm 1986, tbản
đồ số 2, thửa 552 tổng diện tích thửa đất tranh chấp là 860m² trong đó đất
360m², đất vườn 110m², đất ao 390m². Khi đó hộ ông X bcân đối hết đất ao
theo tỷ lệ 3 ao = 1 ruộng nên 390m² đất ao = 130m² đất lúa. Hộ ông X được
công nhận 200m² đất theo hạn mức Nhà nước giao thời kỳ đó nên 360m²
200m²
= 160m² đất còn lại + 110m² đất vườn = 270m² bị cân đối theo tỷ lệ 02
vườn = 01 lúa nên 270m²
đất vườn = 135m² đất lúa. Tổng diện tích đất ao và đất
vườn hộ ông X bị cân đối 265m²
đất lúa tương đương 0,73 sào ruộng. Khi
thực hiện Quyết định 115 cụ N6 đã chết nên không được chia ruộng. Tại bản đồ
7
lập năm 2005 thể hiện tờ bản đồ số 04, thửa số 84 diện tích 859m² gồm 383m²
đất ở, 476m² đất vườn, khi lập bản đồ năm 2005, đoàn đo đạc của Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh N đã đo đạc theo hiện trạng thực tế các công trình xây dựng
gồm nhà ở, bếp, công trình phụ, sân các hộ đang sử dụng, khi đó hộ ông X
đã san lấp ao ợt lập thành vườn nên đã thể hiện trên bản đồ diện tích đất
383m², diện tích đất vườn là 476m². Do đó số liệu giữa bản đồ năm 1986 và bản
đồ năm 2005 có sự biến động, chênh lệch về đất thổ cư.
* Quá trình tiến hành thẩm định tại chỗ: Ngày 18/4/2018 ngày
11/6/2019, Tòa án tiến hành thẩm định tại chỗ đã xác định được mốc giới, số đo
các cạnh của thửa đất các đương sự đều nhất trí thửa đất chia thừa kế không
tranh chấp với các hộ liền kề. Tổng diện tích 849,2m² tại thửa đất số 84 tờ bản
đồ số 04 lập năm 2005 với các cạnh của thửa đất cụ thể: Phía Bắc giáp ngõ vào
nhà H4, chiều dài 25,13m; Phía Đông giáp đường dong xóm, chiều
dài 34,43m; Phía Tây giáp nhà ông T8, chiều dài 32,10m; Phía Nam
giáp đường trục xã, có chiều dài là 25,29m.
* Theo biên bản định giá của Hội đồng định giá tài sản ngày 18/4/2018 thì
các bên đương sự thống nhất giá trị đất (không phân biệt đất đất vườn, đã
tính san lấp) là 3.318.000đ/m², tổng giá trị quyền sử dụng đất là 2.797.074.000đ.
Các tài sản trên đất gồm: Nhà tắm, nhà vệ sinh xây gạch, mái bằng có ốp lát, cửa
gỗ nhóm 4 cao 2,5m giá trị 32.133.840đ; Nhà xây tường gạch bi, tường
quét vôi, mái ngói, cửa gỗ nhóm 5 nền lát gạch men, hiên bê tông cốt thép giá trị
118.522.883đ; Tum lồi xây bi, mái san gạch, nền lát gạch men giá trị
17.150.144đ; Bếp xây bi mái ngói, nền đất giá trị 28.311.940đ. Sân tông giá
trị 12.448.056đ; Bể nước trên mái xây gạch, lắp tông giá trị 3.374.280đ; T11
rào xây gạch bi giá trị 7.552.272đ; Tường rào xen hoa tông giá trị
7.139.412đ; Cổng sắt giá trị 992.640đ. Hai trụ cổng xây bi giá trị 1.152.720đ;
Nhà bán quán xây gạch bi, nền xi măng giá trị 21.931.734đ. Tổng giá trị tài sản
trên đất là 250.709.921đ.
* Tại Bản án dân sự thẩm lần 1 số 07/2019/DS-ST ngày 07 tháng 8
năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định quyết định chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn N về việc yêu cầu Chia thừa kế hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện N đã cấp cho hộ ông Đoàn Văn
X Trần Thị L” đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 4, diện tích 859m² tại
xóm N, N, huyện N, tỉnh Nam Định. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về
việc chia di sản thừa kế là ngôi nhà ngói 3 gian của ông Đoàn Năng .
* Tại Bản án dân sự phúc thẩm lần 1 số 79/2020/DS-PT ngày 10/6/2020
của Tòa án nhân dân nhân dân cấp cao tại Nội đã không chấp nhận kháng
cáo của ông Đoàn N và kháng cáo của ông Đoàn Văn X. Giữ nguyên Bản án dân
sự thẩm số 07/2019/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân
tỉnh Nam Định.
8
* Tại Bản án giám đốc thẩm số 46/2022/DS-GĐT ngày 28/9/2022 của
Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số
35/2022/KN-DS ngày 20/7/2022 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao. Hủy
Bản án dân sự phúc thẩm s79/2020/DSPT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân
dân cấp cao tại Nội và Bản án dân s thẩm số 07/2019/DS-ST ngày
07/8/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
Tại Bản án dân sự thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 19/8/2023 của Tòa
án nhân dân tỉnh Nam Định đã quyết định:
Căn cứ các Điều 459, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 649,
Điều 650, Điều 651, Điều 652, Điều 660, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 105, 106 Luật Đất đai năm 2003; Điều 100, khoản 5, 7 Điều 166; khoản 1
Điều 167, khoản 1 Điều 169, khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; khoản 5
Điều 26, Điều 34, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Quyết định
115/QĐ-UB ngày 15 tháng 02 năm 1992 của UBND tỉnh H; điểm đ khoản 1
Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử:
1. Tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông
Đoàn Văn XTrần Thị L số AO 781214 ngày 20/10/2009 của Ủy ban nhân
dân huyện N.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của ông
Đoàn N yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Lại Thị N6 để lại là hợp pháp.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chia di sản thừa kế
lả ngôi nhà ngói 3 gian của ông Đoàn Năng .
4. Về chia di sản thừa kế:
4.1. Chia cho ông Đoàn N được quyền quản lý, sdụng diện tích 100m²
đất ở tại thửa đất số 84, tờ bản đồ số 4 tại xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định
tứ cận như sau: Nam: Giáp đường trục xã dài 5m; Tây: Giáp thửa đất ông T8
dài 20m; Bắc: Giáp đất chia cho ông Đoàn Văn X dài 5m; Đông: Giáp đất chia
cho ông Đoàn Văn X dài 20m.
4.2. Chia cho ông Đoàn Văn X được quyền quản lý, sử dụng diện tích
100m² đất tại thửa đất số 84 tờ bản đồ số 4 tại xóm N, N, huyện N, tỉnh
Nam Định. Vợ chồng ông X và bà Trần Thị L được quyền quản lý, sử dụng diện
tích 659m² đất + đất cây lâu năm tại thửa đất số 84, tờ bản đồ số 4 tại xóm N,
N, huyện N, tỉnh Nam Định. Tổng diện tích 759m². Có tứ cận như sau: Nam:
Giáp đường trục của xã dài 20,29m + giáp phần đất chia cho ông N dài 5m; Tây:
Giáp phần đất chia cho ông N dài 20m + giáp thửa đất của ông T8 dài 12,10m;
Bắc: Giáp thửa đất bà H4 dài 25,13m; Đông: Giáp đường liên thôn dài 34,7m.
9
(Kèm theo bản án nàysơ đồ phân chia đất tại tờ bản đồ số 4, thửa số 84
xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định)
5. Nghĩa vụ bàn giao: Buộc vợ chồng ông Đoàn Văn X Trần ThL
người đang quản lý, sử dụng diện tích 859m² đất + đất cây lâu năm phải
trách nhiệm bàn giao cho ông Đoàn N diện tích 100m² đất tại thửa đất số 84,
tờ số 4 xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
6. Vợ chồng ông Đoàn Văn X, Trần Thị L và ông Đoàn N trách
nhiệm liên hvới quan nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về án phí thông báo
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Đoàn N, chị Trần Thị Thanh H
người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đoàn Văn X cùng đơn kháng
cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vắng mặt đơn xin hoãn phiên
tòa; bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng
xét xử tạm đình chỉ vụ án hoặc hoãn phiên tòa để đảm bảo quyền lợi cho ông N.
Nếu Tòa tiếp tục xét xử luật sư từ chối tham gia tố tụng và sau đó rời khỏi phòng
xử án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Nội sau khi phân tích tài
liệu, chứng cứ trong hồ vụ án ý kiến thể hiện: Tòa án cấp thẩm đã
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định hàng thừa kế chia di
sản thừa kế đúng theo quy định, đảm bảo được quyền lợi của các bên đương sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp
nhận kháng cáo của các đương sự và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào kết quả tranh tụng, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
tại Hà Nội, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ông Đoàn N khởi kiện “Tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định thụ vụ
án đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 5 Điều 26, Điều 34 Bộ luật Tố
tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn ông Đoàn N đơn xin hoãn
phiên tòa lần thứ ba do sức khỏe. t thấy đây phiên tòa mở lần thứ ba,
ông N đã được triệu hợp lệ nhưng đều đơn xin hoãn phiên tòa với do sức
khỏe. Đơn thuốc, ảnh chụp người đàn ông đang nằm trên giường ghi ngày
10
14/01/2025 không đủ căn cứ chứng minh đây sự kiện bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Ngoài ra người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện N, tỉnh Nam Định có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt; một số người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác đã được triệu tập
hợp lệ đến lần thhai nhưng vắng mặt không vì do bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan. Căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[1.3] Chị Trần Thị Thanh H người đại diện theo y quyền của ông
Đoàn Văn X theo văn bản ủy quyền ngày 03/11/2017, theo đó ông X ủy quyền
cho chị H và anh T6 đại diện tham gia tố tụng, được lập, ký vào các giấy tờ, văn
bản cần thiết từ các quan thẩm quyền; nộp nhận các khoản phí… Sau
khi xét xử sơ thẩm, ông X không có ủy quyền cho chị H đại diện kháng cáo. Tòa
án cấp thẩm nhận đơn kháng cáo làm các thủ tục kháng cáo đối với chị
Trần Thị Thanh H không đúng quy định tại Điều 271, khoản 6 Điều 272 B
luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên sau đó ông X cũng nhiều văn bản khiếu nại
bản án sơ thẩm, mặt khác đây là lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm nên Hội đồng xét xử
vẫn xem xét kháng cáo của ông X yêu cầu Tòa án cấp thẩm phải nghiêm
túc rút kinh nghiệm.
[2] Về nội dung:
Trong vụ án này về bản, các bên đương sự đều thừa nhận với đánh giá
và nhận định của bản án sơ thẩm về diện những người được hưởng thừa kế. Bản
án thẩm đã xem xét, phân tích chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Sau khi xét xử thẩm nguyên đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án
thẩm xác định thửa đất số 84, tờ bản đồ số 4 diện tích 859m²
tài sản gắn
liền với đất di sản thừa kế của vợ chồng cụ Đoàn Văn R, cụ Lại Thị N6 để lại
chia di sản thừa kế cho các đồng thừa kế; Bị đơn kháng cáo cho rằng Tòa án
cấp sơ thẩm nhận định thửa đất tranh chấp và các bất động sản trên đất có nguồn
gốc cụ N6 được chính quyền cấp di sản thừa kế của cụ N6, nhận định hiện
trạng sử dụng đất đã được san lấp toàn bộ đất ao để làm nhà ở, việc hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất giao đất cho ông N theo vị trí kích thước của
bản án thẩm làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của bđơn và những
người có quyền lợi liên quan.
[3] Xét kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Về nguồn gốc đất:
Nguyên đơn cho rằng nguồn gốc thửa đất số 552, tờ bản đồ số 02, diện
tích 860m² (nay thửa số 84 tờ bản đồ số 4 diện tích 859m²) tọa lạc tại xóm N,
N, huyện N, tỉnh Nam Định do chính quyền cách mạng chia thêm cho gia
đình cụ R, cụ N6 nhà đông con. Được sự đồng ý của cụ R nên cụ N6 ba
người con là ông X, ông N, ông C3 ra ở riêng trên thửa đất này.
11
Bị đơn cho rằng cụ R hai đời vợ nên gia đình mâu thuẫn, cụ N6 ba
người con ông X, ông N, ông C3 phải đi nhờ gia đình con đến khoảng
năm 1956 - 1957 thì dựng một lều tre vách đất khoảng 20-30m² trên gò đất xung
quanh ruộng trũng bên vệ sông Hàng Tổng. Khi đào sông H thì mới tạo thành
khuôn thổ như hiện nay.
Tại Biên bản xác minh ngày 15/03/2018, Ủy ban nhân dân xã N cung cấp:
Từ trước năm 1982 Ủy ban nhân dân xã không biết về nguồn gốc thửa đất,
không có sổ sách, tài liệu lưu trữ về nguồn gốc thửa đất nêu trên. Đến năm 1982,
thửa đất đứng tên ông Đoàn Văn X. Một số người làm chứng ông Ngô Gia
T8, ông Trần Đức T10, ông Đoàn Văn T9, Đoàn Duy Đ trình bày về nguồn gốc
như trình bày của nguyên đơn; một số người làm chứng khác trình bày không
nắm về nguồn gốc thửa đất; các ông NGia H3, Trần n B1 trình bày về
nguồn gốc thửa đất như bị đơn. Tuy nhiên lời khai của các nhân chứng đều
điểm chung là thửa đất được hình thành từ khi cụ N6 và ba người con trai đến ở.
Bản án thẩm đã xem xét căn cứ xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng
đất, theo đó:
Cụ Đoàn Văn R cụ Lại Thị N6 sống chung nhưng không đăng
kết hôn. Sau đó tkhoảng năm 1956 - 1957, cụ R đã không chung sống với cụ
N6 sống như vợ chồng với cụ C2. Cụ N6 ba người con ông X, ông N,
ông C3 ra ở riêng và được chính quyền cách mạng chia cho một mảnh đất ở xóm
N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định theo bản đồ đo đạc năm 1982 lập bản đồ năm
1986 thuộc tờ số 02 thửa 552 có diện tích 860m²
(nay thuộc thửa số 84, tờ bản
đồ số 04 lập năm 2005 có diện tích 859m²) cách mảnh đất của cụ R khoảng
200m. Cụ N6ng ba con là ông X, ông C3 và ông N ở trên mảnh đất được chia
này từ những năm 1956 - 1957, còn cụ R, cụ C2 các con hai mảnh đất
khác. Sau khi ông C3 lấy vợ riêng, ông N đi thoát ly chỗ khác, năm 1989
cụ N6 chết cho đến nay, ông X người quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất nêu
trên.
Thời điểm cụ R chung sống với cụ C2 thì Luật Hôn nhân và Gia đình năm
1959 có hiệu lực, theo đó có quy định về chế độ hôn nhân một vợ, một chồng và
cấm người đang vợ chồng kết hôn với người khác. Luật Hôn nhân Gia
đình năm 1986 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc
hội chỉ công nhận hôn nhân thực tế giữa cụ R cụ C2 (vợ hai); quan hệ giữa cụ
R cụ N6 đã chấm dứt tkhi cụ R chung sống với cụ C2, không n chung
sống với cụ N6. Mặt khác tại đơn đăng ký ruộng đất ngày 21/8/1984 của bà Trần
Thị L (vợ ông X) khai phần nguồn gốc đất ghi “mẹ để lại”, cùng ngày
21/8/1984 cụ R cũng đăng khai thửa đất cụ R cụ C2 đang nhưng
không ý kiến, không đăng khai đối với thửa đất cụ N6 (hộ ông X
đăng ký). Từ thời điểm đăng ruộng đất năm 1984 đến khi cụ R chết năm
2001, cụ R không ý kiến, không thực hiện việc khai đăng quyền sử
dụng đất, không thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất với quan Nhà
nước có thẩm quyền, mặc nhiên xác định không có liên quan đến thửa đất cụ N6
đã quản lý, sử dụng. Như vậy, căn cứ xác định nguồn gốc thửa đất u tn
12
do cụ N6 tạo lập sau khi không còn ở với cR nên là tài sản riêng của cN6. Cụ
Lại Thị N6 chết ngày 02/01/1989 không để lại di chúc nên di sản của cụ N6
được chia theo quy định của pháp luật.
[3.2] Về xác định di sản thừa kế:
Theo báo cáo của UBND N tại biên bản làm việc với Toà án nhân dân
huyện Nghĩa Hưng ngày 15/03/2018, biên bản làm việc ngày 06/6/2023 của Toà
án nhân dân tỉnh Nam Định biên bản hội nghị ngày 11/7/2023 của Ủy ban
nhân dân N cung cấp: Thực hiện Quyết định 115 năm 1992 của UBND tỉnh
H, tại sổ phương án giao ruộng năm 1994 của N, thời kỳ đó hộ ông X 5
khẩu được chia ruộng, mỗi khẩu được chia 1,5 sào do hợp tác giao khoán,
tổng diện tích đất ruộng hộ ông X được giao là 7,5 sào + 1,25 sào đất phần trăm
của cả hộ ông X của cụ N6, riêng cụ N6 được giao 144m² đất phần trăm.
Tổng hộ ông X được giao khoán 8,75 sào. Năm 1994 thực hiện Quyết định 115
quy định về 200m² được lấy làm mốc để cân đối đất ruộng sản xuất. Khi hộ ông
X thực hiện cân đối theo Quyết định 115 thì theo bản đồ năm 1986, tờ bản đồ số
2, thửa 552 tổng diện tích thửa đất tranh chấp 860m² trong đó đất 360m²,
đất vườn 110m², đất ao 390m². Khi đó hộ ông X bị cân đối hết đất ao theo tỷ lệ 3
ao = 1 ruộng nên 390m² đất ao = 130m² đất lúa. Hộ ông X được công nhận
200m² đất theo hạn mức Nhà nước giao thời kỳ đó nên 360m² 200m²
=
160m² đất còn lại + 110m² đất vườn = 270m² bị cân đối theo tỷ lệ 02 vườn =
01 lúa nên 270m²
đất vườn = 135m² đất lúa. Tổng diện tích đất ở, đất ao đất
vườn hộ ông X bị cân đối 265m²
đất lúa tương đương 0,73 sào ruộng. Như
vậy, di sản để chia thừa kế của cụ N6 sau khi trừ đi diện tích đất đã đưa vào cân
đối để giao ruộng 660m² thực tế còn lại 199m² đất thổ chưa bị n đối,
tại thửa đất số 84, tờ bản đồ số 4, bản đồ địa chính lập năm 2005.
Hiện trạng thửa đất tranh chấp theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ
ngày 18/4/2018 ngày 11/6/2019 đã xác định được mốc giới, số đo các cạnh
của thửa đất và các đương sự đều nhất trí thửa đất chia thừa kế không tranh chấp
với các hộ liền kề với tổng diện tích 849,2m²
giảm gần 10m²
so với Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất cấp năm 2009, tuy nhiên các đương sự đều xác định
mốc giới không thay đổi, do đó cần xác định diện tích đo thực tế năm 2018,
2019 để xem xét khi giải quyết tranh chấp. Do hiện trạng sdụng đất đã được
san lấp toàn bộ đất ao, làm nhà các công trình khác từ lâu năm, để ổn định
sinh hoạt, Tòa án cấp thẩm giao cho ông N diện tích đất không công trình
xây dựng phù hợp. Tuy nhiên bản án thẩm đã căn cứ vào diện tích được
cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2009 là 859m²
để giao cho
các đương sự không phù hợp với hiện trạng theo kết quả xem xét thẩm định
tại chỗ. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần sửa phần này cho phù hợp.
[3.3] Về hàng thừa kế:
Cụ Đoàn Văn R cụ Lại Thị N6 ba người con chung ông Đoàn
Văn X, ông Đoàn Văn C3, ông Đoàn N, cụ N6 không có con nuôi. Như đã phân
tích tiểu mục [3.1] quan hệ giữa cụ R cụ N6 không được công nhận vợ
chồng nên cụ R không được hưởng di sản của cụ N6 chết để lại.
13
Cụ N6 chết năm 1989 hàng thừa kế thứ nhất của cụ N6 gồm ông X, ông
C3, ông N. Ông C3 chết năm 1996 nên người thừa kế chuyển tiếp của ông C3
(là vợ con của ông C3) gồm anh Q, bà N3, chị N4, chị N5. Từ sau khi cụ N6
chết ông X người công trong việc trông coi, quản tài sản nên công sức
cho ông X bằng 1 kỷ phần thừa kế bằng 199m² : 4 = 49,75m². Ông X được 1 kỷ
phần thừa kế + 1 phần trích công sức = 99,5m² (làm tròn 99m²). Kỷ phần thừa
kế của anh Q, bà N3, chị N4 vợ con ông C3 tặng cho ông N nên ông N cũng
được chia 2 kỷ phần = 99,5m² (làm tròn 100m²).
Ông N ông X đều yêu cầu chia phần di sản bằng hiện vật. Xét diện
tích đất tranh chấp hiện trạng hai mặt tiếp giáp với đường trục đường
liên thôn, chiều rộng mặt đường và chiều dài, đảm bảo tương xứng với một diện
tích sử dụng làm nhà ở. Tòa án cấp thẩm giao cho ông N sử dụng một phần
thửa đất phía Tây Nam diện tích 100m² ất ở), giao cho ông X sử dụng
phần đất còn lại phía Đông của thửa đất 749,2m²
(đất + đất vườn) phù
hợp.
[4] Đối với yêu cầu chia di sản thừa kế là ngôi nhà ngói 3 gian của ông
Đoàn N: Tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp trong hồ vụ án tại
phiên tòa thẩm, phúc thẩm không căn cứ xác định ngôi nhà ngói 3 gian
di sản thừa kế nên không có cơ sở chấp nhận. Đối với di sản 144m² đất ruộng
lúa của cụ N6, nguyên đơn không đề nghị chia thừa kế nên không xem xét giải
quyết, tạm giao ông X tiếp tục quản , sử dụng. Nếu sau này ai yêu cầu sẽ
được thụ lý, giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hông
Đoàn Văn X, Hội đồng xét xử thấy: Như đã phân tích tại tiểu mục [3.1] thửa
đất tranh chấp là di sản thừa kế của cụ Lại Thị N6. Sau khi cụ N6 chết, vợ chồng
ông X, bà L đã tự ý kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào
ngày 20/10/2009. Hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông
Đoàn Văn X không có ý kiến bằng văn bản của các con cụ N6 là vợ con ông C3,
ông N. Do đó UBND huyện N đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
hộ ông X trái với quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục khai, đăng ký,
chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 được sửa
đổi, bổ sung năm 2009. Từ đó căn cứ hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AO 781214 ngày 20/10/2009 của UBND huyện N đứng tên ông Đoàn
Văn X và bà Trần Thị L.
Tổng hợp những phân tích đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án
cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơncó căn
cứ. Tại cấp phúc thẩm các đương sự kháng cáo nhưng không xuất trình được tài
liệu khác thể làm thay đổi nội dung vụ án. Tuy nhiên do Tòa án cấp thẩm
có sai sót trong việc xác định diện tích đất thực tế, do đó cần sa bản án sơ thẩm
về nội dung này để đảm bảo quyền lợi của đương sự và thuận lợi trong quá trình
thi hành án.
[6] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận lẽ ra ông Đoàn N phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm. Do ông N người cao tuổi đề nghị nên
14
được miễn án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Kháng cáo của ông Đoàn Văn X
được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[7] Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Ông Đoàn N tự nguyện nộp
hết không yêu cầu ông Đoàn n X người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
phải thanh toán do đó Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường v Quốc hội ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Đoàn N; Chấp nhận một phần kháng
cáo của ông Đoàn Văn X; Sửa Bản án dân sự thẩm số 21/2023/DS-ST ngày
19 tháng 08 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định như sau:
1. Tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông
Đoàn Văn XTrần Thị L số AO 781214 ngày 20/10/2009 của Ủy ban nhân
dân huyện N.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của ông
Đoàn N yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Lại Thị N6 để lại là hợp pháp.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chia di sản thừa kế
lả ngôi nhà ngói 3 gian của ông Đoàn Năng .
4. Về chia di sản thừa kế:
4.1. Chia cho ông Đoàn N được quyền quản lý, sử dụng diện ch 100m²
đất ở tại thửa đất số 84 tờ bản đồ số 4 tại xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định
tứ cận như sau: Phía Nam giáp đường trục dài 5m; Phía y giáp thửa đất
ông T8 dài 20m; Phía Bắc giáp đất chia cho ông Đoàn Văn X dài 5m; Phía Đông
giáp đất chia cho ông Đoàn Văn X dài 20m.
4.2. Chia cho ông Đoàn Văn X được quyền quản lý, sử dụng diện tích
99m² đất ở tại thửa đất số 84 tờ bản đồ số 4 tại xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nam
Định. Vợ chồng ông X Trần Thị L được quyền quản lý, sử dụng diện tích
650,2m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 84 tờ bản đồ số 4 tại xóm N, xã N,
huyện N, tỉnh Nam Định. Tổng diện tích 749,2m² tứ cận như sau: Phía Nam
giáp đường trục của xã dài 20,29m + giáp phần đất chia cho ông N dài 5m; Phía
Tây giáp phần đất chia cho ông N dài 20m + giáp thửa đất của ông T8 dài
12,10m; Phía Bắc giáp thửa đất H4 dài 25,13m; Phía Đông giáp đường liên
thôn dài 34,7m.
(Kèm theo bản án nàysơ đồ phân chia đất tại tờ bản đồ số 4, thửa số 84
xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định).
15
5. Nghĩa vụ bàn giao: Buộc vợ chồng ông Đoàn Văn X Trần ThL
phải trách nhiệm bàn giao cho ông Đoàn N diện tích 100m² đất tại thửa đất
số 84, tờ số 4 xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
6. Vợ chồng ông Đoàn Văn X, Trần Thị L và ông Đoàn N trách
nhiệm liên hvới quan nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
7. V án phí phúc thm: Min án phí dân sự phúc thẩm cho ông Đoàn N;
ông Đoàn Văn X không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại chị Trần Thị
Thanh H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu
số 0004305 ngày 13/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định.
Các quyết định khác của bản án dân sự thẩm không kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- TAND tỉnh Nam Định;
- VKSND tỉnh Nam Định;
- Cục THADS tỉnh Nam Định;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thị Thu Hà
CÁC THẨM PHÁN
Bùi Xuân Trọng Phạm Đình Khánh
Tải về
Bản án số 29/2025/DS-PT Bản án số 29/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 29/2025/DS-PT Bản án số 29/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất