Bản án số 263/2026/HS-ST ngày 31/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 263/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 263/2026/HS-ST ngày 31/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Số hiệu: 263/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: bản án số 263
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 263/2026/HS-ST Bản án số 263/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 263/2026/HS-ST Bản án số 263/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
----------------
Bản án số:263/2026/HSST
Ngày: 31/07/2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu
Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Quốc Bình – Cán bộ hưu trí
Bà Đào Thị Hồng Ngọc– Giảng viên trường Đại học Thủ Đô
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên- Cán bộ
Toà án nhân dân khu vực 11 – Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hà Nội tham gia phiên toà:
Ông Dương Sơn Tiến - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 07 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà Nội
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 254/2026/TLST-HS ngày
10/07/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2026/QĐXXST-HS ngày
20/07/2026 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn Tiến D, sinh ngày 08/01/2009 (khi phạm tội 17
tuổi, 03 tháng 04 ngày), Nơi thường trú và trú tại: Xóm X thôn V, xã Thường Tín,
TP. Hà Nội; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Quốc tịch: Việt
Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Họ và tên bố: Trần Văn C;
Họ và tên mẹ: Vũ Thị X
Theo danh chỉ bản số 509 ngày 20/04/2026 của Công an thành phố Hà Nội
và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo có 01 tiền án: Bản án số 205/2026/HSST
ngày 29/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về
tội “Gây rối trật tự công cộng”
2
01 tiền sự: Quyết định số 01 ngày 20/01/2025, UBND xã Văn Phú, H1ện
Thường Tín, TP. Hà Nội áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, xã, thị trấn thời
hạn 03 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/04/2026. Hiện đang bị tạm giam tại
Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội
(Có mặt tại phiên tòa)
Người giám hộ cho bị cáo D: Bà Vũ Thị X, sinh năm 1987
Trú tại: Xóm X thôn V, xã Thường Tín, TP. Hà Nội;
(Bà X có mặt)
2. Họ và tên: Đinh Gia H, sinh ngày 16/09/2009 (khi phạm tội 16 tuổi 06
tháng 27 ngày), Nơi thường trú và trú tại: Thôn L, xã Thượng Phúc, TP. Hà Nội;
Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:
Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Họ và tên bố: Đinh Gia Đ; Họ và tên mẹ:
Tạ Thị T
Theo danh chỉ bản số 17 ngày 22/04/2026 của Công an xã Thường Tín và lý
lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/04/2026 đến ngày 20/04/2026. Hiện đang bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú
(Có mặt tại phiên tòa)
Người giám hộ cho bị cáo H: Bà Tạ Thị T, sinh năm 1981
Trú tại: Thôn L, xã Thượng Phúc, TP. Hà Nội
(Bà T có mặt)
3. Họ và tên: Trần Quang H1, sinh ngày 03/11/2008 (khi phạm tội 17 tuổi
05 tháng 09 ngày), Nơi thường trú và trú tại: Số X, ngõ Y phố K, phường Khương
Đình, TP. Hà Nội; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt
Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Họ và tên bố: Trần Cao C;
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L
Theo danh chỉ bản số 4045 ngày 24/11/2025 của Công an thành phố Hà Nội
và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi
cư trú
(Có mặt tại phiên tòa)
* Người giám hộ cho bị cáo H1: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985
Trú tại: Phường H, TP. Hà Nội
3
(Bà L có mặt)
4. Họ và tên: Nguyễn Đình Gia B, sinh ngày 18/03/2010 (khi phạm tội 16
tuổi 25 ngày), Nơi thường trú và trú tại: Thôn X, xã Hồng Vân, TP. Hà Nội; Trình
độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Họ và tên bố: Nguyễn Đình N; Họ và tên mẹ:
Đỗ Thị Bích N
Theo danh chỉ bản số 24 ngày 27/05/2026 của Công an xã Thường Tín và lý
lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi
cư trú
(Có mặt tại phiên tòa)
* Người giám hộ cho bị cáo B: Ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1986
Trú tại: Thôn X, xã Hồng Vân, TP. Hà Nội
(Ông N có mặt)
5. Họ và tên: Nguyễn Anh Q, sinh ngày 07/07/2009 (khi phạm tội 16 tuổi
09 tháng 05 ngày), Nơi thường trú và trú tại: Thôn X, xã Thượng Phúc, TP. Hà
Nội; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:
Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Họ và tên bố: Nguyễn Hữu B; Họ và tên
mẹ: Lê Thị H
Theo danh chỉ bản số 13 ngày 22/04/2026 của Công an xã Thường Tín và lý
lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi
cư trú
(Có mặt tại phiên tòa)
* Người giám hộ cho bị cáo Anh Q: Bà Lê Thị H, sinh năm 1973
Trú tại: Thôn X, xã Thượng Phúc, TP. Hà Nội
(Bà H có mặt)
6. Họ và tên: Nguyễn Duy Đức V, sinh ngày 22/06/2008 (khi phạm tội 17
tuổi 09 tháng 21 ngày), Nơi thường trú: Ấp H, xã An Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long, Trú
tại: Thôn L, xã Thanh Trì, TP. Hà Nội; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Tự
do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Họ và
tên bố: Nguyễn Duy Đ; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N
Theo danh chỉ bản số 14 ngày 22/04/2026 của Công an xã Thường Tín và lý
lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
4
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi
cư trú.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Người giám hộ cho bị cáo V: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976
Trú tại: Thôn L, xã Thanh Trì, TP. Hà Nội
(Bà N có mặt)
7. Họ và tên: Nguyễn Minh Q1, sinh ngày 18/09/2008 (khi phạm tội 17
tuổi 06 tháng 25 ngày), Nơi thường trú và trú tại: Thôn X, xã Hồng Vân, TP. Hà
Nội; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Học viên Trường cao đẳng Y Hà Nội;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Giới tính: Nam; Họ và
tên bố: Nguyễn Văn B; Họ và tên mẹ: Lê Thị H
Theo danh chỉ bản số 25 ngày 27/05/2026 của Công an xã Thường Tín và lý
lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi
cư trú
(Có mặt tại phiên tòa)
* Người giám hộ cho bị cáo Minh Q1: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1968
Trú tại: Thôn X, xã Hồng Vân, TP. Hà Nội
(Ông B có mặt)
8. Họ và tên: Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 07/08/2009 (khi phạm tội 16 tuổi
08 tháng 05 ngày), Nơi thường trú và trú tại: Xóm X, thôn V, xã Thường Tín, TP.
Hà Nội; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Họ và tên bố: Nguyễn Văn T;
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Thanh T
Theo danh chỉ bản số 27 ngày 22/06/2026 của Công an xã Thường Tín và lý
lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi
cư trú
(Có mặt tại phiên tòa)
* Người giám hộ cho bị cáo Tuấn A: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982
Trú tại: Xóm X, thôn V, xã Thường Tín, TP. Hà Nội;
(Ông T có mặt)
5
- Người bào chữa cho các bị cáo H1, V, B, Minh Q1 và Tuấn A: Ông
Nguyễn Ngọc Cường – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước thành phố Hà Nội- Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 6
(Ông Cường có mặt)
- Người bào chữa cho các bị cáo D, Anh Q, H: Ông Dương Công Hòa –
Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội-
Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 6
(Ông Hòa có mặt)
* Người làm công tác xã hội:
- Ông Nguyễn Quốc Huy – Chuyên viên Phòng Văn hóa - xã hội xã Thường
Tín
(Ông Huy có mặt)
- Bà Ngô Thị Mai Hồng – Chuyên viên Phòng Văn hóa - xã hội xã Thượng
Phúc
(Bà Hồng có mặt)
- Bà Vũ Thị Nhất – Chuyên viên Phòng Văn hóa - xã hội phường Khương
Đình
(Bà Nhất vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Thanh Thu – Chuyên viên Phòng Văn hóa - xã hội xã Thanh
Trì
(Bà Thu vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Hồng Lân – Chuyên viên Phòng Văn hóa - xã hội xã Hồng
Vân
(Bà Lân có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 12/04/2026, Nguyễn Học Thái điều khiển xe máy
Honda Vision màu xám xi măng; BKS: 29D2-784.27 chở theo Trần Quang H1 và
Nguyễn Duy Đức V (Nhóm 1) đi từ thôn Đại Áng, xã Ngọc Hồi xuống xã Thường
Tín uống nước, trên đường về, khi đi trên đường Lý Tử Tấn, đoạn qua cổng Công
an xã Thường Tín, thì gặp nhóm thanh niên (Nhóm 2), trong đó đi đầu là xe Wave
6
màu đen do Nguyễn Tấn D (sinh ngày 05/10/2009, trú tại: đội 4, thôn Thụy Ứng,
xã Thường Tín, Hà Nội) điều khiển chở theo Nguyễn Tuấn A, xe thứ 2 là xe
Vision màu xám do Nguyễn Anh Q điều khiển chở theo Nguyễn Đình Gia B, xe
thứ 3 là xe Scoopy màu đen do Đinh Gia H điều khiển chở theo Nguyễn Hoàng
Gia B, xe thứ 4 là xe Vision màu đồng do Nguyễn Đăng Dương (sinh ngày:
14/9/2009, trú tại: thôn Bình Vọng, xã Thường Tín, Hà Nội) điều khiển đi một
mình. Do nghĩ các thành viên Nhóm 1 nhìn đểu mình, nên nhóm của Đinh Gia H
đi theo sau. Còn Nhóm 1 nghĩ Nhóm 2 bám theo để đánh mình nên khi đi vào
đường tỉnh 427 hướng về Bệnh viện tâm thần, Thái nói với H1 và V: “hay dừng xe
lại xem chúng nó thích gì” sau đó Thái dừng xe ở ven đường gần đối diện Trường
tiểu học Văn Phú – Thường Tín. Nhóm 2 khi đi đến chỗ Nhóm 1 thì bị Thái, V, H1
chạy bộ đuổi theo chửi, thấy vậy Nhóm 2 quay lại chỗ Nhóm 1, Nguyễn Đình Gia
B (ngồi sau xe Nguyễn Anh Q) cầm mũ bảo hiểm ném về phía Nhóm 1 nhưng
không trúng ai, tiếp đó H, Quân và Nguyễn Hoàng Gia B chạy tới đánh nhau với
Thái và V. Nguyễn Đình Gia B cũng xuống xe lao vào đánh nhau với H1. Lúc này
các xe còn lại của Nhóm 2 cũng đi đến, Nguyễn Trung Kiên (sinh ngày
17/01/2011, trú tại: 114 Trần Phú, xã Thường Tín, Hà Nội) ngồi sau xe Nguyễn
Văn Sơn (sinh ngày 01/10/2008, trú tại: đội 9, xã Hồng Vân, Hà Nội) chạy đến
đánh H1 cùng với Nguyễn Đình Gia B, thấy vậy Thái chạy đến đánh Kiên thì Kiên
bỏ chạy ra xe, Nguyễn Đình Gia B bị H1 đuổi đánh về hướng ngã ba Văn Trai. Lúc
này Trần Văn Tiến D và Từ Minh Thái (sinh ngày 11/10/2010, trú tại: số 23 xóm
Đinh Tiên Hoàng, xã Hồng Vân, Hà Nội) ngồi trên xe do Vương Quốc Khánh điều
khiển cũng đi đến và lao vào đánh V. D cầm mũ bảo hiểm đang đội đập 02 cái rồi
ném vào người V, còn H, Quân, Từ Minh Thái tiếp tục đánh V bằng chân tay,
Quân còn vật V ngã ra đất, Nguyễn Tuấn A (ngồi sau xe Nguyễn Tấn D) cũng
xuống xe lao vào đánh nhau nhưng do mắt không nhìn rõ nên không đánh trúng ai.
Thái (Nhóm 1) sau khi đánh Kiên bỏ chạy thì đến giúp V đánh nhau với Quân
bằng chân tay. Sau đó trong Nhóm 2 có người hô “thôi đi đi” thì Nhóm 2 dừng tay
và lên xe đi về hướng Bệnh viện tâm thần.
Thái và V (Nhóm 1) quay lại chỗ xe máy thì thấy H1 đi ra từ hướng ngã ba
Văn Trai, nhóm Thái định lên xe đi thì Thái gặp một người em quen biết với Thái
là Nguyễn Hoàng Mạnh (sinh năm 2008, trú tại: thôn Nguyễn Du, xã Thường Tín,
Hà Nội) đi xe SH màu trắng chở theo Lê Nhật Minh (sinh năm 2007, trú tại: thôn
Hà Hồi, xã Hồng Vân, Hà Nội) và Uông Huy Bảo (sinh ngày 22/8/2012, trú tại:
7
xóm Đinh Tiên Hoàng, xã Hồng Vân, Hà Nội) thuộc Nhóm 2 đi đến, Mạnh nhận ra
Thái là người quen nên nói: “bạn em, bạn em” sau đó Thái, H1, V lên xe đi về ngã
ba Văn Trai, rẽ vào đường đi Tiền Phong để tìm Nguyễn Đình Gia B đánh tiếp
nhưng không thấy, lúc này V nói bị rơi mất điện thoại nên Nhóm 1 quay lại chỗ
vừa đánh nhau tìm (suốt quá trình xe của Nguyễn Hoàng Mạnh vẫn đi theo Nhóm
1 để can ngăn). Khi Nhóm 1 đang tìm điện thoại thì có 01 xe của Nhóm 2 do
Vương Quốc Khánh điều khiển chở theo Trần Văn Tiến D và Từ Minh Thái đi từ
hướng Bệnh viện tâm thần quay lại. Thấy Nhóm 1, Khánh dừng xe rồi lao vào
đánh nhau với Thái (Nhóm 1), sau đó cả hai ngã xuống mương nước và tiếp tục
đánh nhau dưới mương nước. Lúc này H1 cũng đuổi đánh D và Minh Thái về
hướng ngã ba Văn Trai, D nhặt được chiếc mũ bảo hiểm của mình lúc trước định
ném H1 nhưng thấy mũ đã bị vỡ nên bỏ lại rồi chạy vào đường nhánh cạnh sân
bóng Văn Trai. H1 đuổi không kịp D và Thái (Nhóm 2) thì nhặt chiếc mũ bảo hiểm
mà D vừa vứt, quay lại chỗ Khánh và Thái (Nhóm 1) đang đánh nhau dưới mương
nước rồi ném mũ bảo hiểm về phía Khánh, sau đó H1 cũng nhảy xuống mương
nước cùng với Thái đánh Khánh. Còn Từ Minh Thái (Nhóm 2), sau khi thấy H1 đi
về chỗ mương nước, Minh Thái cũng quay lại và thấy các bạn trong Nhóm 2 của
mình đi từ hướng Bệnh viện Tâm Thần đến thì chạy ra giữa đường hô hào nói
“chúng nó đánh anh Khánh ở đây này”. Nhóm 2 thấy vậy đều dừng xe lại, Nguyễn
Hoàng Gia B, Đinh Gia H, Nguyễn Trung Kiên lao vào đấm V khiến V cũng bị
ngã xuống mương nước. Nguyễn Minh Q1 chạy ra xe mở cốp, lấy 01 túi xoài
(Quân mang theo để ăn) cầm ném về phía Nhóm 1, Đinh Gia H tìm nhặt được 01
đoạn gậy tre ở ven đường định vụt các thành viên Nhóm 1 nhưng sau đó không vụt
nữa. Các đối tượng chửi bới, đánh nhau khiến đông người dân và các phương tiện
giao thông phải dừng lại, không đi được nên Nhóm 2 hô hào nhau lên xe bỏ đi, rồi
ai về nhà đấy. Nhóm của Thái, V, H1 từ dưới mương nước trèo lên bờ, đang đứng
rũ quần áo thì bị tổ tuần tra Công an xã Thường Tín kiểm tra và đưa về trụ sở làm
việc.
Đối với Nguyễn Học Thái và Vương Quốc Khánh đã bị khởi tố bị can về tội
“Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự (trong
vụ án theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số E195 ngày 20/4/2026 của Cơ quan
CSĐT - Công an thành phố Hà Nội) đang điều tra theo thủ tục tố tụng của người
trên 18 tuổi.
8
Đối với Từ Minh Thái, Nguyễn Hoàng Gia B và Nguyễn Trung Kiên có
hành vi đánh nhau bằng chân tay với Nhóm 1 ở khu vực đối diện Cổng trường tiểu
học Văn Phú gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự khu vực. Tuy nhiên, thời điểm
thực hiện hành vi Từ Minh Thái, Nguyễn Hoàng Gia B và Nguyễn Trung Kiên
chưa đủ 16 tuổi do đó chưa phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Gây rối trật tự
công cộng theo quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự.
Đối với Trịnh Minh Quâ, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Bảo Lâm, Lê Thành V,
Uông Duy Bảo, Nguyễn Hoàng Mạnh, Lê Nhật Minh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn
Đăng Dương, Nguyễn Quang Minh Tú, Nguyễn Đức Duy, Đỗ Duy Nghĩa, Phạm
Thanh Tú: đi chơi cùng nhóm bị can (Nhóm 2) nhưng không tham gia đánh nhau.
Trước đó khi ngồi uống nước, cả nhóm cũng không bàn bạc, thống nhất việc sẽ
đánh nhau, không có ai chuẩn bị công cụ, phương tiện, truy đuổi để đánh nhau, do
đó Cơ quan CSĐT không đề nghị xử lý các đối tượng này với vai trò đồng phạm.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội đã tạm giữ
06 chiếc xe mô tô gồm: 01 xe máy Honda Vision màu xám xi măng; BKS: 29D2-
784.27 của chị Nguyễn Thị Luyến (mẹ Trần Quang H1); 01 xe máy Honda Vario
màu xám; BKS: 29AD-419.65 của chị Vũ Thị Xuân (mẹ Trần Văn Tiến D); 01 xe
máy Honda Vision màu xanh đen; BKS: 29AY-003.48 của chị Trịnh Thị Thúy (mẹ
Nguyễn Trung Kiên); 01 xe máy Honda Vision màu xám đen, BKS: 29AY-029.86
của bà Lê Thị Hương (là mẹ đẻ của Nguyễn Anh Q); 01 xe máy Honda Vision,
màu xám, BKS: 29AD-894.64 của ông Nguyễn Văn Bản (là bố đẻ Nguyễn Minh
Q1); 01 xe máy Honda Scoopy, màu đen, không đeo BKS của ông Nguyễn Đức
H1 (bố đẻ Nguyễn Hoàng Gia B). Qua xác minh đã làm rõ những chiếc xe trên đều
do các bị can tự ý lấy của bố mẹ để sử dụng, các xe đều có số khung, số máy
nguyên thủy và không phải là vật chứng của vụ án khác nên Cơ quan CSĐT ra
Quyết định trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.
Đối với 01 phong bì bên trong chứa 01 USB bằng nhựa màu xanh nhãn hiệu
Kingston, dung lượng 04Gb chứa dữ liệu điện tử là 02 đoạn video ghi lại cảnh
đánh nhau giữa 02 nhóm bị can, chuyển theo hồ sơ vụ án.
Đối với Nguyễn Anh Q, Nguyễn Duy Đức V, Đinh Gia H, Trần Văn Tiến D,
Trần Quang H1, Nguyễn Trung Kiên, Nguyễn Đình Gia B, quá trình đánh nhau bị
thương tích nhẹ, đã từ chối giám định thương tích (đơn từ chối được Người đại
diện hợp pháp ký xác nhận).
9
Về dân sự: Bị cáo Trần Quang H1 rút yêu cầu về bồi thường thương tích và
bồi thường tiền sửa chữa điện thoại di động do quá trình đánh nhau bị rơi, hư hỏng.
Các bị cáo còn lại không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.
Tại Bản cáo trạng số 162/CT-VKSHNI - KV ngày 09/07/2026 của Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hà Nội truy tố các bị cáo Trần Văn Tiến D,
Trần Quang H1, Nguyễn Đình Gia B, Đinh Gia H và Nguyễn Anh Q về hành
vi “Gấy rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình
sự; các bị cáo Nguyễn Duy Đức V, Nguyễn Minh Q1 và Nguyễn Tuấn A về
hành vi “Gấy rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình
sự
Tại phiên tòa:
- Tất cả các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản
cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hà Nội, không kêu oan, các bị
cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong HĐXX xem
xét giảm nhẹ mức hình phạt và được cải tạo ngoài xã hội
- Người bào chữa cho các bị cáo Trần Quang H1, Nguyễn Duy Đức V,
Nguyễn Đình Gia B, Nguyễn Minh Q1 và Nguyễn Tuấn A là ông Nguyễn Ngọc
Cường trình bày luận cứ với nội dung: Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 11- Hà Nội viện dẫn truy tố các bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng
mức án dưới mức thấp nhất của đại diện Viện kiểm sát đề nghị vì các bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự,
khi phạm tội các bị cáo là người chưa thành niên nên sự hiểu biết về pháp luật còn
hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm
s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 115, Điều 119 và Điều 124 Luật
Tư pháp người chưa thanh niên. Đối với bị cáo Nguyễn Duy Đức V, Nguyễn Minh
Q1 và Nguyễn Tuấn A phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng nên đề
nghị HĐXX áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX cho
các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Tiến D, Nguyễn Anh Q, Đinh Gia H
là ông Dương Công Hòa trình bày luận cứ với nội dung: Về tội danh và điều luật
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hà Nội viện dẫn truy tố các bị cáo là đúng
quy định của pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo D, Anh Q, H vì các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo
10
Anh Q và H nhân thân chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, khi phạm tội các
bị cáo là người chưa thành niên chưa có sự hiểu biết về pháp luật. Đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51 Bộ luật hình sự và Điều 115, Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thanh
niên giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo Anh Q và H được cải tạo ngoài xã hội,
cho bị cáo D mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
- Người giám hộ cho các bị cáo có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
- Người làm công tác xã hội xã Thường Tín, Thượng Phúc, Hồng Vân đều
có ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh, môi trường sống, tâm lý
và nhận thức của các bị cáo. Các bị cáo là những thanh niên mới lớn nên khả năng
nhận thức, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được
cải tạo ngoài xã hội. Phòng Văn hóa - xã hội xã, phường sẽ xây dựng kế hoạch cụ
thể về việc học tập, rèn luyện để các bị cáo không tái phạm và trở thành người có
ích cho xã hội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 11- Hà Nội duy trì công tố tại phiên
tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo bản cáo trạng nêu trên. Sau
khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị
cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hà Nội đề nghị như sau:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
38, Điều 56, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, khoản 4 Điều 115, Điều 119 và
Điều 122 Luật Tư pháp người chưa thanh niên
Xử phạt:
Trần Văn Tiến D mức án từ 15 -18 tháng tù cộng với 06 tháng tù của Bản
án số 205/2026/HSST ngày 29/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội
xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo pH chấp hành
hình phạt chung cho 02 bản án từ 21 - 24 tháng tù
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, Điều 115, Điều 119 và Điều 124
Luật Tư pháp người chưa thanh niên
Xử phạt:
11
Đinh Gia H mức án từ 15 -18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn
thử thách từ 30 – 36 tháng
Trần Quang H1 mức án từ 15 -18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời
hạn thử thách từ 30 – 36 tháng
Nguyễn Anh Q mức án từ 15 -18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời
hạn thử thách từ 30 – 36 tháng
Nguyễn Đình Gia B mức án từ 15 -18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
thời hạn thử thách từ 30 – 36 tháng
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17,
Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự, Điều 115, Điều 118 Luật Tư pháp người chưa
thanh niên
Xử phạt:
Nguyễn Duy Đức V mức án từ 08 -10 tháng cải tạo không giam giữ
Nguyễn Minh Q1 mức án từ 06 - 08 tháng cải tạo không giam giữ
Nguyễn Tuấn A mức án từ 06 - 08 tháng cải tạo không giam giữ
Giao các bị cáo về chính quyền địa phương, giám sát, giáo dục trong thời
gian thử thách
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục cho lưu giữ 01 USB tại hồ sơ vụ án
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
Về án phí: Các bị cáo không pH chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, người giám hộ và người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT- Công an TP. Hà Nội, Điều tra
viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, người
giám hộ cho bị cáo đã xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với các quy định của
pháp luật. Không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng
của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
12
[2]. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với
lời khai tại Cơ quan điều tra, bản ản, biên bản nhận dạng và phù hợp với các tài
liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung của bản cáo trạng của Viện kiểm
sát nhân dân khu vực 11- Hà Nội
Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 22 giờ ngày
12/4/2026 trên đường tỉnh 427, đoạn đối diện Trường tiểu học Văn Phú, thuộc thôn
Văn Trai, xã Thường Tín, thành phố Hà Nội, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ khi lưu
thông trên đường, 02 nhóm thanh niên gồm Trần Quang H1, Nguyễn Duy Đức V
(Nhóm 1) và Trần Văn Tiến D, Nguyễn Đình Gia B, Đinh Gia H, Nguyễn Anh Q,
Nguyễn Minh Q1, Nguyễn Tuấn A (Nhóm 2) đã gây gổ, sử dụng hung khí và chân
tay không đánh nhau trên đường, gây tập trung đông người, cản trở giao thông và
gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Tại Công văn số 834 ngày 20/04/2026 của UBND xã Thanh Trì, TP. Hà Nội
đề nghị nhang chóng điều tra, làm rõ hành vi vi phạm pháp luật và xử lý nhóm đối
tượng trên đã có hành vi dùng mũ B hiểm bằng nhựa cứng xô sát, đánh nhau gây
ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội của đia phương, ảnh hưởng tới
cuộc sống sinh hoạt ổn định của người dân, gây hoang mang trong quần chúng
nhân dân
Như vậy hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”
do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hà Nội đưa ra các chứng cứ buộc tội và
truy tố các bị cáo với tội danh “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều
318 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trật
tự công cộng được pháp luật B vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang
mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến nhận thức của giới trẻ.
[4]. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất đồng phạm giản
đơn. Các bị cáo D, H1, B, H sử dụng mũ bảo hiểm bằng nhựa, gậy tre để đánh
nhau gây mất trật tự trị an, bị cáo Anh Q đã có hành vi giúp sức các bị cáo trên
đánh nhau bằng chân tay không, khi nhìn thấy và biết rõ các bị cáo trên dùng hung
khí nên các bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung về tội “Gây tối trật tự công
cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Các bị cáo V,
Minh Q1, Tuấn A đánh nhau bằng chân tay không gây mất trật tự trị an nên phạm
tội “Gây tối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự
[5]. Xét nhân thân các bị cáo, HĐXX nhận thấy: Các bị cáo H, H1, B, Anh
Q, V, Minh Q1 và Tuấn A nhân thân chưa có tiền án tiền sự.
13
Đối với bị cáo D nhân thân có 01 tiền sự: Quyết định số 01 ngày
20/01/2025, UBND xã Văn Phú, H1ện Thường Tín, TP. Hà Nội áp dụng biện pháp
giáo dục tại phường, xã, thị trấn thời hạn 03 tháng và 01 tiền án: Bản án số
205/2026/HSST ngày 29/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội xử
phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Tại khoản 7 Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định: “Án
tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội nếu thuộc trường hợp sau đây thì
không tính tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. b) Người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi
phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý”. Bị
cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp nghiêm trọng nên không bị áp dụng tính tiết
tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do
đó buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án theo quy định tại
Điều 122 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Điều đó chứng tỏ bị cáo D đã được
cơ quan pháp luật giáo dục nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm
tội, do đó cần phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội cách ly
bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và đấu
tranh phòng ngừa chung.
[6]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tại Cơ quan điều tra
cũng như tại phiên tòa tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối
cải. Do đó các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s
khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo H, B, Anh Q, H1, V, Minh Q1 và
Tuấn A phạm tội lần đầu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều
51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo V, Minh Q1, Tuấn A phạm tội lần đầu thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i
khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi phạm tội các bị cáo đều là người chưa thành
niên nên được áp dụng theo quy định tại Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thanh
niên.
Bị cáo D có thân nhân là ông Vũ Văn Lê và liệt sỹ Vũ Văn Dổi là người có
công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bị cáo
H có thân nhân là ông Đinh Gia Chiến là người có công với cách mạng được Nhà
nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bị cáo H1 có ông nội là ông Trần
Ngọc Lan hiện đang thờ cúng liệt sỹ Trần Minh Đức, bị cáo V có thân nhân là liệt
sỹ Nguyễn Duy Tản nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy
định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7]. Xét các bị cáo H, B, Anh Q, H1, V, Minh Q1 và Tuấn A có nơi cư trú rõ
ràng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu tiên bị đưa ra xét xử, khi phạm tội
14
các bị cáo người chưa thanh niên, nhận thức về pháp luật còn hạn chế nên không
cần thiết pH cách ly khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới
sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở
thành người có ích cho xã hội và cũng không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh
phòng chống tội phạm, phù hợp với Điều 118 và Điều 124 Luật Tư pháp người
chưa thanh niên và Nghị quyết số 01/2022/NQ- HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[8]. Đối với Nguyễn Học Thái và Vương Quốc Khánh đã bị khởi tố bị can
về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự
(trong vụ án theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số E195 ngày 20/4/2026 của Cơ
quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội) đang điều tra theo thủ tục tố tụng của
người trên 18 tuổi là có căn cứ
Đối với Từ Minh Thái, Nguyễn Hoàng Gia B và Nguyễn Trung Kiên có
hành vi đánh nhau bằng chân tay với Nhóm 1 ở khu vực đối diện Cổng trường tiểu
học Văn Phú gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự khu vực. Tuy nhiên, thời điểm
thực hiện hành vi Từ Minh Thái, Nguyễn Hoàng Gia Bảo và Nguyễn Trung Kiên
chưa đủ 16 tuổi do đó chưa phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Gây rối trật tự
công cộng theo quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Đối với Trịnh Minh Quân, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Bảo Lâm, Lê Thành
V, Uông Duy Bảo, Nguyễn Hoàng Mạnh, Lê Nhật Minh, Nguyễn Tấn Dũng,
Nguyễn Đăng Dương, Nguyễn Quang Minh Tú, Nguyễn Đức Duy, Đỗ Duy Nghĩa,
Phạm Thanh Tú: đi chơi cùng nhóm bị can (Nhóm 2) nhưng không tham gia đánh
nhau. Trước đó khi ngồi uống nước, cả nhóm cũng không bàn bạc, thống nhất việc
sẽ đánh nhau, không có ai chuẩn bị công cụ, phương tiện, truy đuổi để đánh nhau,
do đó Cơ quan CSĐT không đề nghị xử lý các đối tượng này với vai trò đồng
phạm là có căn cứ
[10]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo không phải chịu án phí hình
sự sơ thẩm. Bị cáo, người giám hộ, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo
theo quy định của pháp luật
[11]. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối
với Trần Văn Tiến D, áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị
cáo Đinh Gia H, Nguyễn Đình Gia B, Nguyễn Anh Q, Trần Quang H1, áp dụng
hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Duy Đức V, Nguyễn Minh
Q1, Nguyễn Tuấn A là có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật và nhận định
của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
15
[12]. Luận cứ bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Tiến D, Đinh Gia H, Nguyễn Đình Gia
B, Nguyễn Anh Q, Trần Quang H1, Nguyễn Duy Đức V, Nguyễn Minh Q1 và
Nguyễn Tuấn A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
17, Điều 58 Bộ luật hình sự, Điều 12, khoản 4 Điều 115, Điều 119 và Điều 122
Luật Tư pháp người chưa thanh niên
Xử phạt: Trần Văn Tiến D 16 (Mười sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt
của Bản án số 205/2026/HSST ngày 29/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 –
Hà Nội xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo D
pH chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời
hạn tù tính từ ngày 14/04/2026.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
17, Điều 58 Bộ luật hình sự, khoản 4 Điều 115, Điều 119 và Điều 124 Luật Tư
pháp người chưa thanh niên
Xử phạt:
Đinh Gia H 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử
thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày Công an xã Thượng Phúc nhận được Quyết
định thi hành án của Tòa án hoặc hồ sơ thi hành án, hồ sơ thi hành quyết định của
Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố Hà Nội
Nguyễn Đình Gia B 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời
hạn thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày Công an xã Hồng Vân nhận được
Quyết định thi hành án của Tòa án hoặc hồ sơ thi hành án, hồ sơ thi hành quyết
định của Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố Hà Nội
Nguyễn Anh Q 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn
thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày Công an xã Thượng Phúc nhận được
Quyết định thi hành án của Tòa án hoặc hồ sơ thi hành án, hồ sơ thi hành quyết
định của Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố Hà Nội
Trần Quang H1 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn
thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày Công an phường Khương Đình nhận
được Quyết định thi hành án của Tòa án hoặc hồ sơ thi hành án, hồ sơ thi hành
quyết định của Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố Hà Nội
16
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17,
Điều 58 Bộ luật hình sự, khoản 3 Điều 115, Điều 118 Luật Tư pháp người chưa
thanh niên
Xử phạt:
Nguyễn Duy Đức V 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn kể từ
ngày Công an xã Thanh Trì nhận được Quyết định thi hành án của Tòa án hoặc hồ
sơ thi hành án, hồ sơ thi hành quyết định của Cơ quan Thi hành án hình sự - Công
an thành phố Hà Nội
Nguyễn Minh Q1 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn kể từ
ngày Công an xã Hồng Vân nhận được Quyết định thi hành án của Tòa án hoặc hồ
sơ thi hành án, hồ sơ thi hành quyết định của Cơ quan Thi hành án hình sự - Công
an thành phố Hà Nội
Nguyễn Tuấn A 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn kể từ
ngày Công an xã Thường Tín nhận được Quyết định thi hành án của Tòa án hoặc
hồ sơ thi hành án, hồ sơ thi hành quyết định của Cơ quan Thi hành án hình sự -
Công an thành phố Hà Nội
Giao các bị cáo Đinh Gia H, Nguyễn Anh Q về UBND xã Thượng Phúc, TP.
Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Trần Quang H1 về UBND phường Khương Đình, TP. Hà Nội
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Đình Gia B về UBND xã Hồng Vân, TP. Hà Nội giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Duy Đức V về UBND xã Thanh Trì, TP. Hà Nội giám
sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ
Giao bị cáo Nguyễn Minh Q1 về UBND xã Hồng Vân, TP. Hà Nội giám sát,
giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ
Giao bị cáo Nguyễn Tuấn A về UBND xã Thường Tín, TP. Hà Nội giám sát,
giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo
quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự năm 2025
Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại
khoản 1 Điều 82 của Luật thi hành án hình sự năm 2025 thì sẽ bị xử lý theo quy
định tại Điều 89 của Luật thi hành án hình sự năm 2025
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục cho lưu giữ 01 USB tại hồ sơ vụ án
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
17
* Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, Điều 331, Điều 332 và
Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Các bị cáo Trần Văn Tiến D, Đinh Gia H, Nguyễn Đình Gia B, Nguyễn Anh
Q, Trần Quang H1, Nguyễn Duy Đức V, Nguyễn Minh Q1 và Nguyễn Tuấn A
không pH chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người giám hộ, người bào chữa cho bị cáo
có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND TP. Hà Nội
- CATP Hà Nội
- VKSND khu vực 11- Hà Nội
- Phòng THADS khu vực 11- Hà Nội
- Thi hành án hình sự;
- Các bị cáo, NGH, NBC, NLCTXH
- UBND phường Khương Đình, xã Thanh Trì,
Thường Tín, Thượng Phúc, Hồng Vân, TP. Hà Nội
- Lưu hồ sơ vụ án; VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa
Trần Tự Hiếu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 263/2026/HS-ST Bản án số 263/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 263/2026/HS-ST Bản án số 263/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất