Bản án số 27/2023/HS-ST ngày 14-12-2023 của TAND huyện Hà Quảng (TAND tỉnh Cao Bằng) về về tội buôn lậu
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án 27/2023/HS-ST Cao Bằng
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án 27/2023/HS-ST Cao Bằng
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 27/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 27/2023/HS-ST ngày 14-12-2023 của TAND huyện Hà Quảng (TAND tỉnh Cao Bằng) về về tội buôn lậu |
|---|---|
| Tội danh: | 188.Tội buôn lậu (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Hà Quảng (TAND tỉnh Cao Bằng) |
| Số hiệu: | 27/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/12/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Hứa Văn N, Lương Văn S, Cam Văn H phạm tội “Buôn lậu” |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH CAO BẰNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày 14–12–2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thanh Lịch
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đức Thà
Ông Lê Đại Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thiết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H,
tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên
tòa: Bà Nông Thị Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2023/TLST-HS ngày
19/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HS ngày
01/12/2023 đối với các bị cáo:
1. Hứa Văn N; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 23 tháng 11 năm 1994 tại
xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm C, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng;
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: N; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Việt N; Con ông Hứa Văn H, sinh năm 1967 và bà Cam Thị
D, sinh năm 1969; Vợ: Long Thu H, sinh năm 1994; Bị cáo có 02 con (con lớn sinh
năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày
21/7/2023 đến nay. Có mặt.
2. Lương Văn S; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 04 tháng 4 năm 1999 tại
xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm C, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng;
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: N; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Việt N; Con ông Lương Văn S, sinh năm 1972 và bà Cam
Thị B, sinh năm 1971; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày
21/7/2023 đến nay. Có mặt.
3. Cam Văn H; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 01 tháng 8 năm 1999 tại xã
C, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm C, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề
nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: N; Tôn giáo:
2
Không; Quốc tịch: Việt N; Con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1963 và bà Cam Thị K,
sinh năm 1966; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày
21/7/2023 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Hứa Văn N, Lương Văn S, Cam Văn H: Bà
Lục Thị Hoan - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước
tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6 năm 2023, Lương Văn S và Hứa Văn N bàn bạc, thống nhất
góp tiền mỗi người 50.000.000 đồng để mua trâu về nuôi và bán lại kiếm lời. Trong
tháng 6 năm 2023, S một mình đi chợ N thuộc huyện P, tỉnh B mua được hai cặp trâu,
mỗi cặp trâu gồm một con trâu cái và một con trâu bé, với tổng giá tiền là 45.000.000đ
(bốn mươi lăm triệu đồng). Ngày 12/7/2023 Lương Văn S mang theo số tiền
41.000.000đ (bốn mươi mốt triệu đồng) của S đi chợ trâu bò thuộc huyện Trùng
Khánh, tỉnh Cao Bằng, S tìm mua được một cặp trâu với giá 34.000.000đ (ba mươi
tư triệu đồng), sau đóS tìm được thêm một cặp trâu nữa nhưng do số tiền mang theo
chỉ còn 7.000.000đ (bảy triệu đồng) nên đã gọi cho N bảo N chuyển tiền cho
55.000.000đ (năm mươi lăm triệu đồng), nhưng do tài khoản N chỉ còn 53.000.000đ
(năm mươi ba triệu đồng) nênS bảo N chuyển hết số tiền trong tài khoản choS. Sau
đó, S mua thêm được một cặp trâu với giá 34.000.000đ (ba mươi tư triệu đồng), tổng
hai cặp trâu là 68.000.000đ (sáu mươi tám triệu đồng), số tiền còn lại 26.000.000đ
(hai mươi sáu triệu đồng)S đã dùng hết để sửa ô tô.
Quá trình mua trâu S chỉ quan sát bằng mắt thường (hay gọi là mua quạ), hai
bên mua bán thỏa thuận thấy hợp lý thì mua, không tính bằng cân. Sau khi mua được
trâuS vận chuyển đến nhà của N ở xóm C, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Đến khoảng
17 giờ cùng ngày S gọi cho người đàn ông Trung Quốc tên D qua phần mền Wechat
rồi quay video, chụp ảnh bốn cặp trâu đã mua cho Dũng xem do trước đó Dũng gọi
choS nói cần mua trâu, D trả giá 36.000NDT (ba mươi sáu nghìn nhân dân tệ), tương
đương với 118.800.000đ (một trăm mười tám triệu tám trăm nghìn đồng) tiền Việt N,
N đồng ý với S thống nhất bán cho D. N dùng bút tẩy màu trắng đánh số ký hiệu vào
sừng của các cặp trâu số 1 và 2,S đánh số ký hiệu vào sừng các cặp trâu 3 và 4 để
tránh bị lạc. Khoảng 18 giờ cùng ngày,S gọi điện thoại bảo N dắt trâu đến cột mốc
biên giới 696, khoảng 20 giờ cùng ngày sẽ có người bên Trung Quốc ra nhận trâu.
DoS mệt không giúp N dắt trâu được nên N đã gọi Cam Văn H giúp dắt số trâu trên
qua biên giới. Mặc dù biết rõ N vàS dắt trâu qua biên giới để bán kiếm lời là vi phạm
pháp luật nhưng H vẫn đồng ý giúp vì được trả tiền công 200.000đ (hai trăm nghìn
đồng). Khoảng 18 giờ 20 phút khi dắt trâu đến khu vực cách hàng rào biên giới khoảng
400m thì N và H bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt và thu giữ tang vật. Bị cáoS
3
khi biết N và H bị bắt quả tang đã xóa toàn bộ nội dung cuộc trò chuyện, liên lạc trong
điện thoại và đăng xuất khỏi ứng dụng Wechat.
Ngày 13/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã cân xác định
khối lượng 08 (tám) con trâu đã thu giữ của các bị cáo, có tổng khối lượng là 2.015kg
(hai nghìn không trăm mười lăm ki lô gam).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 237/KL-HĐĐG ngày 18/7/2023 kết luận:
08 (tám) con trâu còn sống, tổng khối lượng 2.015kg (hai nghìn không trăm mười lăm
ki lô gam), thời điểm định giá có giá trị là 111.646.000đ (Một trăm mười một triệu
sáu trăm bốn mươi sáu nghìn đồng). Các bị cáo đều nhất trí kết quả cân xác định khối
lượng vật chứng vụ án và kết luận định giá tài sản.
Ngày 06/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành xác định
vị trí của các bị cáo bị bắt quả tang tại phần đất Việt N có tọa độ
22
o
59’25’’N106
o
09’19’’E, cách hàng rào biên giới khoảng 400m.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Hứa Văn N, Lương Văn S và
Cam Văn H đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận sự việc đúng như
bản Cáo trạng đã nêu.
Bản cáo trạng số: 24/CT-VKSHQ ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện H, tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo Hứa Văn N, Lương Văn S, Cam Văn H về
tội "Buôn lậu” theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện
kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng.
Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố các bị cáo phạm tội “ Buôn lậu”. Về trách
nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 188, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều
35, Điều 58 Bộ luật hình sự (BLHS) áp dụng hình phạt tiền từ 50 đến 70 triệu đồng
đối với bị cáo Hứa Văn N; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 188, điểm i, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt từ 7 đến 12 tháng tù cho
hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 24 tháng đối với bị cáo Lương Văn S;
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 188, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 58
BLHS đề nghị mức phạt từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ
12 đến 18 tháng đối với bị cáo Cam Văn H. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung
đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước
đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng có
số IMEI 1: 865545053148076, số IMEI 2: 865545053148068; 01 điện thoại di động
màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO A17 màu xanh nhạt đã qua sử dụng có số IMEI
1: 8665220612800133, số IMEI 2:866522061280125 và 01 điện thoại màn hình cảm
ứng nhãn hiệu OPPO màu đỏ tím đã qua sử dụng có số IMEI 1: 866376047693517;
số IMEI 2: 865545053148068 là phương tiện các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán,
vận chuyển trâu qua biên giới; Tịch thu tiêu hủy đối với 03 phôi sim không còn giá
trị sử dụng; Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với số tiền 72.000.000đ (bảy mươi hai
triệu đồng) là tiền bán trâu thu được.
Về án phí: Đề nghị HĐXX miễn án phí cho các bị cáo Lương Văn S và bị cáo
Cam Văn H. Buộc bị cáo Hứa Văn N pH chịu án phí theo quy định.

4
Tại phiên tòa, người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa cho các bị cáo, nhất
trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp
dụng. Tuy nhiên, do các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, các bị cáo không có
nghề nghiệp ổn định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn có thái độ
thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đều phạm tội lần
đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ
chức, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và chấp hành tốt quy định nơi cư trú. Bị cáo N
tuy gia đình thuộc hộ nghèo nhưng bị cáo vẫn có tài sản riêng đã được chính quyền
địa phương xác nhận nên đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo N, còn
bị cáoS và bị cáo H điều kiện hoàn cảnh còn khó khăn nên đề nghị HĐXX áp dụng
hình phạt tù cho hưởng án treo mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị.
Tại phần tranh luận các bị cáo đều nhất trí với quan điểm của người bào chữa,
không bào chữa bổ sung và không ai có ý kiến tranh luận.
Trong lời sau cùng, các bị cáo đều biết hành vi của mình là sai trái pháp luật,
mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an
huyện H, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện H, người bào chữa trong quá
trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của BLTTHS. Những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại
về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,
các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Tại phiên toà các bị cáo đã
khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù
hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng vụ án đã
thu giữ; Bản ảnh; Biên bản xác định hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có
trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp, qua đó có đủ cơ sở xác định: Ngày
12/7/2023 các bị cáo đã có hành vi buôn lậu 08 (tám) con trâu có tổng khối lượng là
2.015kg (hai nghìn không trăm mười lăm ki lô gam), tổng giá trị là 111.646.000đ (một
trăm mười một triệu sáu trăm bốn mươi sáu triệu đồng). Hành vi của các bị cáo đã đủ
các yếu tố cấu thành tội “Buôn lậu” quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật hình sự.
Do vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy
định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Các bị cáo Hứa Văn N và Lương Văn S, Cam Văn H đều có đầy đủ năng lực
trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là đồng phạm giản đơn, có tính chất ít
nghiêm trọng, nhưng được thực hiện với lỗi cố ý đã xâm phạm đến trật tự quản lý

5
kinh tế và tình hình an ninh chính trị tại khu vực biên giới. Các bị cáo có sự thống
nhất về ý chí, hành vi của các bị cáo đã thực hiện có sự liên kết, bổ sung, hỗ trợ cho
nhau và cùng chung một mục đích nên các bị cáo pH chịu trách nhiệm trước hành vi
phạm tội của mình. Xét về tính chất, mức độ tham gia phạm tội của các bị cáo, cho
thấy các bị cáo Hứa Văn N và Lương Văn S cùng bàn bạc, thống nhất với nhau tìm
mua trâu về nuôi để bán qua biên giới để kiếm lời,S đi chợ mua Trâu về để ở nhà N,
liên lạc với người mua, còn N dắt trâu đến khu vực biên giới để giao cho người mua
bên Trung Quốc. Do đó, N vàS pH chịu trách nhiệm ngang nhau. Còn bị cáo Cam
Văn H tuy không tham gia bàn bạc, góp tiền với N vàS để mua trâu, nhưng biết rõ
hành vi của các bị cáo N,S mua trâu về bán qua biên giới kiếm lời là vi phạm pháp
luật mà vẫn đồng ý dắt trâu giúp để nhận tiền công, bị cáo H có vai trò giúp sức cho
các bị cáo N và bị cáoS. Xét tính chất, mức độ tham gia phạm tội của các bị cáo N,S
trong vụ án cao hơn bị cáo H nên mức hình phạt của các bị cáo N,S cần nghiêm khắc
hơn bị cáo H và không cần thiết pH cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình
phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo cũng đảm bảo răn đe,
giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo Lương Văn S sau khi biết bị cáo
N và bị cáo H bị bắt quả tang, bị cáoS đã tự giác đến cơ quan điều tra để trình diện
và khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ
“đầu thú” quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 72.000.000đ (bảy mươi triệu đồng),
hiện đang lưu giữ tại tài khoản tạm giữ của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện
H, liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO đã qua sử
dụng có số IMEI 1: 865545053148076, số IMEI 2: 865545053148068; 01 điện thoại
di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO A17 màu xanh nhạt đã qua sử dụng có
số IMEI 1: 8665220612800133, số IMEI 2:866522061280125 và 01 điện thoại màn
hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đỏ tím đã qua sử dụng có số IMEI 1:
866376047693517; số IMEI 2: 865545053148068 là phương tiện các bị cáo sử dụng
để liên lạc bàn bạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp ngân
sách Nhà nước; Đối với 03 phôi sim không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo Cam Văn H hoàn cảnh gia đình thuộc hộ cận nghèo theo
Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo số 171/GCN-HN.HCN ngày 11/8/2023 của
Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Bị cáo Lương Văn S là đồng bào dân
tộc thiểu số sinh sống ở khu vực kinh tế - xã hội có điều kiện đặc biệt khó khăn theo
Giấy xác nhận số 349/XN-UBND ngày 08/12/2023 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện
H, tỉnh Cao Bằng. Các bị cáo Cam Văn H, Lương Văn S đều có đơn xin miễn án phí
nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
6
Bị cáo Hứa Văn N thuộc trường hợp được miễn án phí, nhưng bị cáo N không
xin miễn án phí nên pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định
pháp luật.
[8] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho các bị cáo
là có cơ sở, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Hứa Văn N, Lương Văn S, Cam Văn H phạm tội “Buôn
lậu”.
Căn cứ khoản 1 Điều 188; Các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58; 35
Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hứa Văn N 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) nộp
ngân sách Nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 188; Các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51;
Các Điều 17, 58; 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn S 7 (bảy) tháng tù cho
hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
14/12/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 188; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58; 65
Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cam Văn H 6 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời
gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/12/2023.
Giao các bị cáo Lương Văn S, Cam Văn H cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện
H, tỉnh Cao Bằng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo
có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc thực hiện giám sát và
giáo dục.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết
định buộc các bị cáo pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định
tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố
tụng hình sự.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 72.000.000đ (bảy mươi hai triệu
đồng);
- Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại màn hình cảm
ứng nhãn hiệu OPPO màu đen, có số IMEI 1: 865545053148076; số IMEI 2:
865545053148086 điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại màn hình cảm ứng
nhãn hiệu OPPO màu đỏ tím, điện thoại đã qua sử dụng (thời điểm kiểm tra không
bật được nguồn để kiểm tra số IMEI); 01 (một) điện thoại màn hình cảm ứng nhãn
hiệu OPPO A17 màu xanh nhạt, có số IMEI 1: 866522061280133; số IMEI 2:
866522061280125 điện thoại đã qua sử dụng;
7
- Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) phôi sim không còn giá trị sử dụng;
(Xác nhận toàn bộ vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự
huyện H theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 01 ngày 06/10/2023).
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị
cáo Lương Văn S, Cam Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp quản và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hứa Văn N pH
chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các
bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng;
- TAND tỉnh Cao Bằng;
- VKSND tỉnh Cao Bằng;
- VKSND huyện H;
- Công an huyện H;
- CQTHAHS Công an tỉnh Cao Bằng;
- CCTHADS huyện H;
- UBND xã C;
- Các bị cáo;
- Người bào chữa;
- Lưu HSVA, HSTHA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nông Thanh Lịch
8
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng